Cây hoa để tưởng nhớ các chiến sĩ trận vong
Trần
Minh Quân
In Flanders fields the poppies blow
Between the crosses, row on row
That mark our place; and in the sky
The larks, still bravely singing, fly
Scarce heard amid the guns below
We are the Dead. Short days ago
We lived, felt dawn, saw sunset glow,
Loved, and were loved, and now we lie
In Flanders Fields
John McCrae
Trên đây là hai đoạn trich trong bài thơ In Flanders Fields, tuyệt tác của Y Sĩ Trung Tá, người Canada, John Mc Crae viết ngày 3 tháng 5 năm 1915, khi ông đang phục vụ trong đơn vị Quân Y của đoàn quân viễn chinh Canada tham dự Thế Chiến I tại Âu châu và mục kích cái chết ngay trước mắt của một người bạn là Trung Úy Alexis Helmer trongtTrận đánh nổi tiếng tại Ypres. Hình ảnh bi hùng của những cành hoa Hồng Anh màu đỏ thắm như máu đong đưa trên những hàng mộ trắng của các tử sĩ đã khiến cho hoa sau đó được chọn làm biểu tượng cho sự tưởng nhớ dành cho các chiến binh gục ngã. Trên thực tế, hoa Hồng Anh mọc rất nhiều trên các cánh đồng mênh mông tại vùng Somme và Flandres, nơi đã xảy ra những cuộc giao tranh đẫm máu của nhiều trận chiến tại Âu châu: từ trận Wateloo thời Napoleon đến cuộc Thế chiến 1, mệnh danh là ‘Chiến tranh giao thông hào’ (La guerre des tranchées).
Hoa Hồng Anh đã được các quốc gia trong Khối Liên hiệp Anh (Commonwealth) như Anh, Canada, Úc, Tân Tây Lan..chọn làm biểu tượng để tưởng niệm các cựu chiến binh trong các cuộc viễn chinh, nhất là các chiến binh đã gục ngã trong Thế Chiến I. Cánh hoa Hồng Anh rất mau rụng sau khi cắt, không thể gắn vào ve áo nên thường được thay bằng hoa giả làm bằng giấy hay plastic và được đeo tại các nước Commonwealth trong tuần lễ trươc Ngày Tưởng Nhớ (Remembrance Day), 11 tháng 11 hàng năm để tưởng niệm các tử sĩ đã hy sinh trong các trận đánh tại những vùng xa xứ. Tại Hoa Kỳ, hoa (gọi là Buddy Poppies) được đeo trong tuần lễ trước ngày Memorial Day (ngày thứ Hai cuối cùng của tháng Năm) để ghi nhớ các tử sĩ (trong khi đó, ngày 11 tháng 11 lại là Veteran Day để vinh danh các cựu chiến binh còn sống sau các cuộc chiến).
Tại Úc và Tân Tây Lan hoa được tổ chức Returned Services Association phân phát rộng rãi và được đính vào ve áo cả trong Ngày ANZAC (25 tháng Tư).
Với người Ba Lan, hoa Hồng Anh được xem là biểu tượng cho máu của các chiến sị Ba Lan đã đổ ra trong trận Monte Cassino với bài hát Czerwone maki na Monte Cassino (Red Poppies on Monte Cassino).
Hình ảnh tuyệt đẹp của những cánh đồng hoa Hồng Anh với những cánh hoa đỏ rực trên nền cỏ xanh cũng đã là nguồn cảm hứng cho những hoạ sĩ môn phái ấn tượng (Impressionism). Danh họa Claude Monet đã vẽ nhiều bức tranh về Hồng Anh.
Trong ‘Ngôn ngữ của loài hoa’ thì Hồng Anh biểu tượng cho ‘Tình nồng nhưng mong manh’ Hoa được dùng tại Pháp để tượng trưng cho kỷ niệm 8 năm Ngày Thành hôn.
Văn học Ba Tư, xem hoa Hồng Anh là biểu tượng cho tình yêu và gọi hoa là ‘Hoa của tình yêu bất diệt’.
Văn chương Trung Hoa cũng có những bài thơ về hoa Hồng Anh, cũng xem hoa như hình ảnh của ‘chinh nhân. đi .không hẹn ngày về.’ Bài thơ nổi tiếng nhất là bài Ngu Mỹ Nhân Thảo của Tăng Tử Quốc:
‘ Tam quân tản tận tinh kỳ đảo
Ngọc trướng giai nhân tọa trung lão
Hương hồn dạ trục kiếm quang phi
Khinh huyết hóa vi nguyên thượng thảo’
Bài thơ được Huê Diệp Chi dịch thành:
Ba quân đã tan rã cờ cũng xiêu
Người đẹp già đi trong ngọc trướng
Hồn thơm vẫn bay theo ánh kiếm ban đêm
Máu xanh biến thành cỏ trên cánh đồng..
