|
|
Hoa MAI QUẾ và Rượu MAI QUẾ LỘ
Giả quả khá
to,
đường
kính 2 -
3cm,
tương
đối tròn
thành
hình cầu,
màu từ
cam đến
đỏ. Do
hình
dạng của
quả
giống
như quả
cà chua
nhỏ nên
cây còn
có tên
beach
tomato,
sea
tomato..

Trái và hạt cây hoa mai quế - Fruit & graine de rosier rugueux
Mai quế
được
trồng
khá phổ
biến tại
các vùng
đất pha
cát nơi
ven biển
tại
Trung
Hoa (vùng
phía Bắc
như Phúc
kiến,
Sơn đông,
Hồ Bắc..),
Nhật,
Triều
tiên và
vùng
Viễn
đông (Kamchatka)
của Nga.
Cây được
du nhập
vào Âu
châu,
trồng
tại
nhiều
nơi tại
Trung Âu
và Tây
Âu, nhất
là Anh
để làm
cây hoa
cảnh do
hoa to,
đẹp,
thơm và
cây chịu
được gíá
lạnh.
Các nhà
trồng
hoa đã
cho lai
tạo để
có nhiều
chủng
trồng
(cultivars)
có nhiều
hoa đẹp
và nổi
tiếng
như:
-
"Scabrosa": quả
và
các
phần
đều
lớn.
-
"Albo-plena": hoa
kép,
trắng
tuyền.
Không
quả.
-
"Fru
Dagmar
Hastrup": gốc
từ
Đan
Mạch:
hoa
đơn,
có
thể
lớn
đến
9cm,
cánh
màu
hồng
nhạt,
mịn;
nhị
vàng
tươi,
mùi
rất
thơm.
Lá
chuyển
sang
màu
vàng
vào
mùa
thu.
Quả
đỏ
tươi
rất
đẹp.

Hoa
và
trái ROSA
FRU.
DAGMAR
HASTRUP
-
"Blanc
Double
de
Coubert": Cây
cao
đến
1m;
hoa
kép
lớn
đến
8cm,
cánh
trắng
tuyền;
nhị
vàng
tươi,
mùi
rất
thơm.

Blanc
Double
de
Coubert
rose
-
"Roseraie
de
L'Hay": Cây
lớn
(2m),
mọc
thành
bụi
rậm,
chồi
nhánh
rất
nhiều
gai;
Hoa
kép
lớn
11cm,
màu
hồng
hay
đỏ -
tím,
mùi
thơm,
quả
rất
đẹp
được
xem
là
chủng
hoa
"trang
trí"
đẹp
nhất.

Hoa và trái Roseraie de L'Hay
Thành
phần hóa
học:
Hoa chứa
paeonidin,
paeonin,
paeonidin-3-glucoside.
Các vết
cyanidin,
anthocyanins;
Tannins.
Tinh
dầu chứa
citrol,
citronellol,
cyanin,
geraniol,
l-linalool,
nerol,
nonyl
aldehyde,
n-phenyl-ethyl
alcohol,
hamanusol,
benzyl
alcohol,
nonyl
alcohol,
phenyl
ethyl
acetate,
p-menthene,
heptyl
acohol,
benzaylformiate,
benzaldehyde,
eugenol,
geranyl
acetates,
roxenoside..
Lá chứa
các
flavonoids
như
isoquercetrin,
Sesquiterpen
như
(+)-4-epi-alpha-bisanolol.
Hạt chứa
các acid
béo
palmitic
(17.6
%),
oleic,
linoleic
(44.5%),
linolenic
(32%)..
và còn
có
glutamic,
asparaginic,
shikimic,
malonic
và
citric
acid.
Vitamin
E.
Quả chứa
flavonoids
(0.001-0.3
%) như
quercetin,
isoquercitrin;
Carotenoids;
Tiliroside.
Lượng
Vitamin
C có thể
lên đến
100mg/100
gram quả.
Ngoài ra
còn có
Pectin
(3.4-4.6%),
các
polyphenols
(2.2-2.6%),
phenolic
acids
như
gallic,
vanillic,
caffeic,
ferulic..
