Câu thơ đặc biệt của Vũ đình Liên hình như đã được ghi
khắc trong tâm tư của người Việt, để mỗi khi Xuân về,
Tết đến là hình ảnh Ông Đồ già và Cành hoa Đào lại hiện
ra ngay trước mắt. Đối với những người sinh ra trong các
thập niên từ 40 về sau, di cư vào Miền Nam năm 1954,
chắc chỉ biết đến Đào qua thi văn, và Xuân về tại Miền
Nam chỉ rực rỡ cành hoa Mai.. Tại Đà lạt, tuy cũng có
đào, nhưng đây lại là hoa Anh đào, khác với cành Đào
ngày xuân tại Miền Bắc..
Ngày nay, tại Hoa Kỳ.. chắc ít người biết rằng..
Đào mọc khắp nơi, đủ mọi loại hoa đơn, hoa kép và quả
đào (peach) bán đầy chợ lại là .. từ cây đào “quý” và
hiếm tại Việt Nam..
Tên gọi của Đào có thể gây nhiều nhầm lẫn vì
trong tiếng Việt có khá nhiều loại đào như Hồ đào (là
câyJuglans regia), Dương đào (cây Kiwi), Đào lộn hột (cây
điều), đào Kim cương (sim)..nhưng thật ra, ngay đối với
những nhà thực vật và những nhà dược học..việc phân biệt
các loại đào cũng thật rắc rối vì giá trị dinh dưỡng
cũng như tác dụng chữa bệnh của mỗi loài..cũng khác nhau..
Những cây Đào đều thuộc chi thực vật Prunus,
gia đình Rosaceae . Prunus được chia thành 2 nhóm chính:
Nhóm cho quả ăn được: Bao gồm các cây
Đào (peach, nectarine), Hạnh nhân (almond), Mơ
(apricot), Mận (Plum, Prune).. Cherry.. Cây Đào Việt Nam
= Prunus persica) thuộc nhóm peach này..
Cây và trái đào (peach = pêche)
Cây và trái nectarine
Cây, hoa, trái hạnh nhân (amond = amande)
Cây, hoa và trái mơ (apricot = abricot)
Nhóm cho hoa làm cảnh: Nhóm này lại
chia thêm thành 2 nhóm phụ: nhóm phụ chỉ trồng làm cảnh,
lá xanh quanh năm, hoa nở rất đẹp, trồng ven đường, bờ
rào và nhóm phụ vừa cho hoa lẫn quả.. (Cây mai
trắng = Japanese Flowering plum – Prunus mume
thuộc nhóm phụ này). Cây Anh đào Nhật = Prunus
cerasoides cũng có thể được xếp trong nhóm này..
Prunus mume – Japanese Flowering plum
Cây Anh đào Nhật = Prunus cerasoides
Hoa đào VN (Prunus persica)
Cây Đào Việt Nam: Prunus persica = Prunus
vulgaris.
Cây được xem là có nguồn gốc từ Trung Hoa,
Mông cổ, từ hơn 2000 năm trước và sau đó được trồng tại
nhiều nơi trên thế giới để lấy quả (peach) ăn.. Cây có
hoa đẹp, nở vào đầu mùa Xuân nên rất được ưa chuộng tại
Việt Nam, cắt cành cắm chưng ngày Tết Nguyên đán..
Đào đã được ghi nhận trong sách vở và văn
chương Trung Hoa từ năm 550 trước Tây lịch và được dùng
làm biểu tượng cho sự Trường sinh, bất tử. Thực phẩm
chính của ‘bát Tiên’ trong truyện Tàu chính là Đào. Đào
đã được Khổng Tử ghi trong kinh sách từ thế kỷ thứ 5 (trước
Tây Lịch). Truyện Tây Du Ký có kể về Tôn ngộ Không lén
vào vườn đào của Tây Vuơng Mẫu, ăn trộm đào tiên, loại
cây chỉ sinh quả 3000 năm một lần và chỉ dành cho Ngọc
Hoàng thưởng lãm!
