Green Tea (Camellia sinensis): A Review of Its Phytochemistry, Pharmacology, and Toxicology.
Các bài
viết về
Trà Xanh
,
Nhật,Tàu
và Hàn
chưa đề
cập đến
vấn đề
Trà Xanh
và sức
khỏe,
TMQ xin
tóm lược
các tin
tức khoa
học về
các tác
dụng đã
được
chứng
minh và
thử
nghiệm
của Trà
xanh. Ngoài
ra cũng
xin ghi
lại một
số thông
tin về
liên hệ
của Trà
xanh với
sức khỏe
được phổ
biến
trên
‘báo
chí' và
‘truyền
thông'
Camellia
sinensis,
mọc
thành
bụi
lớn,
lá
xanh
quanh
năm,
nguồn
gốc
tại
Đông
Á,
nơi
cây
được
trồng
rộng
rãi.
Cây
có
lá
bóng,
màu
xanh
lục
đậm,
có
mùi
thơm;
hoa
màu
trắng
có
6-9
cánh
hoa.
Cây
trà
trồng
tại
các
đồn
điền
được
cắt
tỉa
chỉ
giữ
chiều
cao
khoảng
1.5m
để
giúp
dễ
dàng
cho
thu
hoạch.
Lá
Camellia
sinensis
phơi
khô
và
chế
biến
đã
được
dùng
pha
thành
nước
uống
và
làm
thuốc
từ
trên
5000
năm.
Dược
học
cổ
truyền
Tàu
đã
khuyên
dùng
nước
trà
để
phòng
bệnh,
cách
dùng
này
vẫn
được
xem
một
cách
để
bảo
vệ
sức
khỏe
tại
Á
châu.
Tại
Hoa
Kỳ,
Trà
xanh
ít
được
phổ
biến
hơn
Trà
đen.
Vấn
đề
hóa
học
của
cây
Trà
khá phức
tạp, do
nhiều
hợp
chất
được
tạo
ra
trong
quá
trình
chế
biến
và
làm
khô.
đồng
thời
còn
có
những
thay
đổi
tùy
theo:
mùa
thu
hoạch,
khí
hậu,
kỹ
thuật
trồng
tỉa
và
kỹ
thuật
chế
biến.
Tuy
nhiên,
những
kỹ
thuật
về
kiểm
soát
phẩm
chất
và
phương
pháp
phân
chất
đều
được
cải
thiện
nên
các
thử
nghiệm
lâm
sàng
càng
ngày
càng
chính
xác..
Lá
trà
chứa
hàm
lượng
khác
nhau
về polyphenols,
phần
lớn
là
các catechins.
Lá
cũng
chứa
lượng
ít
hơn
các
chất
caffeine,
theobromine,
theophylline,
theanine
và
acids
phenolic.
Polyphenol
chính
trong trà
xanh là
(-)-epigallocatechin;
ít
hơn
còn
có
catechin,
epicatechin,
gallocatechin…
Các
hợp
chất
khác
trong
lá
gồm
tannins.
tinh
dầu
béo
và
tinh
dầu
dễ
bay
hơi,
các
vitamin
nhóm
B,
ascorbic
acid
(trong
lá
tươi
nhưng
bị
hủy
khi
chế
biến
dùng
nhiệt),
folain,
malic
và
oxalic
acids.
Thành
phần
Trà
xanh,
sau
khi
chế
biến
(làm
khô
và
hấp
bằng
hơi
nước;
gây
ngưng
hoạt
động
của
men
oxydase),
gần
tương
tự
như
trong
lá
tươi,
không
nhiều
khác
biệt
đáng
kể.
Khác
biệt
căn
bản
giữa
Trà
xanh
và
Trà
đen
là
tiến
trình
lên
men
khi
chế
thành
trà
đen:
Catechins
bị
biến
đổi
thành
chất theaflavins có
phân
tử
lượng
cao
hơn
(chất
này
không
có
trong
trà
xanh).