Các
đường
như
fructose,
glucose,
sucrose..,
các acid
hữu cơ
như
citric,
malic..
Trong
quả còn
có những
vitamin
khác như
E, D, K
và nhiều
khoáng
chất như
sắt..
Các
nghiên
cứu khoa
học về
Mai quế:
-
Hoạt
tính ức
chế sự
tấn công
của Siêu
vi trùng
HCV:
Nghiên
cứu thực
hiện tại
ĐH Osaka
(Nhật)
ghi nhận
các hoạt
chất
trích
bằng
methanol
từ hoa
Mai quế:
Tellimagrandin
I,
Eugeniin
và
Casuarictin
có khả
năng ức
chế sự
phát
triển
của siêu
vi gan
HCV bằng
tác động
vào các
proteins
E1 và E2
trong vỏ
bọc của
siêu vi.
(PMID
2044544;
March
2010)
-
Hoạt
tính
trên
siêu vi
HIV:
Một
nghiên
cứu khác
tại ĐH
Nankai,
Thiên
Tân,
Trung
Hoa ghi
nhận 2
hợp chất
phức tạp,
ly trích
bằng
ethanol
từ hoa:
P1-a (một
hợp chất
loại
polysaccharide-
peptide,
phân tử
lượng
150 kDa)
và P1-b
(một
polymer
có
acteoside
và các
chất
chuyển
hóa từ
acteoside,
phân tử
lượng 8
kDa) có
khả năng
ức chế
sự hoạt
động của
men
HIV-1
reverse
transcriptase
(HIV-1
RT) ở
nồng độ
500
microgram/mL-
1, có
thể ngăn
chặn sự
phát
triển
lan rộng
của siêu
vi (Journanal
of
Pharmacy
and
Pharmacology
Số
58-2006)
-
Khả năng
chống
oxy-hóa:
Nghiên
cứu tại
ĐH Dược,
Viện ĐH
Marmara,
Istanbul
(Turkey)
dùng bột
tán từ
quả khô,
trộn
trong
thực
phẩm cho
chuột
thử
nghiệm
loài
Wistar,
theo tỷ
lệ 6% (tính
theo
trọng
lượng),
ăn trong
3 tháng
ghi nhận
nhóm
chuột ăn
bột quả
mai quế
có các
thông số
trong
gan như
lipid
peroxide,
protein
oxy-hóa,
glutathion=GHS;
ALT và
AST
trong
huyết
tương
thấp hơn
nhóm đối
chứng
khi bị
gây
nhiễm
bằng
carbon
tetrachloride
(CCl4),
chứng
minh quả
mai quế
khô có
hoạt
tính
chống
oxy-hóa
(Drug
Metabolism
and Drug
Interaction
Số
23-2008).
Một
nghiên
cứu khác
tại ĐH
Chungbuk,
Cheongju,
Nam Hàn
ghi nhận
phần
chiết
bằng
hexane
từ hoa
mai quế
(trắng)
có các
hoạt
tính
chống
oxy hóa
ngăn
chặn
lipid-peroxidation
và thu
nhặt các
gốc tự
do như
nitric
oxide
khá mạnh,
và đặc
biệt là
ngăn
ngừa sự
hư hại
của tế
bào
chống
lại các
tấn công
của
peroxynitrite
(Biochemistry
and Cell
Biology
số
87-2009).
-
Tác động
trên các
vi khuẩn
đường
ruột:
Nghiên
cứu tại
Viện Kỹ
thuật
Kitami,
Hokkaido
(Nhật)
dùng bột
tán từ
hoa mai
quế thử
trên sự
tăng
trưởng
của 10
loài vi
khuẩn
gây bệnh
và không
gây bệnh
trong
ruột ghi
nhận:
Sự
tăng
trưởng
của
các
bifidobacteria
và
lactobacillii
không
bị
ảnh
hưởng
khi
thêm
bột
cánh
hoa
vào
môi
trường
cấy
khuẩn.
