Trần Minh Quân

 



TRÀ XANH VÀ SỨC KHỎE

Trần Minh Quân

 


 

 
Green Tea (Camellia sinensis): A Review of Its Phytochemistry, Pharmacology, and Toxicology.

 

 

           Các bài viết về Trà Xanh , Nhật,Tàu và Hàn chưa đề cập đến vấn đề Trà Xanh và sức khỏe, TMQ xin tóm lược các tin tức khoa học về các tác dụng đã được chứng minh và thử nghiệm của Trà xanh. Ngoài ra cũng xin ghi lại một số thông tin về liên hệ của Trà xanh với sức khỏe được phổ biến trên ‘báo chí' và ‘truyền thông'

 

Xin mời đọc cả ba bài về trà xanh trên blog :  tranlyquang.wordpress.com

 

  • Cây cỏ và lịch sử

 
Camellia sinensis, mọc thành bụi lớn, lá xanh quanh năm, nguồn gốc tại Đông Á, nơi cây được trồng rộng rãi. Cây có lá bóng, màu xanh lục đậm, có mùi thơm; hoa màu trắng có 6-9 cánh hoa. Cây trà trồng tại các đồn điền được cắt tỉa chỉ giữ chiều cao khoảng 1.5m để giúp dễ dàng cho thu hoạch.

 
                    
 
                                   Đồn điền trà xanh
 

 
         Lá Camellia sinensis phơi khô và chế biến đã được dùng pha thành nước uống và làm thuốc từ trên 5000 năm. Dược học cổ truyền Tàu đã khuyên dùng nước trà để phòng bệnh, cách dùng này vẫn được xem một cách để bảo vệ sức khỏe tại Á châu. Tại Hoa Kỳ, Trà xanh ít được phổ biến hơn Trà đen.

 
  • Thành phần dược chất

 
        Vấn đề hóa học của cây Trà khá phức tạp, do nhiều hợp chất được tạo ra trong quá trình chế biến và làm khô. đồng thời còn có những thay đổi tùy theo: mùa thu hoạch, khí hậu, kỹ thuật trồng tỉa và kỹ thuật chế biến.

 
       Tuy nhiên, những kỹ thuật về kiểm soát phẩm chất và phương pháp phân chất đều được cải thiện nên các thử nghiệm lâm sàng càng ngày càng chính xác..

 
         Lá trà chứa hàm lượng khác nhau về polyphenols, phần lớn là các catechins. Lá cũng chứa lượng ít hơn các chất caffeine, theobromine, theophylline, theanine và acids phenolic.

 
        Polyphenol chính trong trà xanh là  (-)-epigallocatechin; ít hơn còn có catechin, epicatechin, gallocatechin…

 
        Các hợp chất khác trong lá gồm tannins. tinh dầu béo và tinh dầu dễ bay hơi, các vitamin nhóm B, ascorbic acid (trong lá tươi nhưng bị hủy khi chế biến dùng nhiệt), folain, malic và oxalic acids.

 
        Thành phần Trà xanh, sau khi chế biến (làm khô và hấp bằng hơi nước; gây ngưng hoạt động của men oxydase), gần tương tự như trong lá tươi, không nhiều khác biệt đáng kể.

 
         Khác biệt căn bản giữa Trà xanh và Trà đen là tiến trình lên men khi chế thành trà đen: Catechins bị biến đổi thành chất theaflavins có phân tử lượng cao hơn (chất này không có trong trà xanh).

 
       Khử caffeine (decaffeination) chỉ làm giảm rất ít catechins trong trà.

 
           Việc thêm sữa vào nước pha trà không gây trở ngại cho vấn đề sinh khả dụng catechin nhưng có thể ảnh hưởng đến khả năng chống oxy-hóa tùy theo lượng chất béo trong sữa..

