MÌ
NHẬT
Bài 2 : Mì
Udon
Trần
Minh
Quân
Xin đọc
Bài 1 :
Tô
mì Udon
‘tiêu
biểu'
Udon,
cùng
với
Soba,
là
hai
loại
mì
sợi
được
dân
Nhật
ưa
thích
hơn
cả
Ramen.
Món
mì
Udon,
cũng
như
Ramen,
căn
bản
là
một
món
mì
nước
nên
cũng
gồm
các
phần
chính
là
sợi
mì,
nước
dùng
và
toppings;
riêng
với
sợi
mì
udon
còn
có
thêm
các
món
Udon
chiên-đảo
(stir
fried)
và
lẩu
Udon
(hotpot).
Danh từ
Udon
thường
dùng
chung
cho cả
sợi mì
và món
ăn Udon.
Tại
Nhật,
vùng
sản
xuất
Udon
chính
là
Hạt
Kagawa,
địa
hạt
nhỏ
nhất
trong
toàn
quốc
với
khoảng
1
triệu
dân,
chỉ
riêng
tại
Kagawa,
năm
2005,
đã
dùng
10
ngàn
tấn
bột
lúa
mì
để
chế
thành
sợi
udon,
chiếm
29%
lượng
bột
dùng
toàn
nước
Nhật
(khoảng
33
ngàn
tán)..
Chỉ
riêng
trong
Hạt
Kagawa
đã
có
trên
700
tiệm
ăn
chuyên
bán
món
mì
udon.
Hàng
năm,
ngày
2
tháng
7 là
‘Ngày
Udon'
Nhật,
được
ăn
mừng
tại
Kagawa,
và
là
Ngày
‘thi’
làm
sợi
mì
Udon
tươi,
tập
trung
thợ
làm
mì
xuất
sắc
trong
toàn
quốc,
trổ
tài
để
chọn..
“Người
làm
mì
Udon
ngon
nhất
trong
năm..”
Cũng
như Mì
Ramen,
tại Nhật
có những
‘chuỗi'
tiệm ăn
chuyên
bán món
mì Udon.
Công ty
Yoshinoya
Holdings
Co., Ltd
Enterprise,
ra đời
năm 2001
chỉ với
5 Nhà
hàng lớn
chuyên
bán
Udon,
qua 2008
số tiệm
ăn lên
đến trên
250,
Công ty
có 4
xưởng
làm mì
riêng..
Doanh số
lên đến
trên 18
tỷ
Euro..
Khác
với
các
món
mì
nước
tại
Nhật,
mà
công
thức
nấu
dựa
theo
cách
nấu
của
Tàu
như
‘ramen',
Món
mì
Udon
(và
mì
Soba)
được
xem
như
món
truyền
thống
Nhật.
Tuy
nhiên,
một
số
tài
liệu
lại
ghi
Udon
đến
Nhật
cũng
từ
Tàu
vào
khoảng
thế
kỷ I
đến
thế
kỷ
VIII
(?)
Truyền
thuyết
chép
lại
rằng
Không
Hải
(Kukai)
(27-07-774
-
22-04-835),
một
thiền
sư
tại
Kagawa,
sau
khi
học
Mật
tông
tại
Trung
Hoa,
đã
đem
món
mì
Udon
về
Nhật.
Kukai,
còn
gọi
là
Kobo-daishi
(Hoằng
Pháp
Đại
sư),
là
vị
thành
lập
Giáo
phái
Shingon
=
Chân
ngôn
tông
(kết
hợp
các
tinh
yếu
từ
Phật
giáo,
Thần
đạo
Shinto..)
và
là
vị
tu
sĩ
nổi
tiếng
thông
thái
nhất
của
Thời
Heian
(794-1185).
Ông
được
đi
Trường
An
(Xian)
học
Đạo
và
khi
về
lại
Nhật,
đã
đem
và
ứng
dụng
các
hiểu
biết
kỹ
thuật
Phật
giáo
Tàu,
kể
cả
món
‘mì
Trường
An?’.
Ông
cho
xây
dựng
các
hệ
thống
dẫn
nước,
đào
hồ
chứa
nước
cho
nông
gia..