Trong
khi
đó,
sự
tăng
trưởng
cùa
Bacteroides
vulgatus,
E.coli,
Staphylococcus
aureus,
Bacillus
cerus
bị
ngăn
chặn
hoàn
toàn
khi
thêm
bột
hoa
với
nồng
độ,
theo
thứ
tự
0.1,
0.5,
0.1,
và
0.05
%
(W/v).
Khi
dùng
môi
trường
cấy
lỏng
sự
tăng
trưởng
của
các
vi
khuẩn
E.coli,
S.aureus,
B.
cereus
và
Salmonella
bị
ngăn
chặn
đến
50%.
Ngoài
ra
các
tannins
thủy
phân
được,
trích
từ
hoa
mai
quế
như
rugosin
D,
tellimagradin
II
đều
có
khả
năng
kháng
các
vi
khuẩn
E.
coli,
S.aureus,
Salmonella..
(Biosciences
Biotechnology
and
Biochemistry
Số
72-2008).
-
Hoạt
tính
bảo
vệ
Gan:
Nghiên
cứu
tại
ĐH
Sunchon,
Jeonnam,
Nam
Hàn
ghi
nhận
dịch
chiết
bằng
methanol
từ
rễ
cây
mai
quế
và
hoạt
chất
loại
triterpinoid
glycoside:
rosamultin
trong
rễ
có
khả
năng
bảo
vệ
gan
của
chuột
thử
nghiệm
bị
gây
hư
hại
gan
bằng
bromobenzen,
khả
năng
này
được
giải
thích
là
do
tác
động
giúp
cải
thiện
hoạt
động
của
men
epoxide
hydrolase,
đồng
thời
khả
năng
chống
oxy-hóa
của
các
hoạt
chất
khác
trong
rễ
cũng
còn
giúp
tăng
thêm
tác
động
bảo
vệ
gan
của
rễ
mai
quế
(Journal
of
Medicinal
Food
Số
7-2004).
-
Tác
dụng
trong
bệnh
Tiểu
đường:
Nghiên
cứu
tại
ĐH Y
-
Dược
Toyama
(Nhật)
trên
chuột
bị
gây
tiểu
đường
bằng
streptozotocin
ghi
nhận:
chuột
bị
gây
tiểu
đường
tăng
trọng
ít
hơn
nhưng
lại
có
trọng
lượng
gan
và
thận
cao
hơn
chuột
bình
thường.
Khi
cho
chuột
uống
dịch
chiết
Mai
quế
với
các
liều
100
và
200
mg/kg
trọng
lượng
cơ
thể
trong
20
ngày,
các
thay
đổi
trên
được
kiểm
soát,
đồng
thời
lượng
đường
trong
máu
và
mức
glycosylated
protein
(HbA1C)
giảm
hạ.
Hoạt
tính
được
giải
thich
là
do
tác
động
giúp
làm
giảm
các
áp
chế
oxy
-
hóa
(oxidative
stress)
trong
bệnh
tiểu
đường
bằng
chặn
các
tiến
trình
peroxy
-
hóa
lipid
(American
Journal
of
Chinese
Medicine
Số
32-2004).
-
Hoạt
tính
chống
dị
ứng:
Nghiên
cứu
tại
Trường
Thú
Y,
ĐH
Chungbuk,
Nam
Hàn
ghi
nhận
dịch
chiết
từ
cánh
hoa
Mai
quế
(hoa
trắng)
bằng
hexane
có
khả
năng
trị
được
chứng
da
mẩn
đỏ (atopic
dermatitis)
gây
ra
nơi
chuột
thử
nghiệm
bằng
chich
histamin.
Hoạt
tính
này
là
do
khả
năng
ức
chế
sự
phóng
thích
men
beta
-
hexosaminidase
từ
các
tế
bào
RBL-2H3
(mast
cell)
và
đè
chặn
sự
tạo
các
interleukin-
4
cytokines
từ
các
tế
bào
T-helper
loại
1 và
2
(Archives
of
Pharmaceutical
Research
Số
32-2009).
Vài
phương
thức sử
dụng
trong
dân gian:
1-
Làm thực
phẩm:
Hoa, quả,
đọt non
và hạt
đều có
thể ăn
được.
