Trà
là một
thức
uống
được xếp
vào hạng
nhì
trong
mọi thức
uống
được
tiêu thụ
trên thế
giới chỉ
thua..
nước
lạnh !
Tại Hoa
Kỳ, 80%
gia đỉnh
có trà
trong
nhà và
mỗi ngày
có đến
159
triệu
người Mỹ
uống trà.
Trong
các loại
trà tiêu
thụ: Trả
đen
chiếm
84%, Trà
xanh
chiếm
25% ,phần
còn lại
là trà ô
long,
trà
trắng và
trà sẫm..
Trà
là một
chủ đề
được
viết rất
nhiều,
hàng
sách và
hàng
trăm
ngàn bài,
đủ mọi
ngôn ngữ
bàn về
lịch sử,
cây cỏ
cùng
trồng
trọt,
văn hóa
Trà trên
thế giới
và cũng
có hàng
ngàn bài
nghiên
cứu khoa
học về
Trà, từ
hoạt
chất đến
dược
tính..
Loạt bài
này xin chú
trọng riêng
đến Trà
Xanh và
các lợi ích
về sức khỏe.
Có nhiều
loại Trà
xanh khác
nhau do xuất
xứ nên xin
tạm chia
thành các
loại như Trà
xanh Nhật,
Hàn, Tàu và
Ấn..
Trà
xanh,
theo
định
nghĩa
của
Wikipedia,
là một
loại trà
làm từ
lá và
búp non
của cây camellia
sinensis, không
làm héo
và theo
tiến
trình
oxy-hóa
(khi chế
biến) như
Trà ô
long và
Trà đen.
Trà xanh
có nguồn
gốc từ
Tàu.
(xin
đọc bài
riêng về
Cây
Camellia
sinensis,
chuyên
biệt về
phương
diện
thực vật)
Có
rất
nhiều
loại Trà
xanh, có
những
khác
biệt tùy
theo các
chủng
trồng
(cultivars)
của Camellia sinensis,
theo
điều
kiện thổ
nhưỡng
của nơi
trồng,
phương
pháp
trồng và
chế biến
và cả
thời
gian khi
thu
hoạch..
Hạt
giống
của cây
trà được
đưa vào
Nhật
khoảng
đầu thế
kỷ thứ 9
do hai
Tu sĩ
Phật
giáo
Saicho (Tối
Trừng,
767-822) và
Kukai (Không
Hải,
774-835).
Trong
triều
đại
Heian
(794-1185),
Hoàng đế
Nhật
Saga (Tha-Nga) đã
đưa thú
uống trà
vào
triều
đình
Nhật. Tu
sĩ Zen (Thiến
tông)
Eisai (Vinh-Tây, 1141-1215)
Người
sáng lập
Môn phái
Phật
giáo
Rinzai,
đã mang
hạt
giống
trà từ
Tàu về
trồng
tại
nhiều
nơi trên
đất Nhật.
Esai đã
thuyết
pháp cho
việc
uống trà,
không
chỉ dành
cho giới
tu sĩ và
trí thức
Nhật, mà
còn
thuyết
giảng
việc cần
phổ biến
đến toàn
dân vì
uống trà
rất có
lợi cho
sức
khỏe..
Thiền
sư
Eisai,
ghi
trong
Tập sách
“Kissa
Yojoki"
= Khiết
trà,
Dưỡng
sinh
ký", mô
tả tác
dụng của
Trà vào
Ngũ
tạng, nhất
là Tâm ;
trà giải
rượu,
giúp
tiểu..
Ông cũng
mô tả
cây trà,
hình
dạng lá
trà
xanh;
cách
trồng và
các
phương
pháp chế
biến..
Vùng
sản xuất
Trà lâu
đời nhất
tại Nhật
là Uji,
gần Kinh
đô cũ
Kyoto,
và có
lẽ trà
trồng
tại đây
là từ
hạt
giống
của
Esai..
Uji đã
trở
thành
Trung
tâm công
nghiệp.