Khử
caffeine
(decaffeination)
chỉ
làm
giảm
rất
ít
catechins
trong
trà.
Việc
thêm
sữa
vào
nước
pha
trà
không
gây
trở
ngại
cho
vấn
đề
sinh
khả
dụng
catechin
nhưng
có
thể
ảnh
hưởng
đến
khả
năng
chống
oxy-hóa
tùy
theo
lượng
chất
béo
trong
sữa..
.jpg)
Tea Plant (Camellia sinensis): A Current Update on Use in Diabetes, Obesity, and Cardiovascular Disease
Các đoạn
trích
và chuyển
ngữ trong
phần này
do từ
Chương Green
Tea, trang
605-607
của
Tập
sách The
Review
of
Natural
Products
(Facts
&
Comparisons)
Các hoạt
tính
liệt kê
trong
bài đều
có những
ghi chú
rất chi
tiết và
có thể
đối
chiếu
nguồn
gốc khi
cần tìm
hiểu
thêm.
Các
nghiên
cứu
khoa
học hiện
nay về
Trà xanh
gồm
dược-động-học
(pharmacokinetic)
và dịch
bệnh học
(epidemiologic)
chú
trọng
đến các
hoạt
tính của
Trà xanh
về
tim-mạch,
hoạt
tính
trên
lipids
và tác
dụng về
ngừa/chống
ung
thư..
1-
Hoạt
tính
chống
oxy-hóa
Giả
thuyết
quan
trọng
nhất
về
lợi
ích
của
Trà
xanh,
đối
với
sức
khỏe,
là
khả
năng
chống
oxy-hóa
của
các
chất
có
trong
trà
xanh.
Giả
thuyết
này
được
chứng
minh
qua
các
thử
nghiệm
‘in-vitro'
(trong
ống
nghiệm)
và
trong
các
nghiên
cứu
dịch
bệnh
học.
Kết
quả
của
các
thử
nghiệm
in-vitro
cho
thấy
tác
động
trực
tiếp
của
trà
trên
các
chất
oxy-hóa
và
khả
năng
phức-hóa
của
Trà
,
thu
nhặt
các
ions
sắt
và
đồng.
Epicatechin
và
catechin
là 2
chất
có
hoạt
tính
mạnh
nhất
trong
số
24
chất
flavonoids
loại
polyphenolic,
gốc
thực
vật.
Đa
số
các
thử
nghiệm
lâm
sàng
chứng
minh
được
là
uống
trà
xanh
giúp
cải
thiện
khả
năng
chống
oxy
hóa
của
huyết
tương
và
cải
thiện
các
số
liệu
về
các
chất
đánh
dấu
sinh
học
(biomarkers)
các
stress
gây
ra
do
oxy
hóa
tế
bào..
.png)
Antioxidants
2-
Trà
xanh
và
Ung
thư
Các
nghiên
cứu
dịch
bệnh
học
cùng
những
thí
nghiệm
trên
thú
vật
cung
cấp
một
số
bằng
chứng
về
tiềm
năng
của
trà
xanh
như một
‘tác
nhân'
chống
ung
thư.
Những
đánh
giá
toàn
diện
vẫn
chưa
xác
định
được
các
kết
quả
thật
sự,
tuy
nhiều
meta-analysis
đã
được
công
bố.
Cơ
chế
về
tác
động
của
trà
xanh
trên
ung
thư
đã
được
tìm
hiểu
khi
thử
trên
thú
vật
và
khi
nghiên
cứu
trong
phòng
thí
nghiệm,
nhưng
chưa
chứng
minh
được
khi
thử
trên
người.
Liều
lượng
dùng
trong
thí
nghiệm
không
phản
ảnh
được
việc
dùng
trà
xanh
thường
xuyên
và
còn
rất
nhiều
yếu
tố
khác
cũng
không
được
làm
rõ
hơn
trong
các
bài
nghiên
cứu
đã
được
công
bố.