Thi ca Trung Hoa đã có rất nhiều tác phẩm ca
tụng hoa Đào như:
“..Nhân diện bất tri hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong..” (Thôi
Hộ)
Đào đã theo chân các đoàn thương buôn, lữ hành
từ Trung Hoa đến Ấn độ rồi Ba Tư và phát triển mạnh tại
xứ này.. Khi La Mã xâm chiếm Ba tư, đào được đặt cho tên
là Malus persica = “Persia apples”. Vua Claudius đưa Đào
về trồng tại Hy lạp và rồi khắp Âu châu (Pháp là quốc
gia Âu châu trồng nhiều Đào nhất).
Người Tây ban Nha đưa đào vào Mexico cách đây
khoảng 400 năm, và sau đó cũng theo chân họ đến với
Florida vào thế kỷ 16. Đào được thuần hóa, và mọc hoang
rất mạnh khắp Mexico, Nam và Đông Nam Hoa Kỳ, biến đổi
để có tên là “Indian peaches”.. và các nhà thực vật đã
từng nhầm khi cho rằng Đào có nguồn gốc từ Tân lục địa.
Những giống Đào đầu tiên cho quả có thịt màu đỏ, dính
với hột như Crawford, Oldmixon.. rồi đến thời Nội chiến,
đào điạ phương bắt đầu được cho lai tạo với những giống
mới du nhập từ Trung Hoa. Năm 1850, Charles Downing đã
lai tạo Đào địa phương với giống “Cling” của Trung Hoa
để tạo được 2 giống đặc biệt rất nổi tiếng “Elberta”,
Redhaven.. những giống này hiện vẫn rất được ưa chuộng
và ngày nay đã có đến hơn 400 chủng loại đào khác nhau.
Hiện nay giống Đào cho thịt màu trắng
(white-fleshed) đang rất được ưa chuộng tại Hoa Kỳ và
một giống Đào khác cho quả “dẹp” hình dạng như bánh
doghnut cũng đang được phát triển (dựa theo cách ăn của
các vị Vua Tàu, có thể dùng tay cầm quả để ăn phần thịt
quanh hột mà không phải..cắn cả quả). Các nhà trồng tỉa
tại Texas, Georgia, New Jersey, Florida đã nghĩ được
phương thức trồng các giống cho quả tuy chín nhưng vẫn
đủ cứng để dễ thu hoạch, chuyên chở và phân phối mà
không bị hư hại..
Peach white-fleshed
Pêche plate ( Đào “dẹp”)
(Đào Nectarine: Tên nectarine do người Anh đặt
ra vào giữa thế kỷ 17 để phân biệt nectarine và peach,
cho rằng nectarine là một trái cây riêng hay là lai tạo
giữa đào và mận (plum) nhưng thật sự chỉ là sự biến dạng
gen của Đào. Trước đây nectarine được nhập vào Hoa Kỳ từ
Âu châu nhưng đến giữa thập niên 1940-1950, Fred
Anderson tại California đã tạo được nhiều giống
nectarine có giá trị thương mãi cao và Nectarine trở
thành một cây ăn trái đặc biệt cho California..hiện có
khoảng 150 giống nectarine).
Đào (peach) và Nectarine đều là Prunus persica
(Nectarine có tên khoa học là Prunus persica
var. nucipersica hay var. nectarina), chỉ khác
biệt nhau ở một gene (Peach có mang gen nên vỏ có lông
còn nectarine thiếu gen này nên da láng hơn)
Hiện nay, tại Hoa Kỳ, Đào là loại trái cây
được sản xuất với số lượng khá cao, đứng vào hàng thứ
ba, chỉ sau Táo và Cam. Georgia hiện là ‘thủ đô’ sản
xuất Đào..
Hoa đào
Đặc tính thực vật:
Cây thuộc loại tiểu mộc, cao 8-10m, mọc lâu
năm. Thân nhẵn có vỏ màu nâu-hồng hay xám, phân cành dài
và nhiều, mềm nhẵn dễ uốn.
Lá hình mũi giáo hay bầu dục,
hẹp, dài 8-15cm, rộng 2-3cm, thuôn ở đầu, mép lá có răng
cưa nhỏ, đều, lá màu xanh lục sậm hay nhạt tùy giống;
cuống mảnh.
Lá đào
Hoa màu hồng, mọc đơn độc,
nở cùng một lúc với chồi lá; hoa hầu như không có cuống.
Các cánh đài họp ở gốc hình chuông. Nhị khá nhiều dài
bằng cánh hoa.
