|

Áo nàng vàng anh
về yêu ..hoa CÚC
Trần
Minh Quân |
Hoa cúc Theo phong tục Việt
Nam, Tết Nguyên đán trong nhà , ngoài Mai và Đào, cũng
cần phải có vài chậu Cúc mới gọi là đón xuân..
Tuy Cúc vẫn có thể nở rộ mỗi độ Xuân về tại Việt Nam,
nhưng tại một số quốc gia khác như Nhật, Trung Hoa,
Triều Tiên..cúc lại là loại hoa của.. mùa thu
Cúc chiếm một vị trí khá đặc biệt trong Văn chương và
Nghệ thuật Trung Hoa : cùng với Mai, Lan và Trúc hoa Cúc
là một trong tứ ‘hữu’ và thường được xem như biểu tượng
cho mùa Thu (?)
Triết gia đời Tống Bạch cư Dị, mô tả Cúc, vì thường nở
vào cuối Thu như một loài hoa của các nhà ẩn sĩ vì hoa
biết tránh xa mùa Xuân là mùa trăm hoa khác đua nở !
Theo Chung Hi thì :
- Cúc hoa, sớm trồng nhưng muộn nở : Đó là cái đức của
người Quân tử.
- Cúc hoa nở giữa mùa sương tuyết, tượng trưng cho sự
kiên trinh.
Với các nhà thơ Nhật thì Cúc được xem là biểu tượng của
‘Nét buồn thơ mộng, khôn ngoan’ của những ngày đông giá,
mùa thích hợp nhất trong các thi phẩm loại Haiku..
Thiền sư Huyền Quang , một người say hoa Cúc đã trồng
toàn Cúc trong vườn quanh chùa và ngồi ngắm hoa Cúc mỗi
khi ngồi thiền xong..Theo Ông : ngắm Cúc nở cũng là một
cách thiền.. ngắm hoa cho đến khi thấy ‘người ngắm và
hoa, hai thứ hồn nhiên là một’..Kết quả là cái thấy về
thực tại của mình nở đẹp như một ..đóa hoa.
Thiền sư đã làm một bài thơ vịnh hoa Cúc với những câu
độc đáo như sau
."Trong núi năm tàn không có lịch
Thấy hoa cúc nở tiết Trùng dương
Năm năm nở đúng tiết thu qua
Gió dịu trăng thanh ý mặn mà
Cười kẻ không hay hoa huyền diệu.."
Và thêm nữa là :
"Hồn nhiên người với hoa vô biệt
Một đóa hoa vàng chợt nổ tung
Phương phi xuân sắc trắng hay vàng
Thời tiết tùy loại hợp sắc hương
Khi mọi loài hoa rơi chật đất
Dậu Đông hoa cúc vẫn chưa tàn.."
(Bản dịch của Nguyễn Lang)
Về phương diện thực vật, nhóm hoa Cúc thuộc gia đình
thực vật Asteraceae, có lẽ là nhóm hoa được chú ý và
được sách vở mô tả rất nhiều, chỉ sau nhóm hoa Hồng. Cúc
đã được trồng tại Trung Hoa cách nay ít nhất là 3000 năm.
Hoa Cúc có rất nhiều loại, khác nhau về màu sắc và hình
dáng.. Hai loài thông thường nhất là Cúc trắng hay Bạch
cúc , hoa màu trắng sữa, cánh hoa dài, mềm mại và Cúc
vàng hay Kim cúc, có cánh hoa to, màu vàng rực rỡ..ngoài
ra còn có những loài Cúc khác như Cúc hoàng kim, Cúc đại
đóa, Cúc chi, Cúc chùy, Cúp diệp tơ.. và Cúc Tần ô hay
Cải cúc, Cúc vạn thọ, Cúc bất tử và cả..Cúc hôi....vv..Phạm
vi bài này sẽ chỉ bàn về Bạch cúc và Kim cúc

1-
Cúc hoa trắng hay Bạch cúc
- Tên khoa học : Chrysanthemum morifolium = C.
sinense.
(từ 1961, cây được xếp vào chi Dendranthema để trở thành
Dendran thema morifolium= D. grandiflora, tuy nhiên tên
cũ vẫn còn được dùng phổ biến trong các sách về thực vật
và dược học)
- Tên thông thường : Mums, Florist’s
Chrysanthemum.