 


 

Tea Plant (Camellia sinensis): A Current Update on Use in Diabetes, Obesity, and Cardiovascular Disease

 

 

 

  • Sử dụng và Dược lực học: 

 

                   Các đoạn trích và chuyển ngữ trong phần này do từ

   Chương Green Tea, trang 605-607 của Tập sách The Review of Natural Products  

                                   (Facts & Comparisons)

 

              Các hoạt tính liệt kê trong bài đều có những ghi chú rất chi tiết và có thể đối chiếu nguồn gốc khi cần tìm hiểu thêm.

 

             Các nghiên cứu  khoa học hiện nay về Trà xanh gồm dược-động-học (pharmacokinetic) và dịch bệnh học (epidemiologic) chú trọng đến các hoạt tính của Trà xanh về tim-mạch, hoạt tính trên lipids và tác dụng về ngừa/chống ung thư..

 

1- Hoạt tính chống oxy-hóa

 
          Giả thuyết quan trọng nhất về lợi ích của Trà xanh, đối với sức khỏe, là khả năng chống oxy-hóa của các chất có trong trà xanh. Giả thuyết này được chứng minh qua các thử nghiệm ‘in-vitro' (trong ống nghiệm) và trong các nghiên cứu dịch bệnh học.

 
          Kết quả của các thử nghiệm in-vitro cho thấy tác động trực tiếp của trà trên các chất oxy-hóa và khả năng phức-hóa của Trà , thu nhặt  các ions sắt và đồng.

 
         Epicatechin và catechin là 2 chất có hoạt tính mạnh nhất trong số 24 chất flavonoids loại polyphenolic, gốc thực vật.

 
          Đa số các thử nghiệm lâm sàng chứng minh được là uống trà xanh giúp cải thiện khả năng chống oxy hóa của huyết tương và cải thiện các số liệu về các chất đánh dấu sinh học (biomarkers)  các stress gây ra do oxy hóa tế bào..

 


 

                                                      Antioxidants
 

 
2- Trà xanh và Ung thư

 
         Các nghiên cứu dịch bệnh học cùng những thí nghiệm trên thú vật cung cấp một số bằng chứng về tiềm năng của trà xanh như một ‘tác nhân' chống ung thư.

 
          Những đánh giá toàn diện vẫn chưa xác định được các kết quả thật sự, tuy nhiều meta-analysis đã được công bố.

 
          Cơ chế về tác động của trà xanh trên ung thư đã được tìm hiểu khi thử trên thú vật và khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, nhưng chưa chứng minh được khi thử trên người. Liều lượng dùng trong thí nghiệm không phản ảnh được việc dùng trà xanh thường xuyên và còn  rất nhiều yếu tố khác cũng không được làm rõ hơn trong các bài nghiên cứu đã được công bố.

 

           Các polyphenols có tác động ngăn cản sự bội sinh tế bào

  Polyphenol epigallocatechin gallate giúp tăng hoạt tính chống oxy-hóa trong một số bộ phận cơ thể của chuột, đồng thời có thêm tác động bảo vệ chống hóa chất trong các bộ phận này. Polyphenol này còn giúp kết bám (binding) trực tiếp vài loại hợp chất gây ung thư.

 
         Các Catechins có thể bảo vệ tế bào chống lại sự phát triển ung bướu bằng cách cải thiện khoảng cách (gap) liên lạc nối kết (junction communication) giữa các tế bào. Trà ngăn chặn sự phát triển của ung bướu bằng cách khóa các thụ thể của các tế bào bị ung thư.

 
          Polyphenols có thể giúp chặn nguồn gốc phát sinh ung bướu (tumor genesis) trong các trường hợp ung thư da, phổi, khoang miệng, thực quản, ruột non, ruột già, gan, tụy tạng, buồng trứng và hạch vú, Polyphenols của Trà xanh gây tiến trình apoptosis nơi nhiều loại tế bào kể cả tế bào ung thư hạch nơi người và tế  bào ung thư tuyến tiền liệt human prostate, làm thay đổi estradiol và kích thích tố tình dục, có liên hệ với nguy cơ bị ung thư vú.

 
         Một review Cochran không chứng minh được sự hiệu nghiệm của trà xanh trong việc ngừa sự tăng trưởng của bướu độc trong  leukoplakia (=bạch sản ?) .

