MÌ
NHẬT
Bài 1 :
Món
Ramen và
Mì ăn
liền
Trần
Minh
Quân
Người
Nhật
có
thể
được
xem
là
những
‘chuyên
gia'
về
nấu
và
ăn
mì
sợi,
như
người
Ý là
‘bậc
thầy’
trong
các
món
pasta,
Thực
phẩm
chính
hàng
ngày
của
người
Nhật
là
mì
sợi
(bên
cạnh
cơm
thổi
từ
gạo)..
Các
quán
mì
có
mặt
khắp
nơi,
tại
các
thành
phố
lớn,
nhỏ
tại
Nhật..
Người
Nhật
tin
là
các
món
mì
nước
truyền
thống
cần
phải ăn
'nhanh'
ngay
khi
'chan'
nước
lèo
nóng,
trước
khi
sợi
mì
kịp
‘nhão'
(?)
=
limp.
Ăn
mì
đúng
cách
là
gắp
sợi
mì
nóng
và
nuốt..
nguyên
sợi
kèm
theo
tiếng
'nuốt
xì-xụp'..
Niềm
vui
của
Chủ
tiệm
và
đầu
bếp
là..
tiếng
húp
mì?
Ăn
mì
nước
chậm
rãi
và
yên
lặng
là..
chê
mì
của
quán!
Ăn mì đúng cách là gắp sợi mì nóng và nuốt.. nguyên sợi kèm theo tiếng 'nuốt xì-xụp'..
“Eating
noodles
slowly
and
quietly
is
offensive
to
the
cook" (John
Belleme
in
Japanese
Foods
that
heal).
Các
món
Mì
sợi
thông
dụng
nhất
tại
Nhật
chia
thành
3
nhóm
chính
Soba,
Udon
và
Ramen.
Trong
một
Cuộc
Trưng
cầu ý kiến
tại
Nhật
vào
đầu
thế
kỷ
21,
Ramen
(ăn
liền)
được
chọn
là
phát
minh
xuất
sắc
nhất
của
thế
kỷ..
20.
Món
mì
Ramen
được
bầu
chọn
là
món
‘quốc
hồn,
quốc
túy'
của
Nhật.
Số
liệu
2018
ghi
nhận
khoản
103
tỷ
..
gói
mì
ramen
ăn
liền
được
tiêu
thụ
mỗi
năm
trên
thế
giới..
chỉ
riêng
Tàu
đã
xài
40
tỷ
gói
(39%
lượng
tiêu
thụ
của
thế
giới);
Indonesia
(12),
Ấn
(6),
Nhật
(5.7)
và
Việt
Nam
theo
sau
với
5.2
tỷ
gói..
Tính
theo
mức
tiêu
thụ/đầu
người
thì
Nam
Hàn
hạng
nhất
(74
gói/năm),
Việt
Nam
hạng
nhì
với
54
gói/năm..
Tại
Nhật
có
những
Trường
dạy
nấu
ăn
và
cả
các
Trường
Đại
học
có
môn
học Ramenology.. dạy
và
cấp
chứng
chỉ
chuyên
khoa
về..
Ramen.
Quán
mì
Ramen
tại
Nhật
còn
thông
dụng
đến
mức..
không
có
nhân
viên
phục
vụ!
Tại
quầy
có
đặt
máy
bán
hàng
tự
động,
có
các
nút
tương
ứng
với
các
món
ramen
khác
nhau
trong
thực
đơn,
chỉ
việc
bỏ
tiền
vào
máy,
chọn
món
ramen,
nhấn
nút..
lấy
ticket..
Đưa
vé
cho
đầu
bếp..
và
có
tô
mì
ramen
sau
vài
phút!
Các
Công
ty
sản
xuất
Ramen
nổi
tiếng
nhất
tại
Nhật:
Nissin
(Cup
noodles),
Sapporo
Ichiban;
Maruchan
Seimen..
Món
Ramen
xuất
hiện
tại
khu
Chợ
Tàu
ở
Yokohama
vào
đầu
thế
kỷ
20
(Yokohama
là
nơi
tập
trung
các
di
dân
tàu
gốc
Quảng
châu
và
Thượng
Hải
đến
lập
nghiệp
tại
Nhật)
Tên
Ramen
được
cho
là
gốc
từ
‘làmian',
nhưng
thật
sự
là
từ
một
món
mì
nước
tại
vùng
Nam
Trung
Hoa;
món
“char
siu
tang
mian’
(mì
nước
xá
xíu)
tại
Quảng
Đông
và
món
‘rousi
riang
man’
(mì
thịt
heo
xắt
lát
mỏng)
của
Giang
Nam.
Một
thuyết
khác
cho
rằng
Ramen
được
đưa
đến
Nhật
trong
khoảng
1660s
do
Học
giả
‘theo
Khổng
thuyết''
Zhu
Shunsui,
Ông
này
làm
cố
vấn
cho
Lãnh
chúa
Tokugawa
Mitsukuni
(1628-1701),
khi
tỵ
nạn
tại
Nhật
để
trốn
tránh
sự
cai
trị
của
Nhà
Thanh
(Mãn
Châu).