Tại Trung Hoa : Ju hua (cúc hoa)
Sách vở Âu châu chỉ bắt đầu mô tả về Cúc vào 1689, và
đây là cây hoa được trồng tại Hòa lan, cây bị chìm vào
quên lãng để chỉ được ‘tái’ phát hiện vào 1789 và sau đó
được ưa chuộng và phát triển rất mạnh tại Âu châu.
Linnaeus đã đặt tên cho chi của cây là Chrysanthemum vào
1753 (chrysos=vàng; anthos=hoa, để chỉ màu vàng của nhóm
hoa cúc trong chi này). Chrysanthemum morifolium ngày
nay thật ra là loài được pha trộn từ ít nhất là 6 loài
cúc khác nhau.
Cây thuộc loại thân thảo cao 60-90 cm, có thể hằng niên
hay đa niên, gân hóa mộc . Thân nhẵn, có rãnh, mọc
thẳng đứng, phân chia thành bụi, mang lá xếp thưa. Lá
thuôn hình ngọn giáo hay hình bầu dục, dày, mặt dưới có
lông và nhạt hơn mặt trên; phiến lá có mép khía răng và
chia ra 3-5 thùy; gốc lá có tai. Hoa mọc thành cụm tròn
lớn. Lá bắc bao bên ngoài phủ lông trắng, các lá bắc
trong hình thuôn. Tại đầu hoa lớn chừng 1.5-5 cm, có 1-2
dãy hoa vòng ngoài có cánh môi màu trắng, các hoa ở giữa
hình ống, màu vàng nhạt. Quả thuộc loại bế quả dạng trái
xoan..
Bạch cúc đã được biến đổi rất nhiều để có thể trồng ven
đường, trong chậu hay để cắt lấy hoa và hoa cũng thay
đổi màu, không còn là màu trắng lúc ban đầu mà ..thành
vàng, đò tím.. (tuy vẫn từ chủng Bạch cúc!)
Hình dạng của hoa cũng trở thành đa dạng : đơn, kép,
cong úp (spoon), chùy (pompom)..Cây có thể nở hoa quanh
năm, kể cả mùa Đông và mùa Xuân.
Bạch cúc được du nhập vài Việt Nam từ lâu đời, được
trồng tại nhiều nơi nhưng không phổ biến bằng Kim cúc (Cúc
vàng)
Thành phần hóa học :
Hoa Cúc trắng chứa :
- Tinh dầu dễ bốc hơi trong đó có camphor, carvone,
camphene, borneol, bornyl acetate, chrysanthenone...
- Alkaloids : Stachydrine
- Các alcohol loại triterpene : heliaol, lupeol,
taraxerol, cycloartenol..
- Flavonoids như Luteolin, Cosmosin, Acacetin-rhamnosin,
Apigenin
- Các acid amin : Choline, adenine..
- Các vitamins : nhiều nhất là B1, E..
Các nghiên cứu dược học về Cúc trắng :
- Hoạt tính trên huyết áp :
Các nghiên cứu tại Nhật và Trung Hoa trong thập niên 70
ghi nhận : Nước sắc, đun sôi trong 15 phút 24-30 gram
Cúc và 24-30 gram Kim ngân hoa (Lonicera japonica), chia
thành 4 liều và dùng uống thay trà được thử nghiệm trên
46 người bệnh, uống trong 3-7 ngày liên tục.. kết quả
huyết áp giảm hạ về mức bình thường nơi 35% bệnh nhân,
số còn lại có kết kết quả tốt sau 1-12 ngày dùng thuốc.
Các bệnh nhân huyêt áp cao có thêm choáng váng (vertigo)
được cho dùng thêm 12 gram lá dâu tằm (tang diệp), sắc
chung; bệnh nhân bị sơ động mạch và mỡ cao trong máu
được cho uống thêm 12-24 gram sơn tra (Crataegus
pinnatifida).. Các triệu chứng như chóng mặt, choáng
váng đều thuyên giảm.
- Tác dụng trị đau tức ngực (angina pectoris) :
Một nghiên cứu khác tại Trung Hoa ghi nhận : Nước sắc
hoa Cúc dùng trong 61 trường hợp angina pectoris cho kết
quả hữu hiệu nơi 80% bệnh nhân : rất tốt cho 43.3 % và
giúp thuyên giảm cho 36.7 % Các bệnh nhân vị tức ngực,
hồi hộp, vertigo, tê ..đều thấy bớt được các triệu chứng.
45 % có những thay đổi về điện tâm đồ (EEG). Một số giảm
được huyết áp, và tất cả không gặp các phản ứng phụ..