Quả: Quả
của hồng
Mai quế
có phần
thịt
nhiều
nhất
trong
các loài
hồng. Vị
tương
đối ngọt
tuy chứa
nhiều
Vitamin
C. Có
thể ăn
quả tươi
hay nấu
chín,
dùng quả
làm kẹo.
Cần làm
sạch hết
lớp lông
tơ bên
ngoài vỏ
trước
khi ăn.
Hoa: Cánh
hoa có
thể dùng
ướp các
món
thạch và
món ăn
tồn trữ
để tạo
mùi thơm.
Cần tách
bỏ phần
gốc cánh
màu
trắng có
vị đắng.
Ngâm vài
cánh hoa
vào giấm
và có
thể dùng
giấm để
giải
nhiệt.
Tại Anh,
dùng
cánh hoa
tươi bọc
quanh
một thỏi
bơ rồi
đặt
trong
keo thủy
tinh đậy
nắp kín
giữ qua
đêm, bơ
sẽ có
thêm
hương vị
rất thơm..
Đọt
thân
non: Thu
hoạch
vào đầu
mùa Xuân,
ngay khi
vừa nhô
khỏi mặt
đất. Có
thể nấu
chín,
dùng
chung
với các
cây
khác..làm
thành
'potherb'.
Hạt: Chứa
nhiều
Vitamin
E,
có
thể
xay
thành
bột
rồi
trộn
thêm
vào
với
các
bột
khác,
hay
trộn
vào
các
thực
phẩm
khác.
Cần
loại
bỏ
lông
nơi
hạt.
 
Những món ăn độc đáo từ hoa hồng.
2-
Làm
thuốc
trong
dân
gian:
Tại
Trung
Hoa: Lá
được
dùng
trị
nóng
sốt,
trà
dược;
Hoa
được
cho
là
tác
động
vào
Tỳ
và
Can,
giúp
lưu
thông
máu-huyết,
dùng
trị
mụn
nhọt,
ăn
không
tiêu,
sưng
gan,
đau
bao
tử;
trị
sưng
hạch
nơi
vú
khi
nuôi
con.
Rễ
để
trị
ho.
Tại
Ấn độ và
Pakistan: Lá,
vò nát,
đắp trị
vết
thương:
Hoa ngâm
nước,
rửa mặt
trị mụn..
Tại
Âu
châu: Quả
được
xem
là
một
vị
thuốc
tốt
giúp
chống
lão
hóa.
Pectin
trong
quả
có
thể
giúp
huyết
áp,
hạ
cholesterol
và
giúp
tiêu
hóa,
có
thể
dùng
trong
các
trường
hợp
cần
"xuống
cân".
Tại
Đức
và
Đan
mạch,
quả
được
xem
là
phương
thuốc
rẻ
tiền
để
trị
thấp
khớp.
Đặc
chế
LitoZin
được
quảng
cáo
là
có
chứa
những
acid
béo
gọi
là
GOTO,
có
hoạt
tính
tương
tự
như
các
acid
béo
trong
dầu
cá.

Hoa
mai quế
trong
Dược học
cổ
truyền
Trung
Hoa:
Dược học
cổ
truyền
Trung
Hoa dùng
hoa làm
dược
liệu.
Hoa được
thu hái
trong
thời
gian từ
tháng 4
đến
tháng 6
khi vừa
nở, phơi
khô
trong
bóng mát.
Dược
liệu tốt
là các
cánh hoa
lớn, dày
màu tím
có mùi
thơm.
Mai quế
hoa được
xem là
có vị
ngọt,
hơi đắng,
tính ấm,
tác động
vào các
kinh
mạch
thuộc Tỳ
và Vị
Mai
quế hoa
có những
tác dụng:
Giúp sự
chuyển
vận của
'Khí',
phá 'ứ'
dùng
trong
các
trường
hợp
'Can-Vị'
mất quân
bình gây
các
triệu
chứng
như đau
tức ngực,
đau cạnh
sườn,
đau vùng
thượng
vị, buồn
nôn, ăn
không
ngon.