Tên khoa học và các tên khác:
Papaver rhoeas thuộc họ thực vật Papaveraceae
Các tên thông thường: Corn poppy, Corn rose, Field poppy, Flanders poppy, Copperose. Coquelicot, Pomceau, Pavot rouge (Pháp). Klatschmohn, Feldmohn (Đức). Rosolaccio (Ý). Ngu Mỹ nhân (Yu mei ren).
(Papaver là tên latin của cây thẩu=poppy; rhoeas do từ tên Hy Lạp rhoias dành cho poppy mọc hoang trên đồng).
Tên gọi tại Pháp: Coquelicot, được viết vào thế kỷ 16 là coquelicoq, phát xuất từ tiếng Pháp cổ coquerico để gọi con gà trống, để gọi mối liên hệ giữa màu của hoa và màu của mào gà trống.
Tên Trung Hoa ‘ Ngu Mỹ nhân: Ngu là tên một triều đại tại Trung Hoa: Nhà Ngu (khoảng 2697-2033 trước Tây lịch).
Đặc tính thực vật:
Cây thuộc loại thân cỏ, sống hàng năm, thân đứng có thể mọc cao 60-90 cm, có mủ nhựa trắng đục và lông nhám. Lá mọc cách hơi thuôn lớn 3-15 x 1-6 cm, mép lá khía răng, có cuống ngắn. Các lá ở đoạn giữa thân không ôm thân và chia thùy. Hoa lớn mọc đơn độc trên cuống dài thẳng hay hơi cong. Hoa hình chén đường kính 6-9 cm. Nụ hoa thuôn. Hoa nở xoè rộng, cánh đài mau rụng. Tràng hoa có 4 cánh xếp sát nhau thành một chén, không sâu , miệng loe. Hoa màu đỏ tươi, có đốm đen nơi gốc. Quả lớn 10-18 mm, thuộc loại nang, mở ra bằng một lỗ nơi đỉnh, trong chứa nhiều hạt nhỏ hình thận hay thuôn lớn 1mm. Cây trổ hoa trong các tháng 3-8.
Hồng Anh có nguồn gốc tại Bắc Mỹ, được du nhập và trồng rộng rãi và mọc hoang tại Âu châu, Á châu. Tại Việt Nam cây đã được trồng tại Đà Lạt và cả quanh Hà Nội để lấy hoa.
Cây được lai tạo và chọn lựa để tạo ra một số chủng trồng cho hoa có màu sắc và kích thước khác nhau như:
Papaver rhoeas var. imbrosum: Hoa có cánh màu đỏ xậm, gốc họng có đốm đen.
Papaver rhoeas var. hookeri: Hoa lớn, cánh màu hồng nhạt hay vàng nhạt, trắng, gốc họng có đốm đen.
Papaver rhoeas var. japonicum hay Japanese pompoms: hoa nhỏ thường dùng để cắm trong bình.
Chủng trồng được ưa chuộng nhất tại Hoa Kỳ là Shirley poppy do William Wilkes tuyển giống và lai tạo vào năm 1880 tại Anh, có thể mọc cao 60 cm, hoa có đường kính đến 7.5 cm, nhiều màu sắc khác nhau từ trắng, hồng nhạt, đỏ cá hồi. Cánh đơn hay kép. Ngoài ra còn có chủng Angel’s Choir, hoa kép nhiều màu từ hồng đào, kem và cả xám nhạt.
Thành phần hóa học:
Hoa Hồng Anh chứa:
Các alkaloids isoquinoline (0.1 %) như rhoeadine (chiếm khoảng 50 %), isorhoeadine, rhoeagine, coptisine, isocorydine, stylopine.
Anthocyans glycosides nhất là các glycosides có aglycone là cyanidin như mecocyanin (cyanidin-3-sophoroside, cyanin.
Flavonoids như Kaempferol, quercetin, luteolin, hypolaetin và các flavonoid-glycosides như isoquercetrin, astragaline, hyperoside
Chất nhày và một số chất phức tạp khác loại depsides.