- Hoạt tính kháng sinh :
Các dung dịch chiết từ lá Cúc trắng có hoạt tính ức chế
sự tăng trưởng của các vi khuẩn Staphylococcus aureus,
Beta-hemolytic Streptococ cus và Shigella sonnei. Có thể
dùng lá tươi, nghiền nát và đắp thẳng vào mụn nhọt hay
vắt lấy nước thoa vào vết thương.. Nghiên cứu tại ĐH
Nihon (Nhật) ghi nhận các triterpinoids, trích từ hoa có
hoạt tính ức chế vi khuẩn Lao Mycobacterium
tuberculosis, chủng H(37) Rv ở những nồng độ tối thiểu
MIC từ 4-64 microg/ml. (Biology and Pharmacy Bulletin Số
28-2005). Nghiên cứu tại Viện Khoa Học và Kỹ Thuật Quốc
Gia Đại Hàn Seoul ghi nhận mt flavonoid glucuronide:
apigenin-O-beta-D-(4’’-caffeoyl)glucuronide có hoạt tính
ức chế men HIV-1 integrase ở IC(50)=7.2+/- 3.4 microg
/ml) và chống hoạt động của HIV trong môi trường cấy tế
bào EC(50)= 41.86 +/- 1.43 microg/ml, khi cấy vác tế bào
MT-4 bị nhiễm HIV-1 (IIIB) (Planta Nedica Số 69-2003)
- Hoạt tính trên các tế bào ung thư :
Nghiên cứu tại Đại học Nihon, Tokyo (Nhật) ghi nhận 15
chất diol và triol loại pentacyclic triterpene gồm 6
thuộc loại taraxastane (faradiol, heliantriol B0,
helantriol C,22 alpha-methoxyfaradiol, arnidiol, và
faradiol alpha-epoxide) và 5 thuộc loại oleananes (maniladiol,
erythrodiol, longispinogenin, coflodiol và heliantriol
A), 2 loại ursanes (brein và uvaol), 2 loại lupanes (calenduladiol
và heli antriol B2), trích từ hoa Cúc trắng, khi được
thử nghiệm về tác dụng ức chế sự kích khởi sinh kháng
thể siêu vi Epstein-Barr (EB-EA) gây ra bởi chất tạo u-bướu
12-O-tetradecanoylphorboil-1-acetate (nơi tế bào Raji)
cho thấy các chất này có hoạt tính ức chế mạnh hơn
glycyrrhetic acid (đã được xem là một chất chống u-bướu).
Trong số này arnidiol có hoạt tính diệt tế bào ung thư
mạnh nhất , liều GI50 (liều gây ức chế 50% tăng trưởng)
là < 6 microM. (Cancer letter Số 8 (March)-2002)
- Hoạt tính chống sưng (kháng viêm=anti-inflammatory )
Dịch chiết hoa Cúc trắng, từ phần tan trong hexane và
phần tan trong chất béo, sau khi tinh khiết hóa, đã cho
nhiều loại esters acid béo (gần 30 chất khác nhau) và
nhiều diol, triol loại triterpene ( 24 hợp chất). các
hợp chất này được thử nghiệm về hoạt tính chống sưng
trên loại sưng viêm nơi chut gây ra bằng
12-O-tetradecanoylphorbol-13-acetate (TPA). Kết quả ghi
nhận tính chất kháng viêm rất rõ với liều ID50 là
0.03-1.0 mg / tại mỗi tai chut, mạnh hơn cả tác dụng của
quercetin. (Journal of Agricultural and Food Chemistry
Số 49-2001).
- Các đặc chế chứa Cúc trắng của Trung Hoa :
Tại Trung Hoa, hiện có một số đặc chế được Bộ Y-Tế Cộng
Hòa Nhân Dân Trung Hoa chính thức cho phép sử dụng để
điều trị một số bệnh :
- Đặc chế Jiantangkang được dùng để trị các chứng tiểu
đường không tùy thuc vào insulin (Chung kuo Chung His I
Chieh Tsa Chih Số 17-1977).
- Bạch cúc là một trong 7 dược thảo được dùng trong đặc
chế PC-SPES để trị ung thư nhiếp hộ tuyến, cho kết quả
là làm giảm rõ rệt nồng độ PSA (prostate-specific
antigen), diệt được các tế bào ung-thư, đồng thời làm
giảm đáng kể testosterones. Trong 2 thử nghiệm, nồng độ
PSA giảm hạ ngay sau 1 tháng dùng thuốc (New England
Journal of Medicine Số 339-1998)
- Đặc chế Hua-sheng-ping phối hợp Cúc trắng, Cam thảo và
Tam thất đã được dùng để trị các vết lở loét ‘tiền
ung-thư’ nơi ruột .