Mitsunari
có
lẽ
là
người
Nhật
đầu
tiên
thưởng
thức
món
..
mì
nước
Tàu?
Thuyết
‘Yokohama'
có
lẽ
chính
xác
hơn;
Khi
đó
(1900),
các
tiệm
ăn
Tàu
tại
Quảng
châu
và
Thượng
Hải
đều
có
bán
món
mì
nước
đơn
giản,
mì
chan
nước
lèo
nấu
bằng
xương
heo,
muối..
Người
Tàu
sống
tại
Nhật
giữ
truyền
thống
bán
mì
nước
theo
các
xe
đẩy
rong
hè
phố,
bán
ramen
và
gyoza
dumplings
cho
công
nhân
Nhật.
Đến
khoảng
giữa
thế
kỷ
19,
xe
mì
Tàu
còn
gắn
thêm
kèn
báo
‘charumera',
để
thay
tiếng
rao..
Đến
thời
Showa,
ramen
trở
thành
món
ăn
hè
phố
thông
dụng
tại
khắp
Nhật.
Theo
Nhà
Nghiên
cứu
Nhật,
chuyên
về
Ramen,
Hiroshi
Osaki,
cửa
hàng
ăn
đầu
tiên
chuyên
bán
món
ramen
tại
Nhật
là
Nhà
hàng Rairaiken,
mở
năm 1910 tại Akasua, Tokyo.
Chủ
nhân
Nhà
hàng
Kanichi
Ozaki
đã
thuê
12
đầu
bếp
Quảng
Đông
để
phục
vụ
khách
ăn.
Món
ramen
sơ
khai
này
chỉ
là
mì
làm
bằng
bột
mì,
chan
nước
lèo,
và
xếp
trên
là
thịt
‘Xá
xíu'.
Nhà
hàng
có
bán
thêm
các
món
truyền
thống
Tàu
như
hoàn
thắn
và
xíu
mại..
Nhà
hàng
gốc
Rairaiken,
đóng
cửa
năm
1976,
nhưng
còn
nhiều
tiệm
mì
khác
kiểu
tương
tự
vẫn
tiếp
tục
hoạt
động
cho
đến
nay..
Tiệm
Ramen
đầu tiên
tại
Yokohama
Nhật
thua
trận
Đại
chiến
2 và
bị
Mỹ
chiếm
đóng
từ
1945
-1952..
Tháng
12 -
1945
Nhật
chịu
một
đợt
khủng
hoảng
thiếu
gạo
toàn
quốc
trầm
trọng,
Hoa
Kỳ
phải
đưa
bột
mì
đến
cứu
đói.
Từ
1948
đến
1951,
lượng
bánh
mì
sản
xuất
tại
Nhật
tăng
vọt
từ
262
ngàn
tán
lên
612
ngàn,
và
bột
mì
theo
vào
để
món
ramen
tái
xuất
hiện,
đa
số
người
Nhật
tìm
ăn
ramen
trên
thị
trường
'đen',
thay
cho
bánh
mì
thiếu
hụt
do
chưa
kịp
phân
phối.
Tuy
Chính
quyền
chiếm
đóng
cấm
bán
hàng
rong
nhưng
vẫn
có
một
hệ
thống
bán
ramen
'chui',
vượt
kiểm
soát
của
lực
lượng
chiếm
đóng..
Đến
1950,
việc
kiểm
soát
và
trao
đổi
mua
bán
bột
mì
tại
Nhật
được
nới
lỏng,
xe
hàng
rong
bán
ramen
phát
triển
trở
lại..
Các
công
ty
ăn
uống
cho
thuê
‘bộ
phụ
tùng
‘yatai'
gồm
mì
sợi,
thịt
toppings,
tô-bát
và
đũa..
Ramen
yatai
trở
thành
một
dạng
kinh
doanh
mới
,
giúp
việc
ăn
ramen
dễ
dàng
hơn..
Món
ramen
ngày nay
trở
thành
thông
dụng tại
Nhật,
chỉ
riêng
tại
Tokyo đã
có trên
5000
tiệm mì
ramen,
toàn
nước
Nhật có
trên 24
ngàn
tiệm..
Tại
Nhật
ramen
là
món
ăn
rất
đa
dạng,
thay
đổi
theo
địa
phương
và
theo
người
bán,
tuy
có
thể
cùng
tên
nhưng
lại
khác
hẳn
nhau
và
thay
đổi
theo tare và
nước
lèo..
Tare,
tiếng
Nhật,
tên
chung
dùng
cho
sốt
chấm;
trong
ramen,
tare
dùng
nấu
nước,
là
một
pha
trộn
phức
tạp
tạo
vị,
biến
đổi
do
phối
hợp
các
tỷ
lệ
umami,
độ
mặn
-
ngọt..
Tô
ramen,
đúng
cách
Nhật,
được
'nấu'
từng
tô, thường
gồm
5
thành
phần
chính: Tare,
dầu-mỡ
tạo
mùi
thơm
(komi-abura),
nước
lèo
(soup
stock=dashi),
mì
và
toppings..