Hoađào
Quả thuộc loại hạch, hình
cầu, đường kính 50-70mm có một rãnh bên khá rõ, phủ lông
tơ mịn, khi chín màu đỏ, mùi thơm dịu, vị ngọt..
Quảđào
Đào, cây hoa ngày Tết:
Truyền thống Việt Nam đã xem việc trồng đào và
thưởng ngoạn đào vào dịp Tết Nguyên đán là một nghệ
thuật đặc biệt.. Tỉa đào, bóc vỏ, cắt ngọn.. để có cành
đào nở hoa đúng ngày Tết đòi hỏi khá nhiều công đoạn và
mỗi công đoạn cũng rất công phu chưa kể đến tuốt lá, xem
nụ để hãm khi cần hay thúc khi hoa nở muộn..
Đào được chia thành nhiều loại khác nhau:
– Đào phai: Hoa màu hồng, lá màu xanh
nhạt..
– Đào bạch: Hoa thưa, màu trắng..
– Đào quả: Hoa hồng nhạt, cánh đơn, nhỏ..
– Đào bích: được cho là đẹp nhất, hoa
màu đỏ sậm, dày đặc, nở sát nhau, cánh kép. Lá màu xanh
đậm (Đây là giống Prunus persica
var.amelliaflora)
Tại các Tiểu Bang miền Tây Bắc Hoa Kỳ, có thể
có được cành Đào ngày Tết tương đối dễ dàng và có thể
trồng đào vừa lấy quả và cành cắm theo phương thức sau:
Đào ưa khí hậu lạnh, mát và ẩm nhưng không
được úng nước, nên chọn chỗ đất trồng vừa ẩm vừa cao ráo,
dễ thoát nước. Trồng bằng cây ghép dễ hơn từ hạt, có thể
mua thẳng cây từ nhà vườn.
Muốn có cành Đào nở đúng ngày Tết nên cắt cành
ngay khi cây bắt đầu ra chồi non, lần đầu cắt thật nhiều
để cây đâm ra thêm nhiều cành. Sau đó mỗi tháng cắt tỉa
một lần (tỉa nhẹ, bỏ các cành yếu). Đào sẽ có hình dáng
khá đẹp sau khoảng 6 lần tỉa. Muốn cây trổ hoa đúng dịp
xuân về, dùng dao thật sắc cắt bỏ 1 vòng vỏ nơi gần gốc
thân : Lá cây sẽ chuyển từ màu xanh đậm sang xanh nhạt
và hơi rũ xuống. (Nếu lá vẫn giữ màu xanh đậm, cần cắt
bỏ thêm 1 vòng vỏ ở cao hơn, gọi là ‘thiến đào). Nên
thiến đào vào khoảng tháng 10 (October), và sau đó tuốt
lá để thúc cây ra nụ..(thời gian tuốt lá tùy thuộc thời
tiết, thường trong khoảng cuối tháng 12 (December). Khi
gần đến ngày nụ hoa nhú to, có thể phải hãm bớt bằng
cách che bớt ánh sáng, ngưng tưới hay cắt bớt rễ và cắt
bỏ vỏ quanh thân đễ làm hoa chậm nở..
(Tại Oregon và Washington, nên chọn các loại
Springgold, Elberta chịu được nhiệt độ lạnh khá tốt).
Hoa đào
Đặc tính dược học:
Các bộ phận của Đào có chứa những hoạt chất
khác nhau:
– Lá: Chứa glucosides khi thủy giải
cho hydrocyanic acid (Amygdalin), Tanin, Coumadin,
phloretin.
– Quả: Phần thịt của quả có các
sắc tố như lycopen, carotenoids, criptoxanthin,
zeaxanthin, đường hữu cơ, acid hữu cơ (tartric, malic..,
chlorogenic).
– Hạt: chứa chất béo (50%), amygdalin,
tinh dầu dễ bay hơi, prussic acid, choline,
acetylcholine..
Một số bộ phận của cây Đào được dùng trong
Dược học Tây Phương như dầu ép từ nhân hạt (peach kernel
oil), vỏ cây, lá cây và hạt.. Một số thành phẩm được bán
dưới các tên thương mại như Laetrile, Vitamin B17..
Dầu ép từ nhân được dùng làm dầu dược dụng, có
hoạt tính kháng nấm khi thử in vitro (Hindustan
Antibiotic Bulletin Số 32-1990).