-
Bạch cúc trong Dược học cổ truyền :
Dược học cổ truyền Trung Hoa và Nhật dùng Bạch cúc để
làm thuốc ;
- Sách thuốc Nhật Honso Komosu (thế kỷ 16) đã ghi Cúc
trong thành phần một toa thuốc giúp kéo dài tuổi thọ.
Theo toa thuốc này, mỗi bộ phận của cây như chồi non,
hoa, cuống hoa, rễ..cần phải được thu hái vào những thời
điểm khác nhau trong tiến trình tăng trưởng, phơi khô
rồi tán thành bột. Uống bột mỗi ngày 3 lần trong 100
ngày. Sau 1 năm, tóc đang bạc sẽ trở lại đen..
- Dược học cổ truyền Trung Hoa ghi chép ‘Cúc hoa’ trong
‘Thần nông bản thảo kinh’, Lá được ghi, đầu tiên trong
‘Danh Y biệt lục’ (Đả0 Hoằng Cảnh) khoảng năm 500 , thời
Nam-Bắc triều. Lý thời Trân trong Bản thảo cương mục đã
chia Cúc thành nhiều loại, trị bệnh khác nhau..Dược liệu
còn có những tên gọi khác như Cam cúc hoa (Gan-ju-hua)..Hàng
cúc hoa..
Dược liệu: Cúc hoa (Ju-hua) là Hoa của cây Bạch cúc, thu
hoạch vào tuần thứ ba trong tháng 10; đây là giai-đoạn
hoa nở rộ tại các vùng nuôi trồng như An huy, Hà nam,
Triết giang (đặc biệt nhất là vùng Hàng châu). Sau khi
hái, hoa được sấy nhẹ đến khô, hay hấp rồi phơi nắng,
hoẵc có thể hong khô trong phòng qua gió. ‘ Bạch cúc (bai-ju)
là toàn cây cắt , rồi bó và treo đến khi khô rồi tách
lấy hoa. ‘Chu cúc’(chu-yu) của An Huy là cây thu hái khi
hoa gần như nở hết, rồi treo trong phòng tối đến khô, có
thể xông sulfur đến khi hoa và lá mềm (đ khô chừng 60%).
Cây được rung đến lúc hoa cụp tròn và đến khi khô hẳn..
Hoàng cúc (huang-ju) là hoa được rang qua lửa nhỏ đến
khô (tại Triết giang). Cúc cũng còn được sao’ tồn tính’..
Cúc hoa được xem là có vị ngọt đắng, tính hàn nhẹ, tác
dụng vào kinh mạch thuc Can và Phế.
Cúc hoa có tác dụng :
- ‘tán Phong’ và thanh ‘Nhiệt’ tri được các chứng
Phong-Nhiệt gây ra nóng sốt và nhức đầu. Dùng phối hợp
với Xuyên khung (Chuan xiong=Radix Lingustici) để trị
đau nhức đầu do ngoại Nhiệt -Phong xâm nhập hay do Dương-Can
thăng phát .
- ‘thanh Can’ và thanh mục (mắt) , giải trừ Phong-Nhiệt
nơi Can tạng gây ra mắt khô, đỏ, đau, chảy nước mắt.. và
trị Âm suy nơi tạng Thận và Can gây ra mắt nhìm có đốm,
mắt mờ, chóng váng. Dùng phối hợp với Câu kỷ tử (gou-qi-zi=Fructus
Lycii) khi trị mắt mờ, choáng váng..
- an định Can và trừ Phong : trị nhức đầu, chóng mặt,
tai ù do Dương thăng tại Can. Dùng phối hợp với Bạch
thược, Thạch quyết minh, Thăng ma và Câu tích..
- Vài phương thức dùng Cúc trắng trong dân-gian :
- Để trị mỏi mắt và hoa mắt vì đọc sách quá lâu, làm
việc quá nhiều bằng mắt ; dùng 9 gram hoa cúc trắng tươi,
ngâm trong nước sôi từ 5-10 phút, khi nước đủ ấm, lấy
hoa ra đắp trên mắt từ 10 đen 20 phút.. lập lại 2-3 lần
và đắp thêm buổi tối trước khi đi ngủ. Có thể uống nước
đã ngâm hoa.