1- Sợi
mì :
Đa số mì
sợi được
làm từ 4
thành
phần căn
bản:
Bột mì,
muối,
nước và kansui (gốc
từ chữ
Hán jia
- shui =
gia
thủy),
một loại
nước có
tính
kiềm =
alkaline
do pha
sodium
carbonate,
potassium
carbonate
và có
thể có
lượng
nhỏ
phosphoric
acid).
Cần phân
biệt với
các loại
sợi mì
như
soba,
udon hay
somen..
Thành
phần sợi
mì
Kansui
được
xem
là
‘riêng
biệt'
của
mì
ramen;
Sợi
mì
ramen
làm
với
kansui
có
màu
vàng
nhạt
và
dạng
thức
chắc,
không
nhão.
sợi
ramen
có
thể
thay
kansui
bằng
trứng
gà
(sợi
mì
yakisoba,
không
dùng
kansui
hay
trứng,
nên
dạng
thức
kém
dai,
hút
ẩm
nhanh
nên
khi
chan
nước
lèo
thường
bị
nhão
rất
nhanh.
2- Tare
Tare
là
thành
phần
‘bí
mật'
của
ramen!
Pha
chế
tùy
biệt
tài
của
đầu
bếp,
trộn
chung
nước
tương
=
soy
sauce,
mirin,
sake,
rong
biển,
khô
cá
cơm..muối..
Tare,
tạo
hương
vị
cho
tô
mì,
được
xếp
thành
3
loại
chính
(theo
với
ramen).
-
‘Shio'
tare : Shio
=
muối,
là
loại
lâu
đời
nhất,
chế
biến
bằng
nấu
các
alcohol
như
mirin,
sake
cùng
các
nguyên
liệu
tạo
vị
umami
như
kimbu,
niboshi,
MSG
và
muối..
Cũng
có
khi
dùng
xương
heo,
nhưng
không
hầm
lâu
(như
trong
tonkatsu
ramen),
nên
nước
lèo
giữ
được
dạng
trong
và
vị
thanh
nhẹ.
Trong
món
Shio
ramen,
thịt
xá
xíu
=
'chashủ'
có
khi
được
thay
bằng
thịt
gà
nạc
vo
viên;
mận
muối
(Umeboshi),
và
kamaboko
(lát
chả
cá
cuộn)
bày
thành
vòng
tròn
trên
mặt
tô
mì
như
một
dạng
toppings.
Dạng
texture
của
sợi
mì
và
độ
dày
của
sợi
cũng
thay
đổi
tùy
tiệm
bán,
nhưng
thường
dạng
thẳng,
không
cuộn
vòng.
Shio
Ramen
thông
dụng
tại
Nhật
là
dạng
Hakodate
ramen.
-
Shỏyu
tare: gần
giống
với
Shio
tare,
nhưng
có
thêm nước
tương (soy
sauce),
làm
tăng
vị
mặn
và
vị
umami.
Shoyu
Ramen
thường
dùng
mì
sợi
cuộn..
Toppings
trang
hoàng
trên
mặt
còn
có
măng
tre
muối
chua
(menma),
hành
tím,
cà
rốt,
chả
cá,
rong
biển
(nori),
trứng
luộc,
giá
đậu,
tiêu
đen..
Nước
lèo
(súp)
có
thể
chứa
ớt
dầu,
ngũ
vị
hương
(?).
Có
tiệm
còn
thay
xá
xíu
bằng
thịt
bò
lát
mỏng..
-
Miso
tare
: Miso
Ramen
trở
thành
món
ramen
‘độc
đáo'
của
Nhật
vào
1965.
Miso
Ramen
là
món
‘riêng,
đặc
thù
Nhật'.
Món
mì
này
phát
xuất
từ
Sapporo
Hokkaido.
Điểm
đặc
biệt
là
nước
lèo
(súp)
nấu
do
phối
hợp
nhiều
miso
(xem
bài
Tương
miso)
pha
trộn
nước
cốt
gà,
cốt
cá,
vả
cả
mỡ
heo
(tonkatsu)..
Nước
Lèo
dạng
đặc,
hơi
ngọt
rất
đặc
biệt..
Miso
ramen
phù
hợp
với
nhiều
topping
khác
nhau,
độc
đáo
hơn
cả
là
tương
đậu
hạt
cay
(tobajan)
dạng
như
tương
tàu
xì;
hành,
tỏi
tây,
giá
đậu
xanh,
thịt
heo
xay,
bắp
cải
chín,
hạt
mè,
tiêu
sọ,
ớt
và
tỏi
băm
vụn..
Sợi
mì
thường
dai,
cuộn
vòng
và
dày..
3- Nước
lèo
(Soup)
Nước
lèo
chan
vào
tô
mì
Ramen
thường
được
nấu
từ
thịt,
xương
heo,
gà
nhưng
cũng
có
thể
từ
rau-củ
hay
cá.