Một số bộ phận của cây như vỏ, lá.. được ghi
nhận là kích thích đường tiêu hóa.
Phloretin, trích từ vỏ và lá có hoạt tính
kháng sinh chống lại các vi khuẩn gram dương và gram âm.
Laetrile hay Amygdalin hay Vitamin B17.. đã
từng được quảng cáo là có các hoạt tính ngừa và trị ung
thư. Tuy nhiên các nghiên cứu thực hiện tại National
Cancer Institute đã không chứng minh được tác dụng này
(New England Journal of Medicine Số 306-1982) và FDA đã
cấm sử dụng Laetrile vì có thể gây ngộ độc do cyanide..
Vỏ, lá, hoa và hạt Đào đều có thể gây ngộ độc: Một
hạch quả (pit) chứa khoảng 2.6mg hydrocyanic acid cho
mổi gram hạt. Liều hydrocyanic acid gây tử vong cho
người lớn là 50-60mg, tương ứng với chừng 20g hạch nhân.
Giá trị dinh dưỡng:
100g phần thịt ăn được (quả tươi) chứa:
Đào Nectarine
– Calories 43
49
– Chất đạm 0.70g
0.94g
– Chất béo 0.09g
0.46g
– Chất sơ 0.64g
0.40g
– Calcium 5mg 5mg
– Sắt 0.11mg
0.15mg
– Magnesium 7mg 8mg
– Phosphorus 12mg 16mg
– Potassium 197mg 212mg
– Kẽm 0.140mg
0.090mg
– Đồng 0.068mg
0.073mg
– Manganese 0.047mg 0.044mg
– Beta-Carotene (A) 535 IU 736 IU
– Thiamine (B1) 0.017mg 0.017mg
– Riboflavine (B2) 0.041mg 0.041mg
– Niacin (B3) 0.990mg
0.990mg
– Pantothenic acid 0.170mg 0.158mg
– Pyridoxine 0.018mg
0.025mg
– Folic acid 3.4µg
3.7µg
– Vitamin C 6.6mg
5.4mg
Về phương diện dinh dưỡng, tuy không phải là
loại trái cây giúp trường sinh như trong truyện Tàu
nhưng Đào và Nectarine được xem là các thực phẩm giúp
lợi tiểu, long đờm, nhuận trường, giúp làm dịu đau. Đào
rất dễ tiêu hóa và gây phản ứng kiềm mạnh cho cơ thể,
kích thích sự bài tiết các dịch tiêu hóa, giúp làm đẹp
làn da, tăng vẻ rực rỡ cho da. Do hai tác dụng lợi tiểu
cùng nhuận trường, Đào giúp loại trừ độc chất khỏi cơ
thể nhất là khi thận và bàng quang suy yếu. Đào cung cấp
lượng calories tương đối thấp, chứa lượng nước cao hơn
táo, lê.. nên có thể là trái cây giải khát lý tưởng.
Ngoài vai trò thực phẩm, Đào còn được dùng làm
mỹ phẩm nuôi da rất tốt. Có thể dùng công thức nuôi da
sau đây:
Dùng hỗn hợp các trái tươi gồm Đào, Đu đủ,
Chuối và Avocado, mỗi thứ 50g, trộn trong máy blender
thành một khối nhão vừa đủ, đắp lên da mặt (như facial
mask), giữ trong 30 phút, rồi rửa sạch bằng nước ấm và
sau đó dùng dầu hướng dương thoa nhẹ đều trên mặt đễ
giúp da mặt giữ được vẻ tươi mát..
Khoa dinh dưỡng mới tại Trung Hoa dùng đào tươi
để giúp trị một số bệnh như:
– Trị ho, ho do suyễn, do tạng phủ suy nhược: Dùng
3 quả đào tươi, bỏ vỏ, thêm 30g đường. Thêm nước và nấu
trong bình kín. Ăn (bỏ hột) mỗi ngày.
– Trị đau do hernia: Dùng 30g đào còn
xanh và 1 quả xoài tươi. Nấu với nước vừa đủ đến chín.
Ăn ngày 2 lần: sáng và chiều.