Các
polyphenols
có tác
động
ngăn cản
sự bội
sinh tế
bào
Polyphenol epigallocatechin
gallate giúp
tăng
hoạt
tính
chống
oxy-hóa
trong
một
số
bộ
phận
cơ
thể
của
chuột,
đồng
thời
có
thêm
tác
động
bảo
vệ
chống
hóa
chất
trong
các
bộ
phận
này.
Polyphenol
này
còn
giúp
kết
bám
(binding)
trực
tiếp
vài
loại
hợp
chất
gây
ung
thư.
Các
Catechins
có
thể
bảo
vệ
tế
bào
chống
lại
sự
phát
triển
ung
bướu
bằng
cách
cải
thiện
khoảng
cách
(gap)
liên
lạc
nối
kết
(junction
communication)
giữa
các
tế
bào.
Trà
ngăn
chặn
sự
phát
triển
của
ung
bướu
bằng
cách
khóa
các
thụ
thể
của
các
tế
bào
bị
ung
thư.
Polyphenols
có
thể
giúp
chặn
nguồn
gốc
phát
sinh
ung
bướu
(tumor
genesis)
trong
các
trường
hợp
ung
thư
da,
phổi,
khoang
miệng,
thực
quản,
ruột
non,
ruột
già,
gan,
tụy
tạng,
buồng
trứng
và
hạch
vú,
Polyphenols
của
Trà
xanh
gây
tiến
trình
apoptosis
nơi
nhiều
loại
tế
bào
kể
cả
tế
bào
ung
thư
hạch
nơi
người
và
tế
bào
ung
thư
tuyến
tiền
liệt
human
prostate,
làm
thay
đổi
estradiol
và
kích
thích
tố
tình
dục,
có
liên
hệ
với
nguy
cơ
bị
ung
thư
vú.
Một
review
Cochran
không
chứng
minh
được
sự
hiệu
nghiệm
của
trà
xanh
trong
việc
ngừa
sự
tăng
trưởng
của
bướu
độc
trong
leukoplakia
(=bạch
sản
?) .
.png)
Camellia sinensis: Insights on its molecular mechanisms of action towards nutraceutical, anticancer potential and other therapeutic applications.
.png)
Camellia sinensis: Insights on its molecular mechanisms of action towards nutraceutical, anticancer potential and other therapeutic applications.
3-
Bệnh
tim-mạch
=
Cardiovascular
Nghiên
cứu
dịch
bệnh
học
và
thử
nghiệm
in
vitro
tuy
chứng
minh
được
việc
tiêu
thụ
trà
xanh
có
liên
quan
nghịch
đảo
(inversely)
với
bệnh
tim-mạch
nhưng
không
xác
định
được
rõ
ràng
về
các
liên
hệ
nguyên
do/hậu
quả
(cause-effect)
trực
tiếp.
Một
phân
tích
tổng
hợp
(meta-analysis)
cho
rằng
việc
dùng
trà
thường
xuyên
(intake
regular)
có
thể
giúp
giảm
tỷ
lệ
mắc
bệnh
(incidence)
nhồi
máu
cơ
tim
(myocardial
infarction)
và
còn
có
thêm
tác
dụng
bảo
vệ
tim-mạch;
tuy
nhiên
phân
tích
này
lại
quá
‘chuyên
biệt'
để
có
thể
đem
áp
dụng
chung
vào
việc
bảo
vệ
sức
khỏe.
Cơ
chế
của
hoạt
tính
được
giải
thích
là
dùng
trà
xanh
có
thể
giúp
giảm
tác
động
oxy-hóa
gây
hại
của
LDL=low-density-lipoproteins,
giúp
tăng
cường
hoạt
động
của
tế
bào
nội
mô
(endothelial
cell)
gây
ảnh
hưởng
trên
xơ
vữa
mạch
máu
(atherosclerosis),
giúp
giảm
huyết
áp,
tăng
kết
tụ
tiểu
cầu
(platelets)
và
nói
chung
giúp
thay
đổi
tốt
trong
hồ
sơ
lipid.