(Nước
cô
lại
=
stock
cá,
dùng
cá
cơm,
mảnh
vụn
thịt
cá
ngừ,
nấm
shiitake
và
rong
biển
(kombu).
Nước
stock
Ramen
thường
chia
thành
2
loại
:
chintan
và
paitang.
-
Chintan : Stock
trong,
do
nấu
lửa
nhỏ,
thời
gian
lâu;
vớt
bọt
và
váng
trên
mặt
nhiều
lần.
Chintan
được
nấu
từ
thịt
gà,
heo,
rau-củ
và
khô
cá
cơm.
-
Paitan
: giống
nước
lèo
‘bạch
thang'
(Tàu),
đục
hơn,
trắng
nhờ
và
hơi
sệt
(creamy),
gần
như
sữa
có
bơ..
Paitan
nấu
bằng
hầm
xương
heo,
gà,
nhiệt
độ
cao
trong
thời
gian
lâu,
tủy
xương
tạo
thêm
vị
và
dạng
đục-váng.
Paitan
nổi
tiếng
nhất là tonkotsu (đừng
nhầm với
tonkatsu
là món
sườn heo
lăn bột
chiên). Tuy
‘tonkotsu'
chỉ là
tên của
một nước
súp,
nhưng
tại
Kyushu,
món
ramen
chan súp
này lại
được gọi
thành
Tonkotsu
Ramen.
Mì
ramen,
tuy
có
tiêu
chuẩn
chung,
trên
khắp
nước
Nhật
từ
thời
Taishò,
nhưng
qua
nhiều
thập
kỷ
món
ăn
được
thay
đổi
rất
nhiều
và
mang
thêm
những
tính
cách
‘ẩm
thực'
địa
phương..
Một
số
dạng
biến
đổi,
vượt
ranh
giới
địa
phương,
lan
khắp
nước:
-
Sapporo,
thủ
phủ
của
Hokkaido,
nổi
tiếng
về
món
ramen.
Người
Nhật
xem
Sapporo
ramen
như
là
miso
ramen,
phát
xuất
tại
đây
như
món
mì
nước
thích
hợp
với
vùng
khí
hậu
lạnh,
tuyết
đá..Sapporo
ramen
có
toppings
‘riêng'
có
thể
có
bắp
ngọt,
bơ
sữa,
giá
đậu
xanh,
thịt
heo
bằm,
tỏi
và
có
khi
thêm
hải
sản
địa
phương
như
biển
mai
(scallop),
mực
và
cua, Hakodate,
một
thị
trấn
khác
của
Hokkaido,
nổi
tiếng
với
món
ramen
có
vị
mặn,
và Akashikawa, thị
trấn
về
phía
Bắc
Hokkaido
lại
có
món
ramen
- xì
dầu.. Muroran có
món
ramen
cà
ry!
-
Kitakata
(ramen) có
đặc
điểm
là
sợi
mì
dày
và
phẳng;
nước
lèo
nấu
bằng
thịt
heo
và
niboshi.
Ramen
tại
địa
phương
còn
gọi
là
‘soba’
(tuy
soba
thật
sự
là
một
loài
mì
nước..
khác
hẳn?
và
soba
thật
lại
được
gọi
là
‘nihon
soba'
.
-
Tokyo
(style
ramen) dùng
mì
sợi
mảnh,
xoăn;
nước
lèo
nấu
bằng
thịt
gà
/nước
tương.
Toppings
tiêu
chuẩn
gồm
hành
thái
vụn,
menma,
thịt
heo
xắt
lát
dày,
kamaboko,
trứng
luộc
(hay
ốp-la),
nori
và
cải
salad.
Ba
vùng
nổi
tiếng
của
Tokyo
về
mì
ramen
là
Ikebukuro,
Ogikubo
và
Ebisu..
-
Yokohama
(ramen),
đặc
biệt
gọi
tên ‘le-kei' với
mì sợi
dày
và
phẳng,
nước
lèo
bằng
thịt
heo
nấu
nước
tương
kiểu
‘tonkotsu'
(có
khi
gọi
là
tonkotsu-shoyu) Toppings
thường
là
thịt
xá-xíu,
cải
nấu
chín,
những
phiến
mỏng
rong
biển
nori,
và
thêm
hành
hương,
trứng
luộc
=
soft-boiled
(bên
trong
chưa
chín
hẳn).
Khách
ăn
có
thể
chọn
dạng
mì
tùy
ý,
và
toppings
cùng
dầu
thêm
hương
vị..
-
Hakata
(ramen),
của
hạt
Hakata,
Thành
phố
Fukuoka,
Kyushu
với
đặc
điểm
nước
lèo
nhiều
mỡ,
đục
nấu
bằng
xương
heo
(kiểu
tonkotsu);
sợi
mì
mảnh
và
dai.
Toppings
có
tỏi
nghiền
nát,
gừng
muối
chua,
mè
hạt
và
dưa
cải
chua
để
trong
dĩa
cạnh
tô
mì
để
khách
tự
ăn
kèm..
