|
BẰNG LĂNG TÍM... HAY
BẰNG LĂNG NƯỚC
(LAGERSTROEMIA
SPECIOSA)
Trần Minh Quân

Hoa
bằng lăng tím
Hoa
Bằng lăng tím và
hoa Phượng vĩ
được xem là
những bông hoa
của tuổi học trò,
ngây thơ và e ấp.
Hoa được xem là
biểu tượng cho
sự chung thủy,
sự ngây thơ của
màu tím tuy hơi
lãng mạn và hơi
buồn, tượng
trưng cho những
mối tình đầu của
thuở học trò, để
rồi theo thời
gian trở thành
những kỷ niệm
vấn vương.
Hoa cũng
là nguồn cảm hứng
cho các thi sĩ, nhạc
sĩ.. Bài hát 'Bằng
lăng tím' có những
câu:
'..Nắng
gửi gì cho hoa Bằng
lăng..mà đượm màu
sắc tím.
Em đi
qua..bâng khuâng,
chợt tiếc..'
Bài thơ
nổi tiếng 'Bằng lăng'
của Tế Hanh:
'Bằng lăng
soi bóng ven hồ
Xuân đi
thu đến bao giờ nở
hoa?
Hoa ơi có
phải vì ta
Mà hoa
tím cả trời xa..trời
gần.'
Ngoài ra
còn những bài thơ
không kém phần gợi
nhớ như:
'Em nói
rằng
Yêu sắc
Bằng lăng
Hoa nở rộ
Đầu mùa
khô khát
Khoe sắc
tím
Dẫu tình
đời mặn nhạt
Dầu dãi
một màu
Son sắt
thủy chung'
(Nguyễn Anh Tri)
.png)
Hoa bằng lăng
Bài thơ
Bằng lăng tím của
tác giả vô danh(?):
'Anh yêu
em khi chưa biết
bằng lăng
Chỉ nghe
kể một loài hoa màu
tím..'
và
'Xưa yêu
em chỉ biết cánh
bằng lăng
Đem kết
tóc để một thời rực
cháy..'
Bằng
lăng nước, ngoài
vai trò cây
cảnh, cây công
nghiệp (lấy gỗ
đóng thuyền và
đồ vật gia dụng
còn là một nguồn
dược liệu đang
được nghiên cứu
và ứng dụng làm
thuốc trị tiểu
đường (nhất là
tại
Philippines).
TÊN KHOA HỌC
VÀ CÁC TÊN GỌI
KHÁC:
Lagerstroemia
speciosa thuộc
họ thực vật Lythraceae
Tên Anh
ngữ: Giant
Crape-myrtle,
Queen's Crape-myrtle
Các tên
địa phương: Banabá
(Philippines);
Arjuna (Phạn),
bundaro, jarol
(Hindi); Bungur
(Indonesia); Tabaek
dam, chuangmuu
(Thái)
Da hua zi
wei = Đại hoa tử-vi
(Trung Hoa)
MÔ TẢ THỰC VẬT:
Bằng lăng
nước thuộc loại cây
thân gỗ lớn, phân
nhánh nhiều, kích
thước trung bình,
mọc cao đến 20m. Tàn
lá lan rộng Vỏ thân
mịn, trơn láng màu
kem-xám có những đốm
không đều, dễ bóc.
Cây
hoa bằng lăng tím
Lá rụng
hàng năm, hình bầu
dục, chóp nhọn, tròn
ở gốc, dài 8-15cm,
rộng 5-9cm. Phiến lá
nhẵn và dai, không
lông, hai mặt cùng
màu xanh nhạt.
Cụm hoa hình
tháp mọc ở giữa ngọn
nhánh có lông.
.png)
Lá bằng
lăng tím - Cụm
hoa mọc ở giữa ngọn
nhánh
Nụ hoa
hình cầu tròn đỏ
nhạt. Hoa lớn, rộng
trên 3cm, màu đỏ tím
(buổi sáng màu hồng,
chuyển sang tím vào
buổi chiều) có 6
cánh, nhiều nhụy.
Cuống hoa dài khoảng
5mm.
.png) .png)
Hoa bằng
lăng tím
Quả loại
nang, dạng trứng cỡ
20x18mm, mang lá đài
xòe ra nở làm 6
mảnh.
Hạt màu
nâu nhạt có cánh
mềm, đường kính
12-15mm.
.png)
Quả và
hạt bằng lăng tím
Bằng lăng
tím phân bố rộng rãi
tại vùng nhiệt đới
Đông Nam Á bao gồm
Philippines, Việt
Nam, Thái Lan,
Indonesia, Malaysia
và Nam Trung Hoa, cả
tại Úc. Tại Hoa Kỳ
cây có mặt tại
Hawaï. Riêng tại
Việt-Nam cây mọc
hoang và được trồng
làm cây cảnh tại
nhiều nơi nhất là
tại khu vực Đồng
Nai, Tây Ninh.
Trong 'Cây
thuốc và Động vật
làm thuốc ở Việt
Nam' của viện dược
liệu có bài về cây Bằng
lăng tía =
Lagerstromia
calyculata (trang
184), một cây tuy
cùng chi nhưng có
thành phần hóa học
tương đối khác và
được sử dụng làm
thuốc trị bệnh ngoài
da.
.jpg)
Bằng lăng tía
= Lagerstroemia
calyculata
Tại Trung
Hoa, cây được sử
dụng nhiều là Bằng
lăng xẻ =
Lagerstroemia indica
(Tử vi hoa) cũng
có thành phần và
dược tính khác với
Bằng lăng tím.
