Bài 3 : TRÀ XANH HÀN QUỐC VÀ
TRÀ XANH ẤN ĐỘ
Trần Minh Quân
1- Trà xanh Hàn quốc (Nokcha)
Danh từ Trà
được dùng tại Hàn quốc để
gọi chung các loại thức uống,
ngâm trong nước sôi, ngâm từ lá
cây trà (Camellia sinensis),
rễ cây, hoa, quả, ngũ cốc,
nấm hay hải tảo.. Trong
“Trà” chưa chắc đã có lá của
cây trà ..(giống
cách gọi của Việt Nam?)
(Trà xanh không thông
dụng tại Hàn bằng cà phê và
các loại ‘gọi là trà’ khác).
Trà xanh Nhật và Tàu nổi
tiếng và được nhiều người biết,
còn Trà Hàn ít được chú ý hơn,
Trà xanh Hàn dùng chảo nóng rang
đảo trong vài giờ ngay sau khi
hái, cuốn bằng thủ công và sau
đó để khô hẳn trong bóng mát..
Lịch sử
của Trà và Trà xanh Hàn quốc
theo Wikipedia có
nhiều đặc điểm khác Trà xanh
Nhật và Tàu:
Truyền thuyết Hàn kể
rằng cây Trà đã được Hoàng
hậu Heo-Hwang-ok, một công
chúa đời Ayodhya, gả cho Vua
Suro (vương triều Gaya),
mang từ Ấn về trồng tại
Baegwolsan, một vùng núi tại
Changwon (ngày nay).
Theo các vết tích
sách vở ghi lại thì cây Trà
đã được các tu sĩ Phật giáo
đưa vào Hàn từ khoảng thế kỷ
thứ 4: Các Cổ tự Hàn quốc
như Bulgapsa (lập năm 384
tại Yeonggwang), Bulhoesa
(384 tại Naju) và Hwaeomsa
(544,Gurye) đều có thể được
xem như những nơi ‘khai sinh'
ra Văn hóa uống Trà kiểu Hàn
quốc..
Trà được xem như một
lễ vật cúng Phật và dâng cho
hương hồn người đã khuất.
Văn hóa
Trà Hàn quốc tiếp tục phát
triển thời Vương triều Goryeo=Cao
ly (918-1392), tục lệ dâng
Trà được xem như phải có
trong các ngày Lễ hội Quốc
gia và nhiều Trà thất được
dựng quanh các Chùa, Đền
đài.. Văn hóa Trà (The Way
Of Tea) được Phật giáo Seon Hàn (Thiền
tông Hàn) bảo
tồn..
Đến
Vương triều Joseon =
Triều tiên (1392-1910), việc
uống trà được phổ biến rộng
rãi trong xã hội, tuy nhiên
nghi thức "Lễ Trà" (charye) vẫn
được giữ trong giới cung
đình và quý tộc như một nghi
lễ tôn kính tổ tiên..
Văn hóa uống Trà Hàn
quốc bị Nhật phá bỏ trong
thời kỳ Nhật chiếm đóng Hàn
quốc (1910-1945) rồi theo
sau là cuộc chiến tranh
Korea (1950-53). Phong tục
Uống Trà kiểu Hàn, hầu như
không tồn tại nổi, chỉ còn
được giữ lại tại các thiền
tự xa xăm.
Mãi đến khoảng cuối 1970s,
phong cách uống trà kiểu Hàn mới
được phục hồi tại vùng quanh
Dasolsa, Việc sản xuất Trà xanh
Hàn cũng được bắt đầu trở lại từ
cuối 1970s, phát triển rất nhanh
và đến 2012, công nghiệp sản
xuất trà xanh Hàn đã vượt Taiwan
20% và vượt cả Nhật đến 3.5%.
-
Văn hóa uống Trà Hàn quốc
Văn hóa
uống Trà Hàn quốc, được phát
triển từ Triều đại Goryeo;
Lễ nghi "uống trà" bắt buộc
phải có trong những Ngày Đại
lễ Quốc gia như Yeondeunghoe và Palgwanhoe.
Yeondeunghoe là
Lễ hội lồng đèn hoa sen tại
Korea để mừng Ngày Phật đản.
Ngày Lễ, theo Âm lịch Hàn là
ngày Tám Tháng Tư. Yeon=
lotus; Deung = lighting; Hoe
= Festival. Ngày hội thắp
đèn hình hoa sen.. Được
UNESCO xếp vào Di sản Văn
hóa Thế giới (2011) .