Hồ
Manno
tại
Tây-Nam
Kagawa
cung
cấp
nước
cho
toàn
vùng
Marugame,
khô
cằn
và
ít
mưa,
thường
bị
lũ
lụt
gây
hư
hỏng..
Ông
cũng
thiết
kế
các
hệ
thống
đập
điều
hòa
nước
từ
1200
năm
trước,
và
các
nhân
công
xây
đập
được
cung
cấp
mì
‘Tây
An'
làm
lương
thực
khi
làm
việc.
Cũng
theo
truyền
thuyết
này
thì
Sợi
mì
Udon
phát
xuất
tại
Đền
Takinomiya
Tenmangu
tại
Thành
phố
Ayagawa
và
ông
Chisen,
cháu
của
Thiền
sư
Kukai
đã
chế
tạo
theo
chỉ
dẫn
trực
tiếp
của
Kukai;
Thời
gian
này
udon
chưa
có
dạng
sợi
ống,
nhưng
chỉ
là
các
miếng
bột
tròn
dẹp..
Họa
sĩ
Iwasa
Kiyonobu
(1688-1704)
đã
vẽ
bức
tranh
“Kompira
Sairei
Zu-byobo'
mô
tả
ngày
Lễ
hội
tại
Đền
Kotohira,
Bức
tranh
vẽ
khách
dự
lễ
hội
và
các
quầy
hàng,
3
trong
số
các
quầy
là
các
quán
bán
udon
với
các
công
đoạn
làm
sợi
mì
như
phương
thức
làm
sợi
udon
ngày
nay.
.png)
Tranh “Kompira..” 1 & 2
Sau
khi
đến
Nhật,
Udon
đã
được
biến
đổi
để
đáp
ứng
theo
khẩu
vị
dân
chúng.
Thời
Muromachi
(1338-1573)
món
mì
Udon
chỉ
được
biết
tại
các
đền,
tu
viện
Phật
giáo
Nhật,
và
sau
đó
chỉ
được
phổ
biến
trong
dân
gian
từ
thời
Edo
(1603-1868).
Trong
thời
Edo,
người
Nhật
toàn
quốc
có
truyền
thống
đi
hành
hương
(gọi
là
Kompira-mairi)
đến
Đền
Kotohira
và
dùng
món
Sanuki
udon
tại
các
quán
ăn
ngoài
cộng
Đền.
Để
đến
hành
lang
chính
của
Đền,
khách
phải
bước
lên
785
bậc
thang
đá,
theo
con
đường
từ
cổng
ngoài
vào
đến
Đền
thờ..
Các
quán
bán
mì
nước
Udon
có
cho
mượn
các
gậy
tre..
giúp
khách
chống,
đỡ
chân,
khi
leo
các
bậc
thang.
Khách
hành
hương
mang
theo
hương vị
udon khi
trở về
nhà..
Ngày
nay,
vài
quán
mì
Udon
cổ
xưa
vẫn
tồn
tại,
cạnh
các
quán
mới
tại
khu
vực
chân
đồi
quanh
Đền
Kotohira..
Văn
bản
cổ
nhất,
mô
tả
công
thức
và
cách
làm
món
Udon
là Ryori
monogatari (Lịch
sử
Nấu
nướng)
xuất
bản
năm
1643.
Vào
giai
đoạn
này,
món
Udon
chỉ
thông
dụng
tại
các
vùng
Osaka
và
Kyoto..
Năm
1713,
Udon
được
đưa
vào
Kịch
bản
Surekoku,
có
màn
người
bán
Udon
và
vai
chính
là
một
công
nhân
chế
sợi
mì
Udon
tại
một
xưởng
(bên
cạnh
Rạp
hát).
Qua
Thế
kỷ
19,
Mì
Soba
thông
dụng
quanh
Tokyo,
còn
mì
Udon
quanh
vùng
Osaka..
Đến
Thời
Minh
Trị
(Meiji),
1868,
Nước
Nhật
mở
cửa,
giao
tiếp
với
bên
ngoài,
trao
đổi
văn
hóa,
ẩm
thực,
đưa
đến
nhiều
thay
đổi
trong
phương
cách
chế
biến
thực
phẩm..
Năm
1884,
Hệ
thống
máy
chế
tạo
sợi
mì
được
T.