Nhiều
tiệm
mì
Hakata
ramen
đã
phát
triển
ra
nhiều
nơi
tại
Nhật
(kể các
chuỗi
nhà
hàng
ăn
chuyên
bán
Hakata
ramen..
Tại
Hakata,
còn
có
dịch
vụ
'kaedama'
gọi
thêm
mì,
khi
còn
nước
lẻo
nóng
!
(hình
thức
refill
kiểu
Mỹ).
-
Nagoya
(ramen),
tên
gọi
tại
Nhật
của
món
ramen
(Taiwan)?
nước
lèo..
cay
và
thịt
heo
toppings
cũng
cay.
Vượt
ra
ngoài
nước
Nhật,
món
mì
nước
ramen
có
những
biến
thể
tại Tàu, và
gọi
là
Mì
nước
kiểu
Nhật 'rishi
lámiàn'.
Nam
Hàn
gọi
món
mì
ramen
là ramyon, khá
thông
dụng
và
nhiều
dạng
như 'kimchi-ramyon'..
Tuy
topping
vẫn
là
trứng
gà,
rau
củ
như
cà
rốt,
hành,
nhưng
cũng
có
thể
thêm
các
toppings
đa
dạng
khác
tùy
đầu
bếp..
Tại
Hoa Kỳ,
chuỗi
nhà hàng
Wagamama
(gốc
Anh) có
những
tiệm ăn
bán mì
ramen;
chuỗi
Jinya
Ramen
Bar,
chuyên
bán tonkotsu
ramen..
Hình
Instant
Ramen
tại
Nhật
Năm
1958,
Công
ty
Nissin
Foods
đâ
phát
minh
ra
Mì
ăn
liền,
và
Ramen
ăn
liền,
chỉ
pha
thêm
nước
sôi
được
xem
là
một
sáng
kiến
lớn
nhất
tại
Nhật
vào
thế
kỷ
20
!.
Từ
1980s,
ramen
trở
thành
biểu
tượng
văn
hóa
Nhật
và
được
nghiên
cứu
trên
toàn
thế
giới..
Cũng
trong
thời
gian
này,
nhiều
loại
ramen
ăn
liền
xuất
hiện
tại
Nhật
và
còn
được
đặt
thêm
những
tên
riêng
để
phân
biệt
khi
mua
bán.
Từ
1971
NIssin
Foods
đã
xuất
cảng
‘ramen
ăn
liền'
ra
thị
trường
bên
ngoài
Nhật,
mang
tên "Oodles
of
Noodles",
và
đến
1972,
đổi
tên
thành
“Nissin
Cup
Noodles'
đựng
trong
cốc
làm
bằng
bọt
xốp
(foam),
gọi
là Cup
Ramen
tại
Nhật.
Sau
đó
Cup
Ramen
đi
khắp
thế
giới.
Danh
từ
ramen
tại
Hoa
Kỳ
trở
thành
tên
chung
cho
các
loại
mì..
gói
‘ăn
liền'
(không
còn
phân
biệt..
Udon,
yakisoba..
Một lý
thuyết
khác lại
cho rằng
nguồn
gốc của
mì ăn
liền là
từ
Taiwan,
do Chang
Kuo-wen,
tại
Pingtung,
sáng chế
và cầu
chứng
tại
Taiwan
năm
1956;
sau đó
Chang đã
bán bằng
sáng chế
cho Ando
vào
tháng
8-1961..
với giá
23 triệu
Yen..
Instant
ramen
hay
Instant
noodles
được
xếp
vào
một
loại
thực
phẩm
gồm
mì
sợi,
bán
dưới
dạng
đã
nấu
chín,
làm
khô,
đóng
thành
bánh
kèm
theo
một
gói
gia
vị
và
có
khi
một
gói
dầu-mỡ
tạo
hương.
Bloc
mì
khô
khi
ăn
sẽ
được
nấu
hay
nhúng
trong
nước
sôi
trong
một
thời
gian
ngắn
chỉ
3-4
phút..
Mì
ăn
liền,
là
‘sáng
kiến'
của
Ông Momofuku
Ando tại
Nhật.,
xuất
hiện
lần
đầu
tiên
ngày
25
tháng
8
1958,
do
Công
ty
Nissin
bán,
dưới
tên
cầu
chứng Chikin
ramen.
Ando
chỉ
có
thể
phát
minh
Chikin
Ramen
nhở
nhiều
'sáng
kiến’
trong
kỹ
thuật
sản
xuất
thực
phẩm
đã
xảy
ra
tại
Nhật
trước
đó :
-
Yoshio
Murata,
1953
đã
chế
tạo
dược
hệ
thống
máy
cuộn
mì
sợi
thành
dạng
sóng,
nhanh
gấp
12
lần
cuộn
thủ
công
nên
có
thể
sản
xuất
‘mì
cuộn
xoăn'
hàng
loạt,
và
sau
đó
cắt
thành
từng
khối
mì
vuông,
dạng
sóng
vừa
nhỏ
để
đóng
gói;
Sợi
mì
không
dính
lại
với
nhau
khi
nấu
chín,
chín
đều,
mùi
và
vị
được
cải
thiện..