Hình
‘lantern day' Hàn quốc.
Palgwanhoa
= Ngày Lễ hội của Tám
lời Thề (Eight vows) của
Phật giáo (15 tháng 11 Âm
Lịch) (Trong Phật giáo,
không có ‘lời Thề'? Có thể
là Bát
Chánh đạo?)
Hình
ngày Hội “Tám Lời Thề”
Từ thời
Vua Myeongjong (1131-1202),
môn phái Phật giáo Thiền (Seon)
được tôn sùng và nghi thức
uống trà mang nhiều tính
cách Thiền tông: nhiều bài
thơ vịnh Trà gọi là dasi được
sáng tác; những ngày hội
uống trà Dahoe quy
tụ nhiều văn-thi sĩ. "Cảnh
giới" daseonilchi
= Trà và Thiền "hòa nhập" là
mức độ thượng thừa trong
việc uống trà.
Phái Thiền Tông Hàn
quốc xem việc uống Trà là
một hình thức Thiền..
Thiền "Trà" là nhận
thức tư tưởng rất đơn giản
mỗi ngày, khi pha và uống
trà. Uống trà chính là lúc
tọa Thiền và Thiền là một
trạng thái tinh thần không
thể mô tả qua ngôn từ và văn
chương.. Thiền là tập trung
tỉnh thức và nhận định không
giới hạn về chính bản thân như
Trà.. Và Thiền ‘trà' sẽ chỉ
cần pha trà và tận hưởng nơi
chót lưỡi lục vị của Trà gồm
đắng (bitter), pungent (chát),
sour (chua). Mặn (salt), cay
(hot) và ngọt (sweet).
Lục
vị.. cảnh giới của Thiền "trà"
Nghi
thức uống Trà Hàn quốc cũng
chịu ảnh hưởng của Khổng
giáo: hòa (harmony), kính
(respect) và tạ ơn
(gratitude). Nghi thức uống
Trà thường được tổ chức tại
các Trà quán, người tham dự
mặc y phục truyền thống hanbok.. Nghi
thức bao gồm các cách pha
trà, mời trà và cả cách uống
trà (có phần theo Trà đạo
Nhật nhưng đơn giản hóa khá
nhiều). Chủ nhân đãi khách,
tùy mức độ tôn kính, để chọn
bình pha trà cùng các chung,
tách để uống trà..
Nghi thức uống Trà
kiểu Hàn quốc tuy đơn giản
hơn "Trà đạo Nhật" nhưng
cũng có những tiêu chuẩn về
dụng cụ, cách pha và cung
cách thưởng ngoạn.
.png)
Ấm
tách Hàn quốc
Bình và chén uống
trà cũng cần được chọn lựa
theo mùa (!) và theo nghi lễ
tôn giáo khi uống Trà. Bình
pha và các chén uống thường
bằng sành, đất nung từ các
lò gốm địa phương. Bình và
tách Sứ cao cấp hơn. Sứ của
Tàu trang trí vẽ hình rồng
(imperial porcelain with
dragon) còn hiếm hơn!
.png)
Chén
uống Trà Hàn quốc
Nước nóng hay sôi
được đỗ vào các ‘bát làm mát'
(trung chuyển) tùy theo mùa,
để nguội bớt trước khi
chuyển vào bình trà. Sau đó
mới rót vào các chung nhỏ.
Trong nghi thức uống
Trà theo Phật giáo, Bộ ấm và
tách thưởng thuộc loại sành
màu xanh ngọc Celadon hay
Jade green (pinchong) hay
màu đồng-đất nhạt ‘patinas';
Nghi thức Khổng giáo dùng
ấm-chén trắng có tráng men..
Trà,
uống vào mùa Hè dùng các
‘bát' làm mát loại katade cao
5cm, rộng 12cm; miệng rộng
giúp nước pha mau nguội..
Bát pha Trà loại
"katade"
Mùa
Thu và Đông, dùng bát loại irabo,
cao và miệng hẹp giúp giữ ấm
cho nước pha..
Bát
pha Trà loại "Irabo"
Nghi thức Uống Trà
cổ truyền hiện chỉ còn giữ
trong các Buổi Lễ Quốc Gia
như để Bảo Tồn Truyền Thống
và Văn Hóa Dân tộc.. Hàn có
đến 15 nghi thức khác nhau,
theo các cung cách Cung đình
của Triều đại như Joseon..