Masaki
đem
vào
Nhật
và
đã
tạo
một
cuộc
‘cách
mạng'
trong
việc
sản
xuất
các
loại
sợi
(mì,
bún
gạo,,)
trong
công
nghiệp.
Sự
phổ biến
thực
phẩm sản
xuất
theo
‘công
nghiệp
hóa’ đã
đưa đến
việc
phát
triển
các
nghiên
cứu liên
hệ, chú
tâm đến
mì, bún,
và các
nghiên
cứu được
tài trợ
bởi các
Cơ sở
thương
mại phối
hợp với
các
Trường
Đại
Học..
-
Cách
sản
xuất
sợi
mì
Udon
Sợi mì
udon màu
trắng,
trắng
nhờ,
beige..mềm
và dẻo.
Theo
truyền
thống,
sợi
mì
được
làm
từ
các
nguyên
liệu
bột
lúa
mì,
nước
và
thêm
muối;
khi
nấu
chín
mì
thì
dùng
nước
biển.
Tỷ
lệ
nguyên
liệu:
100
phần
bột
+
32-35
phần
nước
và
có
thêm
2-3
phần
muối.
Tỷ
lệ
này
thay
đổi
tùy
theo
cách
nấu
mì,
loại
udon
muốn
có,
cùng
dạng
thức
của
sợi
mì
và
cả
điều
kiện
thời
tiết
của
ngày
làm
sợi
mì.
Bột
lúa
mì
chứa
ít
protein
(8-10%),
thường
chọn
loại
semi-soft
wheat
=
blé
semi-tendre
(Mã
số
type
65
hay
80).
Bột
mì
loại
này
cũng
chứa
ít
chất
khoáng
(tỷ
lệ
tro
chỉ
0.36-0.4%).
(Bột
mì
tiêu
chuẩn
hiện
nay
là
Bột
lúa
mì
nhập
tử
Tây
Úc,
loại
Australian
Standard
White
(ASW),
có
hàm
lượng
tinh
bột
tương
tự
như
lúa
mì
Nhật.
Lúa
mì
trồng
tại
Nhật
chỉ
cung
ứng
được
10%
nhu
cầu,
nên
phải
nhập
thêm
đến
90%.
Các
nguyên
liệu
được
trộn
đến
khi
tạo
được
một
bánh
cứng
và
chắc.
Vì
độ
cứng
không
thể
nhào
bằng
tay
nên
khối
bột
được
bọc
lá,
rồi
đạp
bằng
chân
đến
khi
đủ
mềm
để
có
thể
trải
mỏng
và
cắt
(trong
thương
mại,
nhào
bằng
máy
thay
vì
đạp
chân).
Khối
bột
nhào
được
trải
mỏng
và
cắt
bằng
dao
'chuyên
dụng' udon-kiri' thành
các
dải
mì
đồng
dạng,
Sợi
mì
khá
dày
(riêng
sợi
mì
udon
sanuki
có
phần
mảnh
hơn).
Với
bề
dày
từ 2
đến
3-9mm,
sợi
mì
udon
là
sợi
dày
nhất
trong
tất
cả
các
loại
sợi
mì
Nhật
(loại
sợi
mì hira-men,
tuy
lớn
hơn
nhưng
mỏng
hơn).
Sợi
mì
sau
đó
được
bỏ
trong
thùng
nước
sôi;
khi
nước
bắt
đầu
bốc
hơi
sẽ
được
thêm
ngay
nước
lạnh
và
tiếp
tục
đun
sôi
đến
chín..
3 Công đoạn sản xuất thủ công
Trong
sản
xuất
công
nghiệp,
bột
nhồi
được
cắt
bằng
máy
thành
những
sợi
có
độ
dày
khác
nhau
tùy
nghi.
Sợi
mì
được
bán
ra
thị
trường
dưới
ba
dạng
khác
nhau:
-
Dạng
sợi
tươi
được
làm
khô
(séché)
hay kan-men. cần
qua
một
phương
pháp
làm
khô
riêng.
Sợi
mì
tươi
tương
đối
dày
nên
có
thể
bị
gãy
nếu
làm
khô
quá
nhanh.