Được
dùng
chung
với các
vị như
Hương
phụ (cỏ
tranh),
Xuyên
liên tử
để trị
Khí tại
Can bị ứ
tắc gây
đau tức.
Hoạt
huyết,
phá ứ
trị các
trường
hợp kinh
nguyệt
bất
thướng,
đau tức
ngực
trước
khi có
kinh,
đau bụng
khi hành
kinh.
Được
dùng với
Đương
quy và
Trạch
lan để
trị kinh
nguyệt
bất
thường;
dùng với
cao Ích
mẫu để
điều
kinh..
Liều
dùng
trong
Đông
dược là
1-5 đến
6 gram
dưới
dạng
ngâm
rượu..
Rượu
Mai Quế
lộ = Mei
Kuei Lu
Chiew
Các tên
Mai quế
du = Dầu
hoa mai
quế và
Mai quế
lộ =
Sương
mai quế
đã được
Lý thời
Trân
(1578-97)
ghi chép
trong
Bản Thảo
Cương
mục.
Theo
cách
phân
loại
của
các
nhà
sản
xuất
rượu
thì
rượu
Mai
quế
lộ
được
xem
là
một
loại
rượu
trắng
của
Trung
Hoa
(Bạch
tửu
=
Baiju)
pha
thêm
hương
liệu.

Rượu
trắng
của Tàu
thường
được
chưng
cất từ
lúa miến
(sorghum),
nhưng
cũng có
thể dùng
các hạt
ngũ cốc
khác như
gạo nếp
(vùng
Nam
Trung
Hoa),
lúa mì,
lúa mạch
và cả bo
bo (Bắc
Trung
Hoa).
Men được
dùng
thường
là các
chủng
Aspergillus
và
Rhizopus.
Các loại
Rượu
trắng
này có
độ
alcool
khá cao,
thường
khoảng
80 đến
120
proof
hay
40-60 %
alcohol
tính
theo tỷ
lệ
alcool
trong
tổng thể
tích.
Trong
nhóm các
"bạch
tửu có
thêm
hương
liệu có
những
loại như
Mai quế
lộ, Ngũ
gia Bì (Wujiapi),
Quế hoa
trần tửu
(Guihua
chen jiu),
Tam hoa
tửu (Sanhua
jiu),
Trúc
diệp
thanh
tửu (Zhuye
qing jiu)..
Rượu Mai
quế lộ (chính
thức)
được xem
là một
loại
rượu
trắng,
chưng
cất từ
lúa miến
(Gaoliang
jiu), có
độ rượu
cao từ
54 -
63%, có
thêm các
cánh hoa
mai quế
và đường
phèn..
Trên thị
trường
thương
mãi có
những
loại
rượu,
củng gọi
là Mai
quế lộ,
nhưng
được chế
biến
bằng
cách
dùng các
loại
rượu
trắng
như
Vodka,
Gin..
pha thêm
các
hương
liệu như
hồi,
đinh
hương,
thảo quả,
quế chi
và xuyên
tiêu..
loại
rượu này
thường
được
dùng để
ướp thịt
heo (dùng
làm lạp
xưởng
mai quế
lộ),
thịt gà
(gà
nướng
mai quế
lộ..).
Một
trong
những
món ăn
đặc sắc
tại
Trung
Hoa là
món Mai-quế
Chao hay
Mai quế
đậu phụ
nhũ =
mei-kui
toufu-ru
mei-kui
hung
nanru là
món chao
đỏ, được
ướp hoa
mai quế
trong
nước
ngâm
chao, có
thêm các
gia vị
khác ..
Tài liệu
sử dụng:
Plants
For A
Future
database
report
: Rosa
rugosa
Mallorn
Plant of
the
Month :
Rosa
rugosa
Flora of
China
Vol 9.
Page 379
: Rosa
rugosa
Flowering
Shrubs
(Magna
Field
Guide)
Chinese
Herbal
Medicine
Materia
Medica (
Dan
Bensky &
Andrew
Gamble)
Edible-Plants.
com :
Rosa
rugosa
|
|
|