Các nghi thức được
đơn giản hóa chú trọng vào
cách pha trà của Vị chủ Lễ,
vị trí ngồi của khách dự,
quanh một bàn thấp (đóng
riêng) và việc chọn các bộ
‘bình-ấm' tùy theo từng
trường hợp.. Cách pha trà có
thể thay đổi tùy theo loại
trà xanh được dùng.. và việc
uống trà cũng khá thoải mái,
khách uống trà không buộc
phải theo các nghi thức như
Trà Đạo Nhật.
Bàn uống Trà.. kiểu
Hàn quốc
-
Các loại Trà xanh Hàn "chaksol
=chugno"
Trà
Xanh Hàn được phân loại theo
nhiều cách, dựa theo nhiều
yếu tố; thông thường nhất
là tùy thời
gian (trong năm) khi hái trà (hay
theo kích thước của lá trà).
1- Ujeon=
Wujeon (hái
trước tiết Cốc Vũ ) còn
gọi là cheonmul-cha (trà hái
đầu mùa=first flush tea) Trà
được hái thủ công trước
‘Gogu' (danh
từ thời tiết của Hàn = trước
cơn mưa) ngày
20-21 tháng Tư, vị ngọt nhẹ,
tinh tế và ngon nhất khi pha
ở 50°C=122°F.
Ba vùng sản xuất nổi
tiếng nhất về Ujeon tại Hàn
quốc là Boseong, Hwagae và
Jeju.
Trà Hwagae trồng
tại vùng xa xôi trên sườn
núi phía Nam của rặng
Jirisan, lá nhỏ và đậm hương
vị, còn được gọi là "trà
hoang" tự nhiên..
2- Sejak =
thin sparrow; còn gọi là
domul-cha (trà hái lần 2 =
second flush) cũng hái thủ
công các chồi và lá non, sau
ngày gogu (20-21 tháng Tư)
nhưng trước ngày ipha (5-6
tháng Năm). Còn được gọi là
jackseol = sparrow tongue,
vì lá trà khi hái, chỉ to
bằng lưỡi chim sẻ.
3- Jungjak
= medium
sparrow; hay semul-cha =
third flush tea, lá trà hái
sau ngày Ipha (lối vào mùa
Hè) (5-6 tháng Năm) cho đến
giữa tháng Năm. Là loại trà
phổ biến nhất tại Hàn.
4- Daejak =
big sparrow hay kkeunmul-cha =
final flush tea (trà hái cuối
mùa), lá hái vào cuối tháng Năm
có thể dùng máy. Trà kém phẩm
chất, dùng đun nấu trong các món
ăn hay trà thông dụng đựng trong
bao-túi nhỏ.
Cách
phân loại thứ nhì là tùy
theo phương
thức chế biến:
-
Deokkeum-cha (bucho-cha):
Trà "rang", phương pháp chế
biến thông thường trà xanh
tại Hàn; còn có nghĩa là
"trà rang đảo = pan-fried
tea", còn gọi là trà xanh áp
chảo; chế biến thủ công tốn
nhiều công sức nên giá thành
cao hơn. Trong khi rang, trà
chuyển dần sang nâu , có vị
thơm riêng..
-
Jeungje-cha:
Lá trà xanh hấp hơi, phương
pháp chế biến này ít thông
dụng hơn, vẫn được dùng
trong các loại trà chế biến
riêng, lượng nhỏ tại các
chùa Phật giáo. Trà thành
phẩm màu xanh đậm, có vị
cây-cỏ tươi.
- Vài
loại Trà xanh Hàn đặc biệt
Trà xanh Hàn còn có
những loại trà xanh đặc
biệt tùy theo địa phương sản
xuất.
Vùng phía Nam, khí
hậu ấm hơn, như vùng Boseong
tại Tỉnh Nam-Jeolla, vùng
Hadong (tỉnh Nam–Gyeongsang)
và Đảo Jeju có những loại
trà xanh phẩm chất cao.
-
Banya-cha là
một trong những trà xanh nổi
tiếng nhất của Hàn. Trà được
chế biến bằng phương pháp
hấp bằng hơi nước, riêng của
các Tu sĩ Phật giáo tại
Boseong. Cây trà được trồng
tại khu vực đất pha cát gần
núi và biển.. Banya là do
danh từ prajna
= Bát-nhã
của Phật giáo.