– Trị Hoạt tinh (Xuất tinh bất thường), đổ mồ
hôi đêm: Dùng 30g đào xanh đã phơi khô, sao đến
khi khô. Thêm nước và 30g Táo tàu. Hấp cách thủy đến
chín. Ăn mỗi ngày trước khi đi ngủ..
– Trị Huyết áp cao: Dùng 1-2 quả đào
tươi, bỏ vỏ, bỏ hột, ăn mỗi ngày sáng và chiều; đồng
thời dùng 30g đào xanh đã phơi khô, nấu nước uống thay
nước trà..
(Đào xanh phơi khô, được thu hái khi quả còn non,
bỏ hột và phơi dướí nắng đến khi khô hẳn)
Đào trong Dược học cổ truyền:
Dược học cổ truyền Trung Hoa dùng hạch quả,
đập vỡ bỏ vỏ lấy hạt, thường gọi là nhân để làm thuốc.
Vị thuốc được gọi là Đào nhân (tao-ren).
Đào nhân được chép trong “Thần nông bàn thảo
kinh” dưới tên Đào-hạch nhân = Tao-ho-jen và xếp vào
loại dược liệu hạng thấp. Sau đó Lý thời Trân đã chép
lại trong Bản thảo cương mục. (Nhật dược, Kempo gọi là
tònin).
Đào nhân được xem là có vị đắng, tính bình,
có tác dụng “phá huyết ứ”, “khử tích trệ”, nhuận táo,
hoạt trường, lợi tiểu và tác động vào các kinh mạch
thuộc Tâm, Can, Phế, Đại trường..
Do hoạt tính phá được huyết ứ, Đào nhân là
một vị thuốc quan trọng để trị các chứng bệnh liên hệ
đến huyết tụ như rối loạn về kinh nguyệt, đau bụng dưới,
đau do chấn thương, đau ngang sườn, tụ huyết nơi phổi và
đau bụng nổi cục hòn.. Thường được phối hợp với Hồng hoa
(hong-hua= Flos Carthami Tinctorii) để trị bế kinh và
bặt kinh kèm theo đau bụng; phối hợp với Đương quy
(Dang-gui = Radix Angelicae Sinensis) và Xích thược (Chi
Shao = Radix Paeoniae Rubreae) để trị đau nhức do chấn
thương.. Dùng chung với Đại hoàng (da-huang = Radix et
Rhizoma Rhei) và Mang tiêu (Mang-xiao=Mirabilitum) để
trị sưng ruột..
Do tính nhuận táo nên dùng để trị các chứng
bón uất..
* Cây Anh đào: Đào Nhật.
Bên cạnh cây Đào cho quả đã trình bày, tại
Việt Nam còn có cây Anh đào hay đúng hơn Đào Đà lạt cũng
cho hoa khá đẹp vào dịp Tết. Anh đào thường được xem là
biễu tượng cho nước Nhật và hoa Anh đào Nhật ngày nay đã
được lai tạo để cho hoa rất đẹp cũng nở đúng lúc xuân
về..
* Anh đào Đà lạt:
Tên khoa học: Prunus cerasoides
Cây Anh đào Prunus cerasoides có nguồn gốc từ
vùng Hymalaya, Tây tạng sau đó phân bố xuống Trung Hoa,
Nhật, Triều Tiên..cũng gặp tại các vùng núi cao Bắc Việt
Nam và được trồng tại Đà lạt..
Anh đào thuộc loại tiểu mộc, cao 5-10m; thân
có vỏ màu xám, phân cành, nhánh nhiều, dài và thẳng,
nhẵn. Lá nhỏ, mềm, hình trái xoan hay ngọn giáo, hơi hẹp
về phía gốc, mũi ngọn, mép lá răng cưa dài 5-12cm, rộng
2.5-5cm, cuống lá nhỏ và nhẵn. Hoa màu hồng đỏ hay hơi
trắng, cánh đài họp thành ống hẹp. Tràng hoa dạng bầu
dục thuôn. Hoa trổ trước khi có lá. Hoa mọc thành cụm
gần như dạng tán, thường mọc chung 3 hoa. Quả thuộc loại
hạch quả, hình cầu đường kính 10-12mm màu đỏ.
Anh đào ra hoa vào tháng 12 hay tháng Giêng và
có quả từ tháng 2
* Anh đào Nhật hay Anh đào đôi:
Tên khoa học Prunus lannesiana.