Trà đầu
tiên của
Nhật và
các loại
trà đắt
giá nhất
của Nhật
vẫn từ
Uji.
Uji
là một thị
trấn nhỏ,
nằm cạnh một
con đường cổ,
nối các kinh
đô xưa Nara
và Kyoto,
cách Tokyo
khoảng 370km
về phía Tây-Nam.
Uji là nơi
phát sinh
của Trà xanh
Nhật và ‘trà
đạo Nhật.
Uji có thổ
nhưỡng (đất
acid) rất
thích hợp
cho việc
trồng Trà;
Sương mù
buổi sáng từ
sông Uji,
tạo độ ẩm
cho lá trà,
che bớt sức
nóng của mặt
trời, đất
của núi lửa
còn lại tạo
thông thoát
nước.., tất
cả các điều
kiện cần
thiết để
trồng các
chủng trà
thật ngon..
Ngày nay,
vùng trồng
trà công
nghiệp của
Nhật là Hạt
Shizuoka,
chiếm khoảng
40% tổng sản
lượng Trà
của Nhật;
một số khu
vực trồng
trà khác là
Đảo Kyushu,
Hạt Shiga,
Gifu và
Saitama tại
trung tâm
Honshu..
Trà sản
xuất
thương
mại hiện
nay tại
Nhật đều
là Trà
Xanh ,
tuy
trong
một thời
gian
ngắn
trước
đây,
khoảng
cuối thế
kỷ 19
đến đầu
thế kỷ
20, tại
Nhật
cũng có
trà đen.
Việc
sản xuất Trà
xanh tại
Nhật đã được
công nghiệp
hóa phàn
lớn, áp dụng
các kỹ thuật
tân tiến vào
các công
đoạn sản
xuất và chế
biến, tăng
sản lượng
thu hoạch và
giảm được
công sức
cùng chi phí
nhân lực.
Tại Nhật ,
do chi phí
nhân lực khá
cao, nên chỉ
các loại trà
có phẩm chất
cao mới được
hái và chế
biến thủ
công theo
các phương
pháp truyền
thống cổ
truyền
Lá
trà xanh
Nhật, dạng
kim khâu,
mỏng và có
màu xanh lục
đậm; khác
với Trà Tàu,
đa số trà
xanh Nhật
được chế
biến bằng
hấp hơi nước
, thay vì
sao qua đảo
(pan-firing)
nóng. Trà
Nhật có màu
đặc thù, vị
ngọt nhẹ kèm
vị cây cỏ.
Một hệ thống
máy để
cuộn/làm khô
(rolling/drying)
thiết kế
riêng, tạo
ra trà khô
và hình dạng
sau cùng của
sản phẩm.
Nước pha Trà
xanh Nhật có
thể đục do
chứa nhiều
chất tan còn
trong lá
của trà.
Đa số
Trà Nhật
được pha
trộn
nhiều
trà xanh
trồng
khắp nơi
tại
Nhật,
nên
không
mang
tính
cách địa
phương
như Trà
Tàu. Trà
xanh
Nhật, do
số lượng
sản xuất
giới
hạn,
được xếp
vào loại
sản phẩm
giá cao,
phẩm
chất của
các
loại
trà
‘thượng
hạng'
thế
giới.
Các
loại trà pha
sẵn và đóng
chai rẻ
tiền, cùng
các thực
phẩm có vị
trà xanh,
trên thị
trường Nhật,
thường dùng
Trà xanh rẻ
tiền nhập từ
Tàu.
Trà
xanh
Nhật:
Ryokucha
= Lục
trà là
tên
chung
cho mọi
loại .
Có hàng
trăm
loại Trà
xanh tại
Nhật,
nhiều
thương
hiệu..
Có thể
tạm chia
thành 4
nhóm
chính, sencha,
matcha,
hojicha,
kukicha; mỗi
nhóm còn
có thêm
những
nhóm phụ..