Mì
cũng
không
bị
vỡ
vụn
khi
chuyển
vận,
dễ
tồn
trữ,
sợi
mì
khi
chín
có
độ
dẻo
để
gắp
được
bằng
đũa.
-
Ando
nghiên
cứu
phát
triển
được
một
phương
pháp
chế
tạo
dây
chuyền
: flash-frying
noodles ,
khởi
đầu
từ
làm
sợi
mì,
hấp
chín,
thêm
gia
vị..
hút
nước
khỏi
bánh
mì
bằng
dầu
nóng,
để
tạo
ra
mì
‘ăn
liền'.
Mì
khô
này
có
thể
tồn
trữ
lâu
trên
kệ
của
các
chợ
thực
phẩm,
lâu
hơn
cả
dạng
mì
đông
lạnh..
Gói
mì
khô
chỉ
cần
nấu
2
phút
trong
nước
sôi
là..
có
tô
mì
ăn
được
ngay..
Lúc
này
tại
Nhật
giá
mì
‘instant'
còn
tương
đối
đắt
( 6
lần..
mì
tươi
thường!)
nên
thuộc
loại
xa
xỉ
phẩm.
Nhờ
những
cải
thiện
về
Kiểm
Phẩm,
nên
các
Nhà
sản
xuất
Instant
Ramen
đã
biến
đổi
được
hương
vị
của
ramen,
bằng
cách
làm
những
gói
gia
vị
riêng,
khác
nhau..
-
Năm
1971,
Nissin
đưa
ra
thị
trường Nissin
Cup
Noodles,
một
cải
biến
tạo
thuận
tiện
cho
người
tiêu
thụ..
chỉ
cần
thêm
nước
sôi
vào
cốc
mì
‘instant',
và
rồi
sau
đó
còn
sáng
kiến
thêm
rau
khô'
vào
cốc,
nước
sôi
làm
chín
nở
rau..
và
cốc
mì
trở
thành
gần
như
một
tô
mì
‘thu
gọn',
tuy
không
toàn
hảo
như
tô
mì
nước
bán
tại
tiệm..
nhưng
có
thể
ăn
bất
cứ
lúc
nào
tại
nhà..
Mì ramen nấu bất cứ lúc nào tại nhà
-
Thành
phần
của
Mì
instant
:
Cũng
như
món
Mì
nước
Ramen,
mì
ramen
instant
làm
từ
bột
lúa
mì
gồm
3
thành
phần
chính:
bột
mì,
nước
và
muối,
quy
định
thực
phẩm
của
USDA
(Mỹ)
cho
phép
dùng
thêm
dầu
cọ
(palm
oil),
phụ
gia
tạo
vị,
sodium
phosphates,
tinh
bột
khoai
tây
và
một
số
chất
phụ
thêm
thác..
Sợi
mì
có
thể
được
làm
từ
nhiều
loại
bột
khác
nhau
như
bột
lúa
mì,
bột
gạo
và
bột
kiều
mạch
=
buckwheat.
Trong
trường
hợp
mì
ăn
liền,
bột
thường
chứa
tối
ưu
khoảng
8.5-12.5%
protein
vì
sợi
mì
cần
giữ
được
nguyên
dạng
khi
làm
khô,
không
rời
vụn;
hàm
lượng
protein
cao
giúp
giảm
hấp
thu
chất
béo.
Gluten
(gồm
glutenin
và
gliadin),
là
chất
quan
trọng
trong
bột
lúa
mì
giúp
sợi
mì
có
độ
nhớt
dẻo
(viscoelasticity).
Nước
cũng
là
một
yếu
tố
quan
trọng
khi
chế
tạo
sợi
mì.
Sự
kiện
hút
thấm
nước
khi
nhào
trộn
khối
bột
(dough)
sẽ
quyết
định
cho
kết
cấu
của
gluten,
tạo
ảnh
hưởng
trên
độ
nhớt-dẻo.
Tỷ
lệ
hút-ngấm
nước
khi
làm
mì,
chiếm
khoảng
30-38%
trọng
lượng
bột.
Trường
hợp
instant
noodles,
giai
đoạn
loại
nước
rất
quan
trọng
vì
mì
sau
làm
khô,
nước
còn
lại
trong
mì
có
thể
là
môi
trường
cho
các
vi
sinh
vật
phát
triển.
USDA đưa
ra
nhiều
quy
định
về
độ
ẩm
trong
mì
ăn
liền,
tùy
theo
phương
pháp
loại,
khử
nước
(dehydration)
:
Khi
khử
nước
bằng
cách chiên, độ
ẩm
tối
đa
là
8%,
và
khi
làm
khô
bằng
các
phương
pháp
khác,
độ
ẩm
tối
đa
được
định
là
14.5%.
Thành
phần
sợi
mì
Vai
trò
của
Nước
khi
làm
ramen
(theo
Ramenology)
Muối
được
thêm
vào
ở
giai
đoạn
nhào
khối
bột
nhão
(dough)
khi
cán
mì,
giúp
tăng
kết
cấu
của
gluten
và
giúp
các
đặc
tính
cán
thành
phiến
của
khối
dough,
làm
sợi
mì
dẻo
và
đàn
hồi
hơn.