 


 

Camellia sinensis: Insights on its molecular mechanisms of action towards nutraceutical, anticancer potential and other therapeutic applications.

 


 

Camellia sinensis: Insights on its molecular mechanisms of action towards nutraceutical, anticancer potential and other therapeutic applications.

 
3- Bệnh tim-mạch = Cardiovascular

 
        Nghiên cứu dịch bệnh học và thử nghiệm in vitro tuy chứng minh được việc tiêu thụ trà xanh có liên quan nghịch đảo (inversely) với bệnh tim-mạch nhưng không xác định được rõ ràng về  các liên hệ  nguyên do/hậu quả (cause-effect) trực tiếp.

 
        Một phân tích tổng hợp (meta-analysis) cho rằng việc dùng trà thường xuyên (intake regular) có thể giúp giảm tỷ lệ mắc bệnh (incidence) nhồi máu cơ tim (myocardial infarction) và còn có thêm tác dụng bảo vệ tim-mạch;  tuy nhiên phân tích này lại quá ‘chuyên biệt' để có thể đem áp dụng chung vào việc bảo vệ sức khỏe. Cơ chế của hoạt tính được giải thích là dùng trà xanh có thể giúp giảm tác động oxy-hóa gây hại của LDL=low-density-lipoproteins, giúp tăng cường hoạt động của tế bào nội mô  (endothelial cell) gây ảnh hưởng trên xơ vữa mạch máu (atherosclerosis), giúp giảm huyết áp, tăng kết tụ tiểu cầu  (platelets) và nói chung giúp thay đổi tốt trong hồ sơ lipid.

 


 

Tea Plant (Camellia sinensis): A Current Update on Use in Diabetes, Obesity, and Cardiovascular Disease.
 
 
4- Vài sử dụng khác

 
  • Răng-họng=Orodental: Thử nghiệm nơi thú vật ghi nhận khả năng bảo vệ răng chống sâu-răng (caries), tuy nhiên chưa có nhiều thử nghiệm trên người! Trà xanh có một số tác động chống các vi trùng gây bệnh răng-hàm-miệng; Trà xanh là nguồn cung cấp tự nhiên fluoride đáng kể. Trà xanh và trà ô-long ngăn chặn được sự kết bám vi khuẩn trên răng; ngoài ra trà xanh cũng ức chế hoạt động của men amylase..

 
  •  Mật độ (density) của xương:  Nghiên cứu dịch bệnh học ghi nhận trà xanh có thể có ảnh hưởng bảo vệ phụ nữ cao tuổi chống bệnh xương xốp nhưng nghiên cứu nơi thú vật lại thấy tannins có thể làm giảm sự hấp thu calcium.. vào xương!

 
  • Sưng xương khớp: Nghiên cứu nơi thú vật ghi nhận chất chống oxy-hóa trong trà xanh (cũng như trong cây cỏ khác) có khả năng chống sưng viêm.

 
  • Kiểm soát trọng lượng cơ thể (Weight control) do tiến trình thermogenesis, thử nghiệm có so sánh, đối chiếu cùng placebo cho thấy kết quả tốt, chưa được hoàn toàn đồng thuận?

 
  • Giúp giảm âu lo? Trà xanh được dùng lâu đời như một phương thuốc giải trừ âu lo? Có thể do hoạt tính của L-theanine (một acid amin có tác động an thần.

 
Theanine được biến đổi trong cây thành catechins, nên bị ảnh hưởng theo thời điểm hái trà. Theanine cũng được xem là có thể làm cân bằng hóa caffeine và giúp giảm mức cortisol tiết  ra khi cơ thể bị stress .

 
  • Tri thức: Có những thử nghiệm cho rằng các polyphenols trong trà xanh có thể giúp làm chậm các hiện tượng suy thoái (degenerative) não như trong các bệnh Parkinson và Alzheimer..

 

  • Trà xanh và sức khỏe.. ‘dưới cái nhìn' bình thường hơn..