Ngoài ra
có thể
tách
riêng
một Nhóm
đặc biệt' Shincha do
đặc tính
quý và
hiếm..
Nhóm
Sencha
là một
nhóm
trong ‘Ryokucha’.
được chế
biến
bằng nhúng
sôi, toàn
bộ lá
trà sau
khi hái.
Sencha
là loại
trà
thông
dụng
nhất tại
Nhật..
chiếm
khoảng
80% Trà
xanh
tiêu thụ
trong
nước.
Hương
vị của
Sencha
tùy
thuộc
vào mùa
và nơi
sản xuất
(shincha
là trà
thu hái
đầu mùa;
xin đọc
phần
dưới).
Màu
của
Sencha,
sau khi
pha,
nước
xanh
lục-vàng,
và tùy
nhiệt độ
của nước
khi pha
trà, vị
có thể
khác
biệt:
nước vừa
đủ nóng
tạo vị
dịu,
nước quá
nóng tạo
vị chát.
Tiến
trình
chế biến
Sencha
bắt đầu
bằng "hấp"
lá trà
xanh
trong 15
đến 20
giây để
làm
ngừng
phản ứng
oxy hóa
diễn ra
bên
trong lá;
sau đó
lá được
cuộn,
tạo dạng
và làm
khô,
giai
đoạn này
làm lá
trà cuộn
tròn lại
thành
dạng ống.
Sau khi
làm khô
sẽ được
chọn và
phân
loại..
Tiến
trình
hấp hơi,
sau khi
hái,
giúp
phân
biệt
hương và
vị giữa
Trà Nhật
và Trà
Tàu.
Sencha
còn được
phân
loại
thêm
Kabusecha
(Tiên
trà hay
Quán trà), do
Soen
Nagatani
sáng chế
vào
1738, trồng
dưới
bóng mát
để tăng
hàm
lượng
amino-acid
(như
threonine),
tạo vị
đặc biệt
hơn.
Khoảng 1
tuần lễ
trước
khi hái
búp lá
non (vào
mùa Xuân),
vườn
trồng
trà được
phủ vải
che thưa
(screen)
hay kabuse, để
che ánh
nắng
trực
tiếp từ
mặt trời
chiếu
vào lá
trà (cách
che mát
này sẽ
tạo cho
trà vị
dịu hơn).
.png)
Kabusecha
(Tiên
trà
hay
Quán
trà)
Gyokuro
(Ngọc
lộ,
Thiên
trà),
Kahei
Yamamoto
sáng chế
năm
1835.
Được che
nắng lâu
hơn,
khoảng 3
tuần
trước
khi hái
búp.
Gyokuro
là một
loại trà
‘đặc thù
‘ riêng
của
Nhật. Kỹ
thuật
che nắng
tạo cho
lá trà
vị ngọt
hơn và
màu xanh
đậm do
lượng
chlorophyll
trong lá
tăng
lên, khi
cây bị
che ánh
nắng
trực
tiếp.
Gyokuro
trồng
tại Uji,
còn đặc
sắc hơn.
Kỹ
thuật
che nắng
tại
Honzu
vẫn theo
phương
pháp cổ
truyền
dùng
chiếu
tre và
phủ rơm
; "tana"
là đóng
cọc
chăng
lưới; và
jikajisè
là phủ trực
tiếp
trên cây..
Chặn
được tử
70-90%
tia nắng
chiếu
trực
tiếp
trên cây
trồng..
Matcha là
loại trà
xanh
được sản
xuất
nhiều
tại Nhật,
phương
thức sản
xuất
được cho
là của
Tàu từ
đời
Đường
(Tang)
(618-907)
nhưng
được
Nhật biến
đổi khác
xa hơn
và
phương
thức
nguyên
gốc Tàu
cũng
biến mất,
ngay tại
Tàu?
Matcha,
chế biến
từ các
cây trà
trồng
dưới
bóng mát
(kiểu
gyokuro).
Lá trà
khi thu
hoạch có
thể tước
bỏ sống
lá
(vein),
và tán
nghiền
vụn bằng
cối đá.