Muối
cũng
tăng
vị
căn
bản
của
sợi
mì,
che
giấu
bớt
các
vị
không
tốt
của
bột.
Muối
còn
có
tác
dụng
làm
chậm
các
hoạt
động
của
các
men
như
men
thủy
phân
protein
(proteolytic
enzymes),
men
gây
hỏng
cấu
trúc
gluten
và
làm
giảm
sinh
sản
của
vi
sinh
vật.
Các
muối
kiềm
như
carbonates
sodium
và
potassium,
thêm
vào
dough
,
giúp
gia
tăng
màu
vàng
nhạt
cho
sợi
mì
(không
cần
thêm
tròng
đỏ
trứng
gà)..
Tỷ
lệ
muối
trong
mì
tươi
khoảng
1-3%
(tính
theo
trọng
lượng
khối
dough)
nhưng
có
thể
cao
hơn
trong
sợi
mì
ramen
instant,
để
giúp
thời
gian
tồn
trữ
lâu
hơn.
Kansui,
phát
âm
Nhật
của"Jian
Shui'
(Hán
việt
Kiềm
thủy)
là
tên
gọi
một
loại
nước
kiềm
chứa
tỉ
lệ
hai
chất
carbonate
sodium/potassium
9:1,
được
thêm
vào
bột
và
nước
khi
chế
tạo
sợi
mì,
giúp
tạo
nhiều
đặc
tính
riêng
cho
sợi
mì,
giúp
phát
triển
gluten
tạo
gel-hóa
tinh
bột,
tăng
đàn
hồi
cho
sợi
mì,
đồng
thời
giúp
tạo
màu
vàng
tươi
cho
sợi
mì..
Mì ramen có màu vàng tươi
(Kansui
thiên
nhiên
được
đun
sôi
'muối'
lấy
từ
bờ
biển
phía
Tây-Bắc
Trung
Hoa?)
Kansui
có
thể
'so'
với Nước
tro
tàu
(lye
water)
với
tỷ
lệ
potassium/sodium
khác
nhau.
.png)
Liên
hệ
giữa
Kansui
và
Ramen
Chiên
bằng
dầu
là
phương
pháp
khử
nước
(dehydration)
thường
dùng
khi
làm
mì
'instant',
và
dầu
chiên
là
một
thành
phần
quan
trọng
trong
'instant
ramen'.
Theo
quy
định
của
USDA,
mì
ăn
liền
chiên
bằng
dầu
không
được
chứa
quá
20%
chất
béo
(tính
theo
trọng
lượng
của
mì),
vì
theo
lý
thuyết,
lượng
chất
béo
trong
mì
sau
khi
chiên
, có
thể
cao
hơn?
Dầu
dừa
(trong
nhóm
dầu
cọ)
được
chọn
do
nhiệt
ổn
định
và
giá
rẻ,
tuy
nhiên,
xét
chung,
dầu
dừa
chứa
chất
béo
cao
và
độ
ẩm
kém,
nên
mì
ăn
liền
chiên
bằng
dầu
dừa
dễ
bị
lipid-oxy
hóa,
nên
phải
thêm
nhiều
chất
bảo
quản,
có
tác
hại
về
phương
diện
sức
khỏe..
Tinh
bột
khoai
tây
được
thêm
vào
mì
giúp
tăng
đặc
tính
gel-hóa
và
khả
năng
giữ
nước
của
sợi
mì.
Polyphosphate thêm
vào
mì
ăn
liền,
cũng
giúp
gel-hóa
tinh
bột
khi
nấu
(do
tái
hấp
thu
ẩm),
giúp
sợi
mì
giữ
thêm
nước.
Hydrocolloids tạo
kết
dính,
như
các
loại
'gôm'
(thường
dùng
gôm
guar)
cũng
có
các
tác
dụng
như
polyphosphates,
nhưng
có
thêm
đặc
tính
giúp
thu
ngắn
được
thời
gian
nấu
chín
mì
khi
ăn..
Trước
khi
đóng
gói,
cùng
các
gia
vị,
các
bánh
ramen
(đã
chiên)
để
nguội,
được
kiểm
soát
về
độ
ấm,
màu
sắc
và
hình
dạng
cho
đồng
đều.
Gói
bọc
thường
là
loại
phim
bảo
vệ
chống
không
khí
và
nước
ấm.
Có
hai
dạng
đóng
gói
chính:
bao
nhỏ
và
cốc
(hay
tô)
bằng
styrofoam,
nắp
tô
đậy
bằng
phim;
Trong
bao
mì
hay
trong
cốc
có
thêm
gói
gia
vị.
Nhiều
gia
vị
khác
nhau
để
khách
ăn
lựa
chọn
theo
khẩu
vị
như
bò,
gà,
heo,
tôm..
Mì
'cốc'
thường
được
thêm
protein
đậu
nành,
rau-hành
lá
(sắt
vụn)
sấy
khô..