Tiến
trình
làm
khô
phải
qua
3
giai
đoạn:
-
Giai
đoạn
đầu
sợi
mì
được
đưa
vào
nơi
có
nhiệt
độ
thấp
(15-20°C),
ở
nhiệt
độ
này,
độ
ẩm
trên
bề
mặt
sợi
mì
được
lấy
đi,
giảm
bớt
sức
căng
bề
mặt
do
trọng
lượng
của
sợi
mì.
- Giai
đoạn 2,
ẩm độ
môi
trường
được giữ
trong
khoảng
70-80%,
nhiệt độ
khoảng
30-35 độ
C. Độ ẩm
này cần
thiết để
giữ cân
bằng với
độ ẩm
bên
trong
sợi mì
đang chế
biến.
-
Giai
đoạn
sau
cùng,
lượng
nước
trong
sợi
mì
sẽ
được
loại
bớt
xuống
còn
14%,
bằng
cách
giảm
dần
nhiệt
độ
làm
khô
để
sợi
mì
không
bị
gãy..
Gói
mì
udon
(khô)
-
Dạng
nấu
chín
hay yude-men:
Đây
là
dạng
thường
được
bán
trên
thị
trường,
bán
theo
trọng
lượng
lớn
(en
vrac)
hay
lượng
nhỏ
hơn,
đựng
trong
các
túi
plastic,
hoặc
trong
các
vật
dụng
chứa
đã
khử
trùng.
Tùy
theo
vật
dùng
đựng
sợi
mì,
sợi
mì
sẽ
được
nấu
chín
theo
các
cách
thức
khác
nhau:
-
Đóng
gói ‘vrac’
và
túi
plastic đơn
giản: Sợi
mì
được
nấu
trong
nước
sôi
từ
10
đến
25
phút.
Nước
nấu
sôi
mì
có
pH
giữa
5.5
đến
6.
Trọng
lượng
của
sợi
mì
sau
khi
chế
biến
sẽ
gấp
2-5
đến
4
lần
trọng
lượng
của
bột
dùng
để
chế
biến.
-
Đóng
trong thùng
đã
tiệt
trùng: Nước
dùng
nấu
sôi
sợi
mì
được
thêm
một
chất
bảo
quản
(lactic
acid
hay
sodium
benzoate);
sau
đó
được
tiệt
trùng
tiếp
theo
bằng
Phương
pháp
Pasteur,
nhiệt
độ
90°C
trong
40
phút.
Sau
khi
được
thanh
trùng,
Mì
nấu
chín
này
có
thể
tồn
trữ
được
đến
3
tháng.
Udon
nấu
chín,
đựng
trong
túi
plastic
-
Dạng
không
làm
khô
và
không
nấu
chín
hay
nama-men (dạng
này
ít
thông
dụng
nhất),
có
thể
xem
là
dạng
sôi
thô
sau
khi
xắt?
Hệ
thống
Sản xuất
Sợi mì
Udon
công
nghiệp
Sợi
mì
Udon,
sản
xuất
tại
Nhật,
thay
đổi
tùy
địa
phương,
có
thể
phân
loại
theo
dạng
của
sợi
như
mỏng,
dày
và
dày-dẹp,
trung
bình..
-
Dẹp
và
to: Mì
udon
"Hòtò"
(của
vùng
Yamanashi);
“Himokawa
(của
Kiryù).
-
Dày
và
dẻo: Mì
udon
“Sanuki"
(Kagawa).
-
Hơi
trong
và
dai: Mì
“Gosetsu”
cùa
Kutchan,
Hokkaido
(heavy
snow
Udon)
làm
bằng
bột
lúa
mì
có
pha
trộn
thêm
tinh
bột
khoai.
-
Mỏng
và
nhỏ: “Ise udon
(vùng
Ise);
Mỏng
nhưng
chắc
có “Gotò udon',
sợi
mì
được
tráng
thêm
dầu
ép
từ
hạt
camellia,
đặc
sản
của
vùng
Goto.
-
Dạng
đặc
biệt
dùng
trong
các
dịp
Lễ
hội:
Hình
dạng
cái
tai
“Mimi
udon
(Udon
oreille)’,
được
'tin'
là
đem
lại
hạnh
phúc
cho
người
ăn?