Việc
nghiền (thủ
công)
rất chậm
vì cần
giữ cho
cối
không
được quá
nóng.
.png)
Chez
un
producteur
de
thé
vert
matcha
conventionnel
à
Uji
–
Kumiko
Matcha
(Lá
trà khi
chưa
nghiền,
tán được
gọi là Tencha,
nước pha
xanh
nhạt và
không
được
phép dùng
trong
Trà
đạo).
.png)
Le
tencha,
à
l'origine
du
thé
matcha
Hương vị
của
Matcha
tùy
thuộc
vào
thành
phần các
acid
amin
trong
bột vụn
của lá
sau khi
nghiền;
Phẩm
chất
cũng còn
tùy thêm
vào độ
mịn hay
thô của
bột.
Matcha
là loại
Trà xanh
được
chính
thức
dùng
trong
các Lễ
nghi Trà
đạo tại
Nhật.
Matcha
được
phân
thành
từng
hạng:
-
Hạng
dùng nấu/thực
phẩm,
phẩm
chất kém
và giá
rẻ, dùng
pha trộn
trong
các món
ăn thức
uống như
mochi,
mì soba,
smoothies,
kem
lạnh,
matcha
latte..
Vị đắng
vì làm
từ lá
trà phần
dưới của
cây, bất
kể thời
gian thu
hái lá
vả không
đòi hỏi
các cách
thức chế
biến.
Loại trà
xanh chế
biến từ
lá
sencha
(hay
bancha),
sao lại,
chung
với cành
kukicha.
Làm
nguội
thật
nhanh
sau khi
sao ở
200°C.
Trà
chuyển
sang màu
nâu.
.png)
Hojicha,
un
thé
gourmand
et
faible
en
caféine
4-
Kukicha (thé
de
brindilles)
Kukicha (thé
de
brindilles) là
trà pha
trộn lá
và chồi sencha. Cành
và chồi
nhiều
hơn lá;
vị trà
tùy
thuộc
vào "tuổi"
cây
trồng;
loại phụ Karigane các
cành
cọng nhỏ
được
chọn
riêng,
là loại
có phẩm
chất cao
nhất của
nhóm này..
.png)
Thé
vert
Japon
Kukicha
/ Kukicha
Karigane
Thé
vert
Japon
Shincha được
xem là
một nhóm
riêng,
do thời
gian hái
trà,
thật sớm
trước
khi lá
mọc rộ.
Shincha
được chế
biến từ
những lá
non nhất,
và hái
từ
khoảng
đầu
tháng Tư
cho đến
đầu
tháng
Năm, có
thể xem
là ..
Sencha
hái thật
sớm ?.
Shincha
quý vì rất
hiếm..
.png)
Le
shincha,
le
meilleur
du
thé
vert
Genmaicha là
trà xanh
pha trộn
gạo nâu
rang (rất
được ưa
chuộng
tại..
Hàn quốc).
Tỷ lệ
pha trộn
khoảng
50% là
sencha
hay
bancha,
có khi
trộn
thêm
matcha.
Loại này
không
được xếp
vào "Trà
xanh
chính
thống?"
Ngoài ra,
có thể
kể thêm Tamaryokucha,
một loại
trà xanh
Nhật đặc
biệt,
còn gọi
là guricha,
trà lá
xoăn, có
vị chua
như quả
berry,
thơm mùi
chanh
nhẹ. Trà
được chế
biến tại
vùng
Kyushu
(tama=coiled,
rolled),
(guri-cha=
trà uốn=curly).
Phân
loại Trà
xanh
Nhật
theo kỹ
thuật
trồng và
chế biến.
Khi Trà
từ Tàu
đến Nhật,
uống trà
không có
một ‘quy
củ’ nào,
có thể
uống
trong
mọi
trường
hợp và
mọi lúc,
khi
thích..