Thời
gian tồn
trữ của
ramen
đóng gói
có thể
từ 4 đến
12
tháng,
tùy các
yếu tố
môi
trường
nơi trữ.
Độ ổn
định của
thành
phẩm
cũng tùy
thuộc
hàm
lượng
muối và
độ ẩm
trong
sợi mì..
Mì
ăn
liền
(các
loại,
kể
cả
ramen)
được
xếp
vào
loại
thực
phẩm
không
giá
trị
=
junk
về dinh
dưỡng,
không
có
lợi
cho
sức
khỏe.
Một
'phần
ăn =
servings
chứa
các
lượng
cao
carbohydrates,
muối
và
chất
béo,
nhưng
lại
thấp
về
protein,
sơ
dinh
dưỡng,
vitamin
và
khoáng
chất..
Theo
USDA,
một
gói
ramen
ăn
liền 81g chứa
14g
chất
béo
tổng
cộng
trong
đó
có
6.58g
chất
béo
bão
hòa
(saturated).
Một
số
liệu
khác
về Ramen
vị
gà ghi
1
phần
ăn
= nửa gói
có
188
calories,
27g
carbohydrate,
7g
chất
béo
tổng
cộng,
5g
protein,
891mg
muối
(một
gói
chứa
đến,
1.76g
muối).
Các nguy
cơ có
thể có
..?
Sự
kiện
tăng
tiêu
thụ
mì
ăn
liền
tại
Nam
Hàn
được
ghi
nhận
là
có
liên
hệ
đến
việc
tăng
các
trường
hợp
mắc
bệnh
tiểu
đường
và
các
hội
chứng
tim-mạch
liên
quan
đến
ăn
uống
(cardiometabolic
syndrome(Nam
Hàn
là
quốc
gia
có
số
tiêu
thụ
mì
ăn
liền,
tính
theo
đầu
người,
cao
nhất
thế
giới.
Nghiên
cứu tại
Nam Hàn,
theo dõi
3397
sinh
viên
tuổi
18-29
khi kiểm
soát sức
khỏe
định kỳ;
dựa theo
các chỉ
tiêu về
tuổi,
trọng
khối cơ
thể =
body
mass
index,
phái
tính,
lợi tức
gia
đình, và
các yếu
tố khác
về ăn
uống..
cho thấy
một tương
quan giữa
ăn mì
(ăn
liền)
với sự
tăng mức
triglycerides
trong
huyết
tương,
tăng
huyết áp
tâm thu,
và tăng
glucose
khi nhịn
ăn (fast
glucose
level)
nơi tất
cả các
sinh
viên
tham gia
thử
nghiệm.
Các
thông số
kỹ thuật
đều có
những
khác
biệt rõ
ràng khi
đối
chiếu
với các
sinh
viên ăn
ít hay
không ăn
mì (ăn
liền) ít
hơn 1
gói/tháng
https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC1018179/
Nghiên
cứu,
phân
tích
khác
của
Harvard
University
và
Baylor
(2014)
theo
dõi
cách
ăn
uống
của
10700
người
(54%
nữ)
19-64
tuổi
tại
Nam
Hàn,
ghi
nhận
:
Nhóm
phụ
nữ
ăn
mì
gói
nhiều
hơn
2
gói/tuần
có
68%
cao
hơn
về
nguy
cơ
mắc
bệnh
metabolic
syndrome.
https://www.livescience.com/47366-instant-noodles-heart-risk.htlm
Để
tồn
trữ,
Ramen
được
thêm TBHQ (tertiary-butylhydroquinone),
một
hóa
chất
gốc
dầu
hỏa
(petroleum-based)
khó
tiêu
hóa.
Hóa
chất
này
gặp
trong
thuốc
trừ
sâu
và
sơn
lắc.
TBHQ
được
xem
là
an
toàn
khi
dùng
lượng
cực
nhỏ
trong
thực
phẩm
theo
các
hàm
lượng
cho
phép.
Những
nghiên
cứu
trên
thú
vật
ghi
nhận,
dùng
lâu
dài,
có
thể
gây
những
tổn
hại
thần
kinh,
tăng
nguy
cơ
ung
thư
loại
lymphoma
và
tổn
thương
gan!
Ngoài
ra
nhiều
người
khi
‘tiếp
xúc'
với
TBHQ
có
thể
bị
các
rối
loạn
về
thị
giác.
Thử
nghiệm
trong
ống
cho
thấy
TBHQ
có
thể
gây
tổn
hại
DNA.
Đa
số các
Mì gói
Ramen
đều có
chứa MSG (Monosodium
Glutamate
hay Bột
ngọt),
dùng như
một chất
tăng vị,
ăn ngon
miệng
hơn.
Phản ứng
với MSG
thay đổi
tùy yếu
tố chủng
tộc..
Lượng
thêm vào
Ramen
được xem
là an
toàn
‘chung'
cho giới
tiêu thụ.
Trần
Minh
Quân 5-2023
-
Vài
nhãn
Mì
Ramen
Nissin
tại
Chợ
thực
phẩm
(Mỹ):