.png)
Tea Plant (Camellia sinensis): A Current Update on Use in Diabetes, Obesity, and Cardiovascular Disease.
4-
Vài
sử
dụng
khác
-
Răng-họng=Orodental: Thử
nghiệm
nơi
thú
vật
ghi
nhận
khả
năng
bảo
vệ
răng
chống
sâu-răng
(caries),
tuy
nhiên
chưa
có
nhiều
thử
nghiệm
trên
người!
Trà
xanh
có
một
số
tác
động
chống
các
vi
trùng
gây
bệnh
răng-hàm-miệng;
Trà
xanh
là
nguồn
cung
cấp
tự
nhiên
fluoride
đáng
kể.
Trà
xanh
và
trà
ô-long
ngăn
chặn
được
sự
kết
bám
vi
khuẩn
trên
răng;
ngoài
ra
trà
xanh
cũng
ức
chế
hoạt
động
của
men
amylase..
-
Mật
độ
(density)
của
xương:
Nghiên
cứu
dịch
bệnh
học
ghi
nhận
trà
xanh
có
thể
có
ảnh
hưởng
bảo
vệ
phụ
nữ
cao
tuổi
chống
bệnh
xương
xốp
nhưng
nghiên
cứu
nơi
thú
vật
lại
thấy
tannins
có
thể
làm
giảm
sự
hấp
thu
calcium..
vào
xương!
-
Sưng
xương
khớp: Nghiên
cứu
nơi
thú
vật
ghi
nhận
chất
chống
oxy-hóa
trong
trà
xanh
(cũng
như
trong
cây
cỏ
khác)
có
khả
năng
chống
sưng
viêm.
-
Kiểm
soát
trọng
lượng
cơ
thể (Weight
control) do
tiến
trình
thermogenesis,
thử
nghiệm
có
so
sánh,
đối
chiếu
cùng
placebo
cho
thấy
kết
quả
tốt,
chưa
được
hoàn
toàn
đồng
thuận?
-
Giúp
giảm
âu
lo? Trà
xanh
được
dùng
lâu
đời
như
một
phương
thuốc
giải
trừ
âu
lo?
Có
thể
do
hoạt
tính
của
L-theanine
(một
acid
amin
có
tác
động
an
thần.
Theanine
được
biến
đổi
trong
cây
thành
catechins,
nên
bị
ảnh
hưởng
theo
thời
điểm
hái
trà.
Theanine
cũng
được
xem
là
có
thể
làm
cân
bằng
hóa
caffeine
và
giúp
giảm
mức
cortisol
tiết
ra
khi
cơ
thể
bị
stress
.
-
Tri
thức: Có
những
thử
nghiệm
cho
rằng
các
polyphenols
trong
trà
xanh
có
thể
giúp
làm
chậm
các
hiện
tượng
suy
thoái
(degenerative)
não
như
trong
các
bệnh
Parkinson
và
Alzheimer..
-
Trà
xanh
và
sức
khỏe..
‘dưới
cái
nhìn'
bình
thường
hơn..
Một
số
các
tổng
kết
từ
các
tạp
chí
về
dinh
dưỡng
và
sức
khỏe
ghi
nhận:
-
Healthline.com
(September
14,
2023)
-
WebMD
(July
26,
2023)
-
GoodRx
(Mar
28,
2023)
.png)
Green Tea Benefits
Les bienfaits du Thé vert ?
1-
Chứa
các
chất
chống
oxy-hóa
gốc
cây
cỏ
Trà
xanh
chứa
loại
polyphenol,
gọi
là
catechin,
một
chất
chống
oxy-hóa
giúp
chống
hư
hại
tế
bào.
Catechin
nhiều
nhất
trong
trà
xanh
là epigallocatechin
-3-gallate
hay
EGCG,
Các
nghiên
cứu
cho
thấy
chất
này
có
thể
giúp
cải
thiện
nhiều
trường
hợp
bệnh
lý..