Việc
uống Trà
được
nâng
thành
một "nghệ
thuật"
và sau
đó thành
"lễ nghi
tôn giáo"
là do
Thiền sư Sen
No Rikyu (1522-1591)
giảng
dạy và
phổ biến
từ
Kyoto.
Các buổi
uống trà
được tổ
chức
thành
Trà hội,
và quan
điểm
Thiền
được đưa
vào các
buổi Trà
hội,
cùng với
nhiều
nghi
thức và
các kỹ
thuật,
dụng cụ
pha trà,
chọn lựa
loại trà
và kết
hợp tất
cả để
thành
Trà đạo
(Nhật).
Trà đạo
được
phát
triển
tại các
Thiền
viện
trong
các thế
kỷ 14
đến 16,
trở
thành
một biểu
tượng,
đẳng cấp
xã hội
của giới
Quý phái,
quan
quyền
Nhật..
Liễn
tiêu chuẩn
theo Thiền
sư Sen No
Rikyu
Hòa, Kính,
Thanh và
Tịch
Trà đạo
tại Nhật
có nhiều
nghi
thức,
không
chỉ là
một buổi
uống trà
đơn
thuần..
Tác
giả Phạm
văn Bản viết
trong “Khảo
về Trà":
…
“Buổi
uống trà
được làm
theo một
số quy
tắc rõ
ràng, từ
trang
phục,
thư pháp
trang
trí, bày
hoa
trong
trà
thất,
trà cụ,
nhang
đèn..”
Theo Ông
Bản thì: “Trà
đạo phản
ánh tư
tưởng
đạo Lão
về việc
tìm kiếm
cái đẹp
hiện hữu
chung
quanh,
kết hợp
với quan
điểm
Thiền về
sự nhận
thức
trực
tiếp, sự
bình
thường
vô vị và
riêng
biệt của
vạn vật;
tất cả
đều đóng
một vai
trò chủ
yếu“.
(Trước
khi có
các nghi
thức Trà
đạo do
Thiền sư
Sen No
Rikyu
quy
định,
một số
phương
thức
uống Trà
đã được
chép
trong
Chanyauan
Qinggyi
(Thiền
Uyển
Thanh
quy) mô
tả các
nghi
thức
uống Trà
tại các
Thiền
viện
Phật
giáo
(1103).
Bốn chữ
chính
đặt ra
cho
nguyên
tắc căn
bản của
Trà đạo
cổ xưa
là:
Bốn chữ này,
được viết
theo thư
pháp và làm
thành một
bức liễn,
treo tại Trà
thất.
Sasaki
Sanmi trong Chado
The way
of Tea,
tập sách
trên 750
trang còn
liệt kê
các nghi
thức Trà
Đạo,
theo
từng
Tháng
trong
Năm (giống
như một
‘lịch'
nghi lễ
tôn giáo).
Trà
đạo,
truyền
thống,
khởi đầu
bằng
thiết kế
một "nơi"
để..
uống trà;
Trà thất
là một
phòng
riêng
bằng gỗ,
sắp xếp
để có
nơi
khách
ngồi chờ
trước
khi vào
bên
trong;
có lối
đi riêng,
thường
qua một
khu vườn
nhỏ; Bên
trong
Trà thất
có chỗ
để dụng
cụ và
khoảng
trống để
pha Trà;
cùng các
nệm ngồi
cho
khách.
Trang
trí
trong
Trà thất
cũng
theo
nguyên
tắc Thiền, giản
dị nhưng
nhiều
biểu
tượng..
treo vài
bức liễn
viết
theo thư
pháp (zenga), bày
một bình
hoa (chabana)..
Tất cả
được
chọn
theo chủ
đề của
từng
buổi Lễ uống
Trà.
Cách
chọn Trà
và pha
trà cũng
phải
theo các
quy tắc
nghiêm
ngặt.. Sau
đó cách
uống Trà
cũng có
nghi
thức
riêng!