2- Cúc hoa vàng hay Kim cúc
Tên khoa học : Chrysanthemum indicum
Tại Pháp : Chrysanthème
Tại Trung Hoa : Dã cúc hoa
Cúc hoa vàng có nguồn gốc từ Trung Hoa, Nhật bản, được
trồng rất phổ biến tại các quốc gia Á châu như Ấn Độ,
Việt Nam vì cho hoa đẹp và nở vào dịp Tết Nguyên đán.
Kim cúc thuc loại thân thảo hằng niên hay đa niên, thân
cứng cao tới 1m, phân cành tại ngọn, Lá màu xanh lục ,không
cuống, mọc so le, có thùy sâu, mép có nhiều răng. Hoa
mọc thành cụm, hình đầu, mọc ở nách lá hay ở đỉnh cành.
Hoa có đường kính khoảng 1-1.5 cm, cuống dài 2-5 cm. Lá
bắc tổng bao ở bên ngoài có dạng thuôn dài, mép thô, xếp
thành nhiều dãy. Vòng hoa ở ngoài có cánh môi màu vàng.
Quả thuc loại bế quả nhẵn có mào lông
Thành phần hóa học :
Thành phần hóa học của Cúc vàng tương đối hơi khác với
Cúc trắng.
Hoa chứa ;
- Các glucosides như luteolin, chrysanthemin, stachydrin..
- Các flavonoids và flavone glycosides loại
eudesmane-sesquiterpen như kikkanol A, B và C; loại
germacrane-sesquiterpen như kikkanol D, E, F
- Tinh dầu dễ bay hơi : thujone, cineole, alpha-pinene,
limonene, camphor, borneol, bornyl ace tate, Yejuhua
lactone..
- Sắc tố : chrysanthemaxanthin.
- Các hoạt chất phức tạp như acacetine, cumambrin A..
- Các polysaccharides , tannins,
- Vitamins như A, B1
Các nghiên cứu khoa học về Cúc hoa vàng :
- Tác dụng ức chế sự sản xuất nitric oxide ;
Nghiên cứu tại Đại học Kyoto (Nhật) ghi nhận dịch chiết
hoa Cúc vàng bằng methanol và ethyl acetate chứa các
flavonoids có hoạt tính ức chế sự sản xuất nitric oxide
nơi các đại thực bào kích khởi do liposaccharides, và ức
chế hoạt đng của men aldose-reductase..(Chemical
Pharmacy Bulletin (Tokyo) Số 5-2000)
- Khả năng trị gout :
Trong trường hợp bệnh gout : men xanthine oxydase là
chất xúc tác sự oxy-hóa hypoxanthine thành xanthine và
sau đó thành acid uric.. chất đóng vai trò quan trọng
gây ra gout. Nghiên cứu tại ĐH Nam Kinh (trung Hoa) ghi
nhận dịch chiết hoa Cúc vàng bằng methanol cho thấy có
tác dụng ức chế men này ở nồng độ IC50 là 22 microgram/
ml (trong khi đó nồng độ allopurinol dùng làm đối chứng
là 1.06 microg/ml) (Journal of Ethnopharmacology Số
73-2000)
- Hoạt tính kháng sinh :
Các dịch chiết từ hoa cúc vàng có tác dụng ức chế sự
tăng trưởng của nhiều vi khuẩn(15 loại) và nấm trong đó
gồm Staphylococcus aureus, Shigella spp. và cả vài siêu
vi trùng loại Echo.
- Khả năng hạ huyết áp :
Các chế phẩm từ hoa cúc vàng, khi cho dùng uống hay
chích qua màng phúc toan, đều làm hạ huyết áp mau chóng.
Các chế phẩm dùng toàn cây có tác dụng độc hại hơn và
hoạt tính kém hơn là trích từ hoa. Nơi chó có áp huyết
bình thường hay cao, dịch chiết từ hoa ở liều 100-200
mg/kg cơ thể gây ra hạ huyết áp nhưng không ảnh hưởng
trên tim và gan (The Pharmacology of Chinese Herbs)
- Tác dụng trị bệnh đường hô hấp :
Trong một thử nghiệm tại Nhật trên 1000 bệnh nhân về tác
dụng của Cúc vàng trong việc ngừa cảm, ghi nhận những
người uống nước sắc hoa cúc vàng mỗi tuần một lần, có
thể giảm được13.2 % những cơn cảm lạnh (so với năm trước
đó). Khi thử nghiệm trên 119 trường hợp sưng phổi kinh
niên, 38 % giảm được các cơn bệnh (so với nhóm đối chứng)
Cúc vàng trong Dược học cổ truyền :
Dược học cổ truyền Trung Hoa và Nhật sử dụng Cúc vàng để
trị bệnh khác với Cúc trắng. Cúc vàng hay Dã cúc hoa
(Ye-ju-hua), Nhật dược gọi là nogikuka.