Do
mì
Udon
là
thực
phẩm
truyền
thống
và
căn
bản
của
dân
Nhật,
nên
các
nhà
nghiên
cứu
thực
phẩm
Nhật,
từ
1958,
đã
nghiên
cứu
nhiều
về
các
kỹ
thuật
khoa
học
để
cải
thiện
sản
xuất,
về
thành
phần
hóa
học
các
loại
bột
mì
(các
chủng,
giống
khác
nhau)
dùng
để làm
sợi
mì
udon.
Năm
2003,
Hara
và
các
cộng
sự
viên,
đã
tìm
ra
là
sợi
mì
Udon
khi
nấu
chín,
thay
đổi
độ
dẻo
(flexibilité)
tùy
theo
lượng
muối
khoáng
trong
nước
luộc
mì,
tác
động
trên
tiến
trình
gel-hóa
tinh
bột
(trong
bột
mì
nguyên
liệu)..
Món
ăn
Mì
Udon
đã
được
‘đưa
lên’
thành
một
nét
‘văn
hóa'
ẩm
thực
Nhật
(như
sushi,
mochi..)
nên
cách
ăn
Udon
cũng
được
viết..
thành
sách
(!)
(như
Phở
của
Việt
Nam,
baguettes
của
Pháp..).
Tuy
ăn
‘mì
Udon'
không
cần
nghi
lễ
như
Trà
đạo,
nhưng
vì
các
món
‘mì
Udon'
rất
đa
dạng
(như
các
món
bún
Việt
Nam,
pasta
Ý..),
nên
giới
ăn
Udon
tại
Nhật
cũng
đưa
ra
đủ
mọi
cách
ăn..
!
Trong How
to
eat
Udon,
Japan
Guide
của
Văn
Phòng
Hướng
dẫn
Du
lịch
Nhật
ghi
-
Khi
‘ăn'
(tại
Nhà
Hàng
Nhật)
món
Udon,
‘served
with
a
dipping
sauce'
(udon
cạnh
một
chén
sốt
chấm)
thì
..
đơn
giản
là
chỉ
gắp
vài
sợi
udon
và
chấm
sốt!
(có
vẻ
như
món
bún
chấm
mắm
tôm
của
miền
Bắc
Việt
Nam
?)
-
Sở
Du
lịch
Nhật
nhắc
(như
ăn
ramen,
soba)
là
Ăn
mì
Udon
dù..
khô
hay
nước,
nên
dùng
đũa
gắp
udon
đưa
thẳng
vào
miệng
và..
nuốt
kèm
theo
tiếng
xì-xụp..
mới
tăng
được
hương
vị
cho
món
mì.
Khi
ăn
mì
udon
‘nước',
khi
húp
nước
lèo
thì
cầm
bát
mà
húp..
không
nên
dùng
thìa;
và
cần
ăn
cạn
bát
mì,
để
lại
là..
‘kém
lịch
sự
(rude)”
!!
Theo
cách
ăn,
Mì
Udon
chia
thành
hai
nhóm:
Ăn nguội và
ăn nóng. Dù
nguội
hay
nóng,
các
món
Mì
Udon
đều
thay
đổi
theo
các
loại
toppings
(như
kiểu
Bún
của
Việt
Nam)..
Ăn
Nguội
thích
hợp
với
mùa
Hè,
còn
ăn
Nóng
thích
hợp
cùng
mùa
Đông.
-
Ăn
Nóng,
dạng
Mì
Udon
chan
nước
súp,
gọi
là nurumugi. Topping
của
Mì
nước
Udon
thay
đổi
theo
mùa
khi
ăn
mì..
-
Ăn
nguội
hay
dạng
Khô,
như
dạng
salad,
là hiyamugi, thường
có
thêm
trứng (chiên,
omelette,
luộc
chín-mềm=soft
boiled),
thịt
gà
xé
và
rau
củ
tươi
như
dưa
leo,
củ
cải.
-
Vài món
Udon
nổi
tiếng
của
Nhật
:
- Zaru
udon: Mì
sợi
lạnh
bày
trên
dĩa
tre
nhỏ
dạng
như
cái
sàng,
bên
cạnh
là
chén
nước
lẻo
nước
tương
(mentsuyu)
nguội,
có
thêm
hành
tăm.