-
Jungno-cha (bamboo dew tea=
trà trúc sương), cũng thuộc
loại trà xanh nổi tiếng. Chế
biến theo cách rang-khô, làm
từ lá trà trồng
cùng các cây tre-trúc tại
Gimhae (Hadong) và Jinju
(tỉnh Nam-Gyeongsang).
-
Panyaro là một loại
Trà xanh được chế biến bằng
nhiệt, rang qua chảo gang
đốt nóng bằng củi, hoàn toàn
bằng thủ công, Trà được hái
trong khoảng giữa tháng Tư
từ những vườn trồng chủng
trà riêng, tại vùng núi Jiri
(Phía Nam Hàn quốc) Trà được
xem là Sản phẩm riêng của
“Panyaro Institute for The
Way of Tea".
Phẩm chất rất cao, từ màu sắc lá
trà, hương trà và vị của Trà.
Khi thưởng thức Trà, được chỉ
dẫn các cách pha và cách nhận
cho được Lục vị trong tách nước
trà..
2- Trà xanh Ấn-Sri Lanka
(Ceylon)
Đa số Trà Xanh trên
thị trường thế giới đều là
Trà Xanh Tàu và Nhật. Trà
Xanh Hàn cũng chỉ mới được
biết tại Á châu. Trà Xanh Ấn
, khác hơn, chỉ được biết
nhiều tại Anh và các nước
thuộc Khối Liên hiệp Anh.
Ấn và Ceylon (Sri
Lanka = Tích lan) cũng sản
xuất những Trà xanh có phẩm
chất cao, hương vị đặc biệt
nhưng không được phổ biến
như Trà xanh Tàu, Nhật.. và
thậm chí nhiều người uống
trà còn hầu như không biết
là Ấn có .. Trà xanh?
Logo
của Trà xanh Ấn
Lịch sử Trà Xanh Ấn
Độ còn rất mù mờ, hầu như
không được ghi chép trong
sách vở, trái hẳn với Trà
Xanh Tàu, Nhật và Hàn..
Trà không được nhắc
nhở trong suốt Thời kỳ “Tiền
thuộc địa" tại Ấn. Sách
Rigveda tuy có nhắc đến Trà
nhưng lại xem như thuốc và
nhiều sử gia còn cho rằng
người Ấn dùng loại trà
‘hoang' bản địa?
Có thuyết ghi lại
Trà xanh từ Ấn được đưa về
Âu châu vào thế kỷ 16 do các
Thương lái Anh? Theo
Wikipedia, thì Trà (nói
chung) do Công ty Thương mại
Anh “British East India
Company" khởi trồng tại
Darjeeling trong thời gian
1840s khi muốn tìm một nguồn
cung cấp khác hơn là Trà từ
Tàu.
(Lịch
sử lập quốc của Hoa Kỳ có
nhiều liên hệ đến vụ Buôn
bán Trà của Công Ty British
East India Company, chở Trà
đến Boston tháng 11-1773,
gặp các rắc rối khi muốn đưa
trà lên bờ! Các xung đột sau
đó đã đưa đến Cuộc Cách mạng
Mỹ và Tuyên ngôn Độc lập
4-7-1776).
Các đồn điền Trà được
thiết lập đầu tiên giữa Thập
niên 1856-1866 tại
Darjeeling và trồng Camellia
sinensis (hợp với vùng khí
hậu mát của vùng núi), thay
cho cây trà địa phương
Camellia assamica (thích hợp
với khí hậu nóng-ẩm).
Trà Xanh Ấn Độ
thuộc 2 loại chính: Assam và
Darjeeling.
Tại Darjeeling,
trà xanh được trồng tại
những khu vực có cao độ 600
đến 2000m trên mực nước
biển. khí hậu mát lạnh, mùa
Đông khô (từ tháng 11 đến
tháng 2) và thường có sương
mù, tiếp sau đó là khí hậu
‘gió mùa.'Tại cao độ này
sương mù và đất thông thoáng
nước giúp trà có một vị nho
muscadine đặc biệt. Hiện có
trên 80 đồn điền Trà, trồng
trên một diện tích 17 ngàn
500 cây số vuông, sản xuất
đến 9 triệu kg trà mỗi năm.