Dã cúc được cho là có vị đắng, cay và tính hàn nhẹ, tác
động vào các kinh mạch thuộc Phế và Can.
Dã cúc có các hoạt tính :
- Thanh ‘Hỏa’, giải độc dùng trị mụn nhọt, ghẻ lở, và
trị đau, sưng cổ họng, sưng mắt đỏ do ‘Phong-Hỏa’. Được
phối hợp với Kim ngân hoa (Jin-yin-hua= Flos Lonicerae
Japonicae) và Bồ công Anh (Pu-gong-ying = Herba Taraxaxi
Mongolici).
Tại Ấn độ, Cúc hoa vàng được gọi là guldaudi, Phạn ngữ
là sevanti. Toàn cây dùng chung với tiêu đen để trị lậu
mủ (gonorrhea). Hoa dùng làm thuốc kiện vị.

3- Vài loài Cúc khác :
Ngoài Bạch cúc và Kim Cúc còn vài loài Cúc khác khá phổ
biến tại Việt Nam và cũng được xem là cây cảnh trưng bày
trong dịp Tết như :
- Cúc trắng lớn
Tên khoa học : Chrysanthemum maximum ( C. superbum)
Các tên gọi khác : Max Daisy, Shasta Daisy (Anh-Mỹ),
Grande marguerite (Pháp)
Cúc trắng marguerite có nguồn gốc từ Âu châu, được trồng
phổ biến tại Bắc và Trung Việt Nam để dùng làm hoa cắt
cành và làm bồn cảnh.
Cây thuc loại thảo, đa niên, cao 0.7-1m. Thân nhẵn, phân
chia nhánh ở gốc. Lá mọc cách, phiến lá có mép khía răng
cưa thưa; gân lá mảnh. Phiến tương đối dầy, phía đầu
tròn. Hoa mọc thành cụm, hình đầu, đường kính 6-10 cm.
Phía ngoài của hoa có những lá bắc mỏng dài 1cm, vòng
hoa ở ngoài không đều có cánh môi lớn màu trắng xòe đều.
Hoa ở giữa hình ống màu vàng. Quả thuc loại bế quả nhẵn.
Shasta Daisy khá được ưa chung tại Hoa Kỳ và các nhà
vườn đã lai tạo được rất nhiều chủng cho hoa rất lớn và
đẹp như ‘Majestic’ ‘Cobham’s Gold’, ‘Aglaya’
Cúc trắng lớn hầu như không được dùng trong dược học.
- Cúc tím (Kiều tràng)
Tên khoa học : Callistephus chinensis , họ thực vật
Asteraceae
Các tên khác : China Aster, Reine Marguerite, Aster de
Chine
Cúc tím có nguồn gốc từ Trung Hoa, thích hợp với vùng có
khí hậu lạnh , mát như Bắc Việt Nam, Đà lạt .. Cây thuộc
loại thân thảo, hằng niên, mọc thành bụi nhỏ, thân thẳng
đứng phân cành nhiều. Lá mọc cách, lá ở gốc có phiến xẻ
thùy sâu . Các lá phía trên hình trái xoan, cuống lá có
cánh, các lá ở đỉnh không có cuống. Hoa hình đầu, mọc
thành cụm lớn đường kính 4-10 cm. Hoa ở vòng ngoài không
đều có cánh môi thuôn dài, mọc lật ra ngoài màu hồng hay
tím nhạt, trắng. các hoa ở giữa xếp chặt nhau màu
vàng..Hoa thường được cắt cành và cũng được lai tạo để
cho nhiều chủng có hoa nhiều dạng và nhiều màu..
Tài liệu sử dụng :
- Chinese Herbal Remedies ( Albert Leung)
- Chinese Herbal Medicine Materia Medica (Bensky)
- Medicinal Plants of India (SK Jain)
- Natural Medicines Comprehensive Database (Pharmacist’s
Letter)
- The Pharmacology of Chinese Herbs (Kee Chang Huang)
- Oriental Materia Medica (Hong-Yen Hsu)
- Handbook of Medicinal Herbs (James Duke)
- Sunset Western Garden Book
- Cây Cảnh, Hoa Việt Nam (Trần Hợp)
Trần Minh Quân
|