Nguồn gốc từ Nhật, được trồng nhiều tại Việt
Nam và nhiều nước trên thế giới để làm cây cảnh.
Cây cũng thuộc loại tiểu mộc, cao 4-6m, cành
nhánh dài, nhẵn màu nâu đen. Lá thuôn dài có đầu nhọn,
mép lá khía răng cưa nhỏ, đều, màu xanh nhạt. Hoa mọc
trên các cành già, có thể mọc đơn độc hay thành từng đôi;
hoa lớn cỡ 3-4cm, màu đỏ hồng có hương thơm. Đài hoa có
lông mịn..
Ngoài ra còn có 1 chủng cho hoa màu trắng, rất
thơm (Prinus lannensiana form. donarium).
Prunus lannesiana
* Anh đào Nhật tại Vùng Tây Bắc Hoa Kỳ:
Tại vùng Tây Bắc Hoa Kỳ, các nhà vườn đã du
nhập một số loài Anh đào Nhật, biến đổi để cây chỉ trổ
hoa và không kết quả nhằm mục đích cho hoa làm cảnh. Các
cây đào này được gọi chung là Japanese Flowering
Cherry, có tên khoa học Prunus serrulata.
Prunus serrulata được cải biến để tạo ra nhiều
loại Đào từ mọc bình thường đến mọc thành tán, mọc rũ,
và mọc thành cột ..
Japanese Flowering Cherry
* Đào Nhật mọc thẳng bình thường gồm:
– Prunus “Accolade”: Hoa kép, màu hồng
nhạt, cây cao đến 8m.
Prunus Accolade
– Prinus serrulata “Kwanzan”: Hoa kép
màu hồng đậm, cao đến 10m, tán rộng 6m.
– Prunus serrulata “Shirofugen”: Hoa
kép, bắt đầu màu hồng rồi phai dần về trắng, hoa xuất
hiện cùng một lúc với lá màu đồng đỏ. Cao chừng 10m.
Prunus serrulata Shirofugen
– Prunus x yedoensis (Yoshino
Cherry): Đây là loại Đào nổi tiếng, trồng
trong vùng Tidal Basin tại Washington DC. Hoa đơn, lớn
màu hồng nhạt. Cây cao đến 10-15m, tán rộng đến 10m.
– Prunus serrulata “Yae-shidare-higan”: Hoa
kép, hồng lợt.
Prunus serrulata “Yae-shidare-higan”
* Đào Nhật mọc thành tán:
– Prunus serrulata “Shirotae”: Giống
đào nổi tiếng “Mt Fuji”, mọc thành dạng chiếc ô ngược.
Hoa trắng rất thơm, nở từ nụ màu hồng, sau đó chuyển
sang màu hồng đỏ. Đến mùa Thu, lá đổi sang màu vàng rồi
đỏ cam. Mọc cao đến 7m, tán rộng đến 12-15m..
* Đào mọc thành trụ:
– Prunus serrulata “Amanogawa” (Đào Ngân hà): Hoa
màu hồng nhạt, mọc cao đến 8-14m chỉ rộng chừng 1m thành
cột thằng khá đẹp..
Prunus serrulata Amanogawa
Dược tính của Anh đào:
Nhật dược dùng vỏ Anh-đào làm thuốc với tên
gọi Ouhi. Ouhi không được dùng tại Trung Hoa. Dược liệu
được lấy từ các cây:
– Prunus jamasakura
– Prunus yedoenisis
Ouhi được xem có những hoạt tính trị ho và
long đờm.
Thành phần hóa học của vỏ gồm:
– Primus jamarsakura: Eriodyctylol,
Narangenin, Genkwanin, Glucogen kwanin, Sakuranetin,
Sakuranin..
Tại Việt Nam, quả Anh đào Đà lạt được dùng làm
thực phẩm và chế biến thành rượu Anh đào.
Trần Minh Quân
12/2008
Tài liệu sử dụng:
– Taylor’s Guide to Fruits and Berries
– The Oxford Encyclopedia of Food and Drink in America
(Smith)
– Whole Foods Companion (Dianne Onstad)
– Fruits as Medicine (Dai Yin-fang & Liu Cheng-jun)
– Thuốc Nam trên Đất Mỹ (tập 3)
– Tạp chí Sunset (January 2005