Nhúng
mì
vào
nước
lèo
khi
ăn..
Nước
chấm
nguội,
có
thể
là
hỗn
hợp
dashi,
mirin
trộn
soy
sauce..
.jpg)
Zaru
udon
- Kijoyu
udon : Mì
sợi
chan
nước
lèo
nguội
làm
bằng
nước
tương
soy
sauce
và
nước
cốt
sudachi
(một
loại
chanh),
và
có
khi
thêm
củ
cải
trắng
bào
thành
sợi..
.jpg)
Kijoyu
udon
- Hadaka
udon: Sợi
mì,
nguyên
trạng,
chỉ
nhúng
sôi!
(ăn
không?).
Hadaka
udon
- Món
nóng : luôn
thuộc
dạng
Mì
Udon
nước.
-
Kamaage
udon: Nước
lèo
nấu
bằng
soy
sauce,
củ
hành
lá
cắt
khoanh,
gừng,
kèm
theo
nước
chấm
nhiều
vị
khác
nhau..
.jpg)
Kamaage
udon
- Kake
udon: Món
mì
nước
Udon
thông
dụng
nhất
tại
Nhật.
Nước
lèo
nấu bằng
cá
và
soy
sauce
(nước
lèo
có
tên kake-jiru,
cũng
dùng
trong
nhiều
món
mì
udon
nước
khác).
Rất
nhiều
món
mì
Kake
udon,
thay
đổi
theo
các
phụ
gia
kèm
theo.
Kake-udon,
không
có
toppings.
.jpg)
Kake
udon
/ Kake-jiru
- Tsukimi
udon: Hay
Mì
Udon
'ngắm
trăng'..(moon
viewing
udon)..
có
thêm
lòng
đỏ
trứng
gà
tươi,
bày
trên
tô
mì
nước,
tượng
trưng
cho..
mặt
trăng.
.jpg)
Tsukimi
udon
- Karé
udon
hay Curry
udon:
Là
món
mì
nước
udon,
ăn
nóng,
trong
tô
có
sốt cà-ri
Nhật.
Món
ăn
rất
được
ưa
chuộng
vào
mùa
Đông.
Món
ăn
hơi..
khó
hay
vương
vãi,
nên
Nhà
hàng
có
dọn
kèm
yếm
che
ngực
cho
khách.
Ăn curry
udon
còn
có
thể
làm
văng
nước
mì
sang
thực
khách
bàn
bên
cạnh!
.jpg)
Karé
udon
hay Curry
udon
- Chikara
udon:
Mì
udon
ăn
chung
với
xôi
nếp
Nhật
(mochi),
chan
nước
súp
nóng.”Chikara"
=
Mạnh,
dũng
mạnh..
vì
thêm
mochi
làm
tăng
lực
cho
người
ăn?
.jpg)
Chikara
udon
- Kitsune
udon: Mì
nước
ăn
nóng,
kèm
những
khoanh
hành
và
đậu
hũ
dạng
phiến
mỏng,
chiên
giòn
bày
trên
mặt..
.jpg)
Kitsune
udon
- Miso-nikomi
udon:
Món
mì
nước
nấu
liu
riu
trong
súp
miso
đỏ
của
vùng
Nagoya.
Súp
thường
gồm
gà,
trứng
gà
ốp-la
trên
mặt,
quãy
vào
mì
khi
ăn.
Ngoài
ra
thêm
rau
củ,
kamaboto.
Sợi
mì
không,
rất
nhạt
để
hợp
với
miso.
- Món
vừa
nóng
/vừa
nguội:
-
Tempura
udon: Mì
trong
tô
có
súp
nóng
và
tôm
chiên
(tempura)
được
dọn
trong
dĩa
kèm
bên
cạnh.
Có
thể
là
Kitsune
Udon
có
kèm
thêm
tôm
chiên
giòn?
Tempura
udon
Udon
dạng
lẩu
và
dạng
nồi
đất: Tại
Nhật,
còn
một
số
món
mì
Udon
ăn
nóng,
và
dưới
những
dạng
khác
với
các
dạng
truyền
thống:
Nabeyaki
Udon:
Mì
ăn
nóng,
nhưng
nấu
và
dọn
trực
tiếp
trong
lẩu
=
hotpot
(nabe).