Năm 1983, Tea Board
of India đăng ký một logo
quốc tế dành cho Trà trồng
tại Darjeeling. Logo này
được bảo vệ tại Anh, Mỹ, Úc,
Taiwan và khối EU. Năm 2000,
Tea Board of India lập thêm
các quy định cần theo để
được cấp giấy phép xuất cảng
cho những Công ty sản xuất
và chế biến Trà Darjeeling,
cấm mọi pha trộn thêm các
loại trà khác..
Logo
đăng ký Trà Darjeeling
Darjeeling được xem như tên
gọi của trà Ấn và là một
trong những vùng trồng trà
lớn nhất thế giới nhưng tại
đây, trà xanh chỉ
chiếm một phần nhỏ còn
đại đa số là trà đen.
Trà xanh Darjeeling
rất khác biệt với mọi trà
xanh khác trên thế giới, vị
dịu hơn trà đen, có mùi
hương tổng hợp của một bó
hoa, có vị phối hợp rất hài
hòa của cây cỏ. Khi pha,
nước trà có màu nhạt, rất
thơm.
Mùi
nho muscadine đặc trưng của
Trà Darjeeling được tạo ra
do các phản ứng sinh-vật
học đặc
biệt:
-
Đợt hái lá trà đầu tiên vào
mùa Xuân (tháng 3 đến tháng
5), lá non sau khi cây qua
miên trạng, có vị chát nhẹ,
mềm và màu rất nhạt..
-
Đợt hái lá
thứ nhì sẽ vào tháng 5 và
tháng 6, sau khi các côn
trùng Empoasca (một
loài châu chấu) và
Homona coffearia (
một loài bướm ngài) tấn
công cây, tiết ra một hợp
chất tạo cho lá trà một vị
nho muscadine đặc trưng.
Ngoài ra do tấn công của côn
trùng, cây trà cũng tiết ra
các chất phòng vệ và chất
này khởi động các phản ứng
oxi-hóa bên trong lá trà. Vị
muscadine, về phương diện
hóa học, là phối hợp của
3,7-dimethyl-1,5,7-octatriene-3-ol
và
2,6-dimethyl-3,7-octadiene-2,6-diol
cùng các hợp chất thơm khác
như linalool, benzyl
alcohol..
-
Sau 2 đợt hái lá này còn có
thêm 2 đợt nữa trong mỗi mùa
trà. Trong các đợt hái lá
sau, lá hầu như không còn vị
muscadine!
Trà xanh Assam được trồng
tại vùng Đông-Bắc Ấn, dọc
biên giới với Myanmar. Khí
hậu tại đây gần như khí hậu
của vùng Đông Nam Á, đất pha
thoáng, nhiều mưa và nóng.
Đây và vùng sản xuất Trà đen,
và Trà xanh là sản phẩm
tương đối mới trên thị
trường. Trà xanh Assam có vị
lúa mạch (malty) pha thêm
chút vị mật ong khá rõ. Nước
pha trà không bao giờ có vị
đắng..
-
Trà xanh Tích Lan (Sri
Lanka))
Sri Lanka, một đảo quốc phía
Tây-Nam lục địa Ấn, có nhiều
liên hệ văn hóa với Ấn và
Trà xanh Tích lan được xem
là loại trà hiếm, dành riêng
cho giới ‘mê trà'?
Trà Tích lan trồng tại
vùng đồi núi đảo quốc này, khu
vực giới hạn chỉ khoảng 4000
square foot (370 km vuông). Trà
có vị chát, pha trộn với vị của
hạt. Lá trà màu sẫm và sáng
trước khi pha; Nước pha màu
sậm..
Ngoài các vùng Darjeeling và
Assam nổi tiếng, tại Ấn độ
còn có thêm những vùng trồng
trà khá đặc biệt như
Meghalaya , Kashmir..
-
Meghalaya Green tea: Trà
được trồng tại Đồn điền
Lakyrsiew, Meghalaya; có vị
thơm riêng, thoảng mùi xoài,
táo.. Chế biến theo phương
pháp rang chảo nóng kiểu Tàu
và không có vị chát. Thành
phẩm có dạng lá rời và dạng
tán vụn đựng trong bao nhỏ
(kiểu matcha Nhật).
-
Kashmir Kahwa
Green tea, Trà xanh ướp thêm
các hương vị như cinnamon,
quế, hoa hồng. Mùi thơm
nhưng không thích hợp với
người uống trà (đúng nghĩa
trà?)
(Xin đọc
tiếp : Phần cuối về các vấn đề
“Khoa học và Trà Xanh” )
Trần Minh Quân
11/2023