Ngày
nay, Trà
đạo,
được
biến đổi
có phần
giản dị
hơn và
được gọi
là Japanese
tea
Ceremony
(nghi
thức
uống Trà), giữ
một số
lễ nghi
trong
các buổi
thưởng
thức Trà
và được
xem như
một nét
văn hóa
truyền
thống
của Nhật..
Tại Nhật
vẫn còn
có những
Trường
dạy ‘Văn
hóa Trà
đạo’ nổi
tiếng
như
Omotesenke,
Urasenke,
chuyên
huấn
luyện về
Trà đạo,
đúng
theo các
lời dạy
của Sen
No
Rikyu..
Japan-guide.com tóm
lược và
ghi các hình
minh họa (bên
dưới).
.. Ngày
nay,
nghi
thức
uống Trà
được xem
như một
thú
vui-giải
trí
(hobby)
và cũng
được
nhiều Tổ
chức văn
hóa Nhật
(như
tại các
vườn
truyền
thống ở
Uji, các
khách
sạn lớn
tại
Kyoto..)
"trình
diễn"
cho các
du khách
đến
Nhật..
Nghi
thức
thay đổi
tùy theo
hạng
từ.. đơn
giản
(formality)
đến theo
đúng
truyền
thống
(authenticity)
rất phức
tạp..
Nghi
thức
uống Trà
Nhật
theo
nguyên
tắc bắt
đầu bằng
một món
ăn khai
mạc kaiseki
(bánh
nếp ngọt
truyền
thống),
tiếp
theo là
một tách
trà đậm,
kết thúc
bằng một
tách trà
"nhẹ"
hơn..
Bên cạnh
đó là
một số
quy định
cần theo
như
y-phục,
cách
uống
trà..v.v..
(Kimono
được mặc
trong
các Lễ
nghi Trà
đạo
chính
thức)
-
Trà
viên: Nghi
thức
uống Trà
truyền
thống
phải đi
qua một
khu vườn,
trước
khi vào
Trà thất..
Ngày
nay, Trà
thất
thường
không
còn vườn
bên cạnh!
Khu vườn
cần tạo
sự "tĩnh
lặng";
không
trồng
hoa
nhiều
màu sắc
và có
hương
thơm gây
khó tập
trung..
Ven
đường
trong
vườn
được xếp
đá lớn
nhỏ..
Đèn đá
và bồn
nước
bằng đá,
có nước
để khách
rửa tay
trước
khi vào
trà thất.
-
Trà
thất: Nghi
thức
uống Trà
được
diễn ra
trong
một
phòng
riêng =
tatami
room.
Cửa vào
phòng
được
thiết kế
thấp để
khách
sẽ phải
cúi đầu
khi vào
phòng,
biểu
tượng
cho sự
khiêm
tốn.
Trang
trí bên
trong
đơn
giản, có
một
tokonoma
(alcove),
bên trên
treo một
bức
liễn,
viết chữ
kiểu thư
pháp..
Khách
ngồi
theo tư
thế
seiza
trên sàn
tatami..
-
Pha
Trà: Chủ
nhân sẽ
pha trà
trước
mắt
khách.
Trà cụ
gồm
chasen
(tea
whisk),
natsume
bình
chứa trà
xanh đã
tán vụn;
chashaku
(tea
scoop),
các tách
uống trà..
Các
dụng cụ
được lựa
chọn tùy
từng
trường
hợp tổ
chức lễ
nghi..
Pha
trà và
thế ngồi..
Seiza
-
Cách
uống Trà: Khi
uống Trà
cũng cần
theo một
số nghi
thức từ
cách
nâng
tách trà,
thay đổi
vị thế
của tách
trà cầm
trên tay,
cách
nhấp
từng
ngụm trà
nhỏ.. và
còn có
cả cách
biểu lộ
sự cảm
kích của
khách
đối với
chủ
nhân..
Tất cả
đều theo
mình
trình tự
truyền
thống..
Nâng
tách trà..
Wikipedia
liệt kê
những lợi
ích của Trà
xanh (chung
cho mọi loại)
Trần Minh
Quân