Dược liệu:
Tại Âu châu , cánh hoa Hồng Anh được dùng làm dược liệu và được chính thức ghi chép trong Dược chế thư của nhiều quốc gia dưới các tên như:
Dược chế thư Âu châu (Ph.Eur.): Papaveris rhoeados flos
Dược chế thư Đức, phần Phụ lục ( DAC): Klatschmohn blutenblatter
Dược liệu được thu nhặt trong thiên nhiên và được cung cấp phần lớn từ các nước Đông và Đông-Nam Âu châu như Albania, và cả từ Maroc. Các chỉ định về trị liệu tuy chưa được chính thức xác định nhưng vẫn được dùng trong y dược học dân gian để làm si-rô trị ho và khan tiếng nơi trẻ em (Syrup of Red Poppy), làm trà dược để uống giúp thư thái, trị đau nhức, mất ngủ.
Theo German Commission E (BAnz no.85, ngày 5 tháng 5, 1988) thì Cánh hoa được dùng trị các bệnh về đường hô hấp, khó ngủ và giảm đau..tuy nhiên sự hiệu nghiệm chưa được xác nhận.
Tại Canada: Dược liệu được chấp thuận cho dùng trong một số các Thuốc Dược thảo (Schedule OTC Traditional Herbal Medicines) và một số đặc chế homeopathic.
Tại Á châu, dược học dân gian tại nhiều nước cũng dùng hoa và quả hồng anh làm thuốc như
Trung Hoa và Việt Nam: Cánh hoa dùng làm thuốc ho, làm dịu, bớt đau cổ họng.
Ấn Độ: Cây được gọi là lalposta. Cánh hoa dùng trị ho, thông đàm, làm dịu và giúp thoát mồ hôi. Quả làm dịu đau.
Hạt Hồng Anh:
Hạt của một số cây trong chi Papaver, trong đó có Hồng Anh được dùng làm thực phẩm. Hạt rất nhỏ: gần 10 triệu hạt mới cân được một cân Anh (pound). Hạt papaver không chứa những hoạt chất loại ma túy. Hạt có hương vị đặc biệt và được dùng rắc, trộn vào bánh mì, bánh ngọt nhất là các loại Danish pastries và rắc thêm vào salad. Tại Hoa Kỳ, hạt được trộn trong Poppy Muffins.
100 gram hạt (khô) chứa:
– Calories 533
– Chất đạm 18.04 g
– Chất béo tổng cộng 44.70g
bão hòa 5 g
chưa bão hòa đơn 6 g (monounsaturated)
chưa bão hòa đa 29 g (polyunsaturated)
– Chất sơ 6.26 g
– Calcium 1448 mg
– Sắt 9.40 mg
– Magnesium 331 mg
– Phosphorus 848 mg
– Potassium 700 mg
– Sodium 21 mg
– Kẽm 10.230 mg
– Đồng 1.633 mg
– Manganese 6.833 mg
– Thiamine (B1) 0.849 mg
– Riboflavine (B2) 0.173 mg
– Niacin (B3) 0.976 mg
– Pyridoxine (B6) 0.444 mg
– Folate 82 microgram
Hạt Hồng Anh có thể được xem là một nguồn cung cấp khá tốt về các khoáng chất như iodine, manganese, magnesium mhất là kẽm và đồng.. giúp hoạt động của các men (enzymes) trong cơ thể như diastase, lipase, nucleatase ; đồng thời cũng là nguồn acid béo omega-3.
Dầu ép từ hạt Hồng Anh (Red poppy seeds oil) .Hạt từ hoa hồng anh chứa từ 45-50% dầu béo. Dầu ép từ hạt hồng anh có thể dùng để chiên, sào nấu ăn và trong kỹ nghệ dược.
100 gram dầu cung cấp 884 calories, trong đó lượng chất béo bão hòa chiếm 13.5 g; chưa bảo hòa mono 19.7 g và chưa bão hòa poly chiếm 62.4 g. Lượng vitamin E trong dâu khá cao: 11.4 mg (76%). Phytosterols: 276 mg. (cao hơn dầu đậu nành và dầu đậu phọng, nhưng thấp hơn dầu hạt mè, dầu bắp..) Dầu iod hóa (Iodized poppyseed oil) được dùng làm tác nhân tương phản trong khoa quang tuyến.
Tài liệu sử dụng:
Herbal Drugs and Phytopharmaceuticals (Max Wichtl, Ed)
PDR for Herbal Medicines.
Flora of China (trên Website: efloras.org)
Whole Foods Companion (Dianne Onstad)
The A-Z of Garden Flowers (Bay Books)
Tran Minh Quân, 28 tháng Tám 2010