Mì
sợi
udon
nấu
trong
nồi
lẩu
gồm
nước
lèo
và
rau-củ..
Sau
đó thêm
các
món
phụ
như
tempura
và
các
phụ
liệu
như
nấm,
trứng,
chả
cá
kamaboko,
và
nhiều
thứ
rau
khác
nhau.
.jpg)
Nabeyaki
Udon
-
Mì
Udon
ngoài
nước
Nhật
:
Ngoài
nước
Nhật,
Udon
cũng
khá
thông
dụng
tại
Nam
Hàn
,
Palau
(những
vùng
từng
bị
Nhật
chiếm
đóng),
Philippines
có
một
dạng
Udon..
riêng?
-
Nam
Hàn: Mì
nước
Udon
nguyên
gốc
được
bán
tại
nhiều
Nhà
hàng
Nhật.
Nam
Hàn
có
một
dạng
udon
riêng
(Korean-style),
bán
tại
các
hàng
ăn
‘bunsikjip'
(snack
bars)
và các
quán
hè
phố
‘pojangmacha’.
Mì
nước
Udon
Nam
Hàn,
ngoài
sợi
mì
hay
udon-myeon,
chan
nước
súp
nấu
bằng
rau
xanh,
chả
cá..
(không
thông
dụng
tại
Nhật).
-
Palau: Một
đảo
tại
Thái
Bình
Dương
bị
Nhật
chiếm
đóng
thời
Thế
chiến
2,
có
món
Udon,
nước
súp
theo
căn
bản
là
soy
sauce,
hoặc
theo
kiểu
nước
súp
mì
Okinawa.
Sợi
mì
udon
Nhật
khan
hiếm,
được
thay
bằng
mì
sợi
spaghetti..
-
Philippines: Có
loại
‘udong' và
odong,
có
vẻ
như
do
ảnh
hưởng
của
udon
Nhật..
(Những
năm
1900s,
có
nhiều
công
nhân
Nhật
làm
việc
tại
Davao
(Phi),
tuy
hình
dạng
có
phần
khác?
Odong
Phi
ngày
nay
có
lẽ
giống
bánh
‘hủ-tíu'
Tàu
màu
vàng
nhạt
(pancit?).
Tô
mì
Odong
có
toppings
cá
mòi
hộp
và
sốt
cà
chua.
-
Việt
Nam: Người
Việt
tại
ngoại
quốc,
khi
chưa
có
sợi
bánh
canh
từ
VN,
đã
dùng sợi
mì
Udon
thay
thế
(tuy
sợi
bún
của
bánh
canh
làm
từ
bột
gạo
và
bột
tapioca)
-
Mì
Udon:
Dinh
dưỡng
và
Sức
Khỏe
Mì
Udon
rất
đa
dạng,
Các
số
liệu
dinh
dưỡng
thay
đổi
rất
nhiều:
từ
sợi
mì
nguyên
thủy
đến
tô
mì
nước..Không
thể
có
một
trị
số
chung..
Tuy
nhiên
có
một
vài
số
liệu
được
đưa
ra:
-
Wikipedia tiếng
Pháp,
cho
các
con
số:
100g
sợi
mì
udon
sấy
khô
(sec)
cung
cấp
353
calories;
12.4g
protein;
72.3g
glucides;
1.7g
lipides
và
660g
sodium.
Udon
có
indice
glycémique
(IG)
giống
các
loại
mì
sợi
khác
như
spaghettis
(?).
So
với
gạo
trắng
lấy
làm
tiêu
chuẩn
IG=100,
thì
trị
số
IG
của
Udon
=58.
-
Passport
Santé cho
các
số
liệu
tương
tự
và
ghi
thêm
về
các
ưu
điểm
đối
với
sức
khỏe
của
mì
Udon:
- Có
nhiều
glucides
(complex),
tạo
vị
ngon
hơn
Mì
udon
chứa
trên
75%
tinh
bột,
loại
thực
phẩm
cung
cấp
năng
lượng
cho
cơ
thể.
Amidon
này
dễ
tiêu
hóa
và
dễ
hấp
thu,
nên
giúp
hạ
IG
giúp
điều
hòa
đường
trong
cơ
thể.