2-
Có
thể
cải
thiện
chức
năng
nhận
thức
Một
nghiên
cứu
năm
2017
kết
luận
là
uống
trà
xanh
có
ảnh
hưởng
tốt
trên
nhận
thức,
tâm
trạng=mood
và
chức
năng
của
não
bộ,
có
lẽ
do
các
hợp
chất
trong
trà
là
caffeine
và
L-theanine.
Nghiên
cứu
khác,
năm
2020
cho
rằng
trà
xanh
có
liên
hệ
đến
tác
dụng
giúp
giảm
đến
64%
các
trường
hợp
rối
loạn
nhận
thức
nơi
người
cao
và
trung
niên..!
3-
Giúp
tiêu
chất
béo
(fat
burning)
Theo
National
Institutes
of
Health
Office
of
Dietary
Supplements: Trà
xanh
có
thể
giúp
cơ
thể
tiêu
mỡ
nhưng
lại
ít
tác
dụng
về
giúp
giảm
cân.
4-
Có
thể
giúp
giảm
nguy
cơ
mắc
vài
loại
ung
thư
Tuy
có
vài
nghiên
cứu
liên
hệ
trà
xanh
với
ung
thư..
nhưng
không
có
các
bằng
chứng
thuyết
phục..
5-
Bảo
vệ
óc
chống
lão
hóa
Nghiên
cứu
(2020)
tìm
thấy
trà
xanh
liên
hệ
với
việc
làm
giảm
một
số
chất
đánh
dấu
(markers)
bệnh
Alzheimer.
Nhưng
nghiên
cứu
khác
(2023)
lại
cho
rằng uống
qiá
nhiều
trà
xanh,
13
tách/ngày làm
tăng
nguy
cơ
bị
bệnh
Alzheimer
?
Tác
động
của
Trà
xanh
vào
não
bộ
còn
rất
mù
mờ..
6-
Kiểm
soát
tiểu
đường
Các
kết quả
nghiên
cứu chưa
xác định
được khả
năng của
Trà xanh
trên
bệnh
tiểu
đường?
Nói
chung: có
thể uống
trà xanh
như một
thức
uống có
thể có
lợi cho
sức khỏe nhưng
cần chú
ý là có
nhiều
loại,
gọi
chung là
trà xanh,
nhưng
rất khác
nhau về
thành
phần các
chất
trong
Trà! Số
lượng
nước trà
uống mỗi
ngày
cũng
chưa có
tiêu
chuẩn để
xác định
.. lợi
hay hại
cho sức
khỏe?
Theo
National
Center
for
Complementary
and
Integrative
Health
(NIH)
.
-
Trà
xanh,
khi
dùng
như
thức
uống,
có
thể
được
xem
là
an
toàn
khi
uống
tối
đa 8
cups/ngày
(250ml) (không
quá
300
mg
caffeine),
nên
theo
lượng
trà
pha
trong mỗi cup
ghi
trên
nhãn!
-
Uống
trà
xanh
trong
thời
gian
mang
thai
và
cho
con
bú; Có
thể
an
toàn
nếu
theo
liều
lượng
tối
đa
trên,
vượt
qua
giới
hạn
này
có
thể
nguy
hại.
Trà
xanh
có
liên
hệ
đến
vài
trường
hợp
"bất
thường"
cho
thai
nhi
do
thiếu
folic
acid..
Caffeine
có
thể
qua
sữa
mẹ
để
đến
trẻ
sơ
sinh
bú
sữa
mẹ.
-
Tuy
hiếm
xảy
ra,
nhưng
có
trường
hợp
gan
bị
ảnh
hưởng
do
trà
xanh,
nhất
là
trường
hợp
dùng
‘tinh
chất
trà'
chế
thành
viên..
-
Trà
xanh
là
thành
phần
trong
nhiều
‘thực
phẩm
chức
năng’,
trong
thành
phẩm
thuốc
bán
tự
do,
dùng
các
quảng
cáo
thiếu
chính
xác,
nên
thận
trọng
khi
sử
dụng!
Trần Minh Quân