 

      Một số các tổng kết từ các tạp chí về dinh dưỡng và sức khỏe ghi nhận:

 
  • Healthline.com (September 14, 2023)
  • WebMD (July 26, 2023)
  • GoodRx (Mar 28, 2023)

 


 

                                        Green Tea Benefits                  
 

 
                      
 
                                 Les bienfaits du Thé vert ?
 
                                

 

1- Chứa các chất chống oxy-hóa gốc cây cỏ

 
        Trà xanh chứa loại polyphenol, gọi là catechin, một chất chống oxy-hóa giúp chống hư hại tế bào. Catechin nhiều nhất trong trà xanh là epigallocatechin -3-gallate hay EGCG, Các nghiên cứu cho thấy chất này có thể giúp cải thiện nhiều trường hợp bệnh lý..

 
2- Có thể cải thiện chức năng nhận thức

 
        Một nghiên cứu năm 2017 kết luận là uống trà xanh có ảnh hưởng tốt trên nhận thức, tâm trạng=mood và chức năng của não bộ, có lẽ do các hợp chất trong trà là caffeine và L-theanine.

 
         Nghiên cứu khác, năm 2020 cho rằng trà xanh có liên hệ đến tác dụng giúp giảm đến 64% các trường hợp  rối loạn nhận thức nơi người cao và trung niên..!

 
3- Giúp tiêu chất béo (fat burning)

 
      Theo National Institutes of Health Office of Dietary Supplements: Trà xanh có thể giúp cơ thể tiêu mỡ nhưng lại ít tác dụng về giúp giảm cân.

 
4- Có thể giúp giảm nguy cơ mắc vài loại ung thư

 
       Tuy có vài nghiên cứu liên hệ trà xanh với ung thư.. nhưng không có các bằng chứng thuyết phục..

 
5- Bảo vệ óc chống lão hóa

 
         Nghiên cứu (2020) tìm thấy trà xanh liên hệ với việc làm giảm một số chất đánh dấu (markers) bệnh Alzheimer. Nhưng nghiên cứu khác (2023) lại cho rằng uống qiá nhiều trà xanh, 13 tách/ngày làm tăng nguy cơ bị bệnh Alzheimer ? Tác động của Trà xanh vào não bộ còn rt mù mờ..

 
6- Kiểm soát tiểu đường

 

   Các kết quả nghiên cứu chưa xác định được khả năng của Trà xanh trên bệnh tiểu đường?

 

   Nói chung: có thể uống trà xanh như một thức uống có thể có lợi cho sức khỏe nhưng cần chú ý là có nhiều loại, gọi chung là trà xanh, nhưng rất khác nhau về thành phần các chất trong Trà! Số lượng nước trà uống mỗi ngày cũng chưa có tiêu chuẩn để xác định .. lợi hay hại cho sức khỏe?

 

  • Vài điều cần lưu ý

 
  Theo National Center for Complementary and Integrative Health (NIH) .
                                  
                          Cafe Da Manhã GIF - Cafe Da Manhã - Discover & Share GIFs

 
  • Trà xanh, khi dùng như thức uống, có thể được xem là an toàn khi uống tối đa 8 cups/ngày (250ml) (không quá 300 mg caffeine), nên theo lượng trà pha trong mỗi cup ghi trên nhãn!

 
  • Uống trà xanh trong thời gian mang thai và cho con bú; Có thể an toàn nếu theo liều lượng tối đa trên, vượt qua giới hạn này có thể nguy hại. Trà xanh có liên hệ đến vài trường hợp "bất thường" cho thai nhi do thiếu folic acid.. Caffeine có thể qua sữa mẹ để đến trẻ sơ sinh bú sữa mẹ.

 
  • Tuy hiếm xảy ra, nhưng có trường hợp gan bị ảnh hưởng do trà xanh, nhất là trường hợp dùng ‘tinh chất trà' chế thành viên..

 
  • Trà xanh là thành phần trong nhiều ‘thực phẩm chức năng’, trong thành phẩm thuốc bán tự do,  dùng các quảng cáo thiếu chính xác, nên thận trọng khi sử dụng!

                                                  

 

 

 

Trần Minh Quân

 

 

 

 

Trở Về Trang Chính