Cây bằng
lăng xẻ =
Lagerstroemia indica
(Tử vi hoa)
Hoa của cả
2 loại trên đều màu
trắng.
THÀNH PHẦN HÓA
HỌC:
Thành phần hóa học của Bằng lăng thay đổi tùy bộ phận của cây.
.png)
Bioactive sterols and triterpenoids from the fruits of giant crepe-myrtle - (ScienceDirect)
a/ Lá chứa:
- Những chất chuyển hóa từ ellagic acid trong đó gồm các ellagitannins (7 loại) như lagerstroemin, flosin B, stachyurin, casuarinin, reginin A..., các hợp chất methyl hóa của ellagic acid..
- Triterpens loại pentacyclic như corosolic acid (=2-alpha-hydroxyursolic acid), oleanolic acid, arjunolic acid, asiatic acid, maslinic acid..
- Sterols như beta-sitosterol, stigmasterol, campesterol.
- Flavonoids nhu kaemferol, quercetin, iso-quercetin.
- Chất béo, Amino acids (6 loại).
- Tannins (12-13 %).
- Dịch ly trích bằng ethanol nóng, sau khi phân đoạn ở môi trường trung tính cho: nonacosane, hentriacontane, tritria contane, olefins và các esters của các acid palmitic, daturic, stearic, arachidic và behenic (Annual Report of the Tohoku College of Pharmacy 26-1979).
- Nghiên cứu tại Khoa Dược ĐH Fujian (Trung Hoa): Lá chứa 4 loại triterpenes, 8 loại ellagic acid, một coumarin và một neolignan (Biochemical Systematics and Ecology Số 5-2013.)
- Nghiên cứu khác tại ĐH De LaSalle, Manila (Philippines) phân lập được thêm từ lá các hoạt chất 3-norlargerenol acetate và những hợp chất như tunotifolins C và D.. ngoài những chất đã biết như lutein, phytol..(Journal of Asian Natural Products Research Số 7-2005).
- Lá trước khi rụng, chuyển từ màu xanh sang cam hay đỏ, đây là giai đoạn nồng độ các hoạt chất trong lá tăng cao nhất.
b/ Vỏ thân chứa:
Những chất tương tự như trong lá.
c/ Hạt chứa:
- Dầu béo trong đó có các acids béo như caprylic, lauric, myristic, palmitic (9.7%), stearic (4.6%), arachidic, behenic, lignoceric, oleic (10.3%) và linoleic (54.3%)..Ngoài ra còn có 9-keotoctadec-cis-11-enoic acid (21.1%) cùng các hợp chất dẫn xuất từ nonanedioic và octadecenoic acid..
- Amino-acids.
d/ Đọt non: Có ellagic acid, campesterol, stigmasterol và beta-sitosterol
NGHIÊN CỨU DƯỢC HỌC:
1/ Bằng lăng và Tiểu đường:
Dược học dân gian Philippines dùng Bằng lăng để trị tiểu đường rất thông dụng như Mướp đắng tại Việt Nam. Bằng lăng là một trong 40 cây thuốc được Chính phủ Philippines đặt vào những chương trình nghiên cứu và cổ võ cho việc sử dụng để trị bệnh. Một số hoạt chất trong Bằng lăng như corosolic acid đã được chứng minh là thật sự có tác dụng làm hạ đường trong máu..
.png)
Corosolic acid from Lagerstroemia speciosa = 98 HPLC 4547-24-4
CÁC DỮ KIỆN IN VITRO:
Các dữ kiện này được ghi nhận qua các thử nghiệm trên các tế bào cô lập. Những nhận xét về khả năng làm hạ tiểu đường của bằng lăng được ghi nhận đầu tiên khi dùng mô thức thử nghiệm trên tế bào ung thư và sau đó trên các tế bào mô mỡ khác nhau như 3T3-L1..
Dịch chiết từ lá, sau khi loại tannins chứa những acid amin có hoạt tính làm hạ tiểu đường theo phương thức như insulin (Phillipines Journal of Science Số 122-1993)..
.png)
Inhibitory Actions of Lagerstroemia speciosa (L.) Pers. Aqueous and Ethanolic Leaf Extracts against Carbohydrate-digesting Enzymes.
(Tác động ức chế hoạt tính của các men tiêu hoá carbohydrate của dịch chiết bằng nước và bằng alcohol)
Hoạt tính làm khởi động hấp thụ glucose nơi tế bào thử nghiệm của dịch chiết cũng được ghi nhận kèm theo với hoạt tính ức chế phân lập tế bào mỡ (adipocyte): Hai hoạt tính phối hợp này khiến dịch chiết bằng lăng có thể dùng cho người tiểu đường type 2 có kèm theo béo phì (Journal of Nutrition Số 131-2001).
Một báo cáo khác ghi nhận Lagerstoemin (một ellagitannin), flosin B và reginin A làm tăng hấp thu glucose nơi tế bào mỡ của chuột. Một nghiên cứu định lượng cho kết quả là 100cc nước chiết 20% từ 20g lá và quả phơi khô từ 1-2 tuần có hoạt tính tương đương với 6-7.7 đơn vị insulin; hơn nữa dịch chiết bằng lăng không bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và hạ đường bằng cách uống (insulin mẫn cảm với nhiệt và cần dùng bằng cách tiêm-chích) trong khi đó nước chiết từ lá non và hoa chỉ có hoạt tính bằng 4.4-5.4 đơn vị insulin (Acta Medicina Phiippina Số 3-1941).
Dịch chiết từ lá bằng ethyl acetate có hoạt tính ức chế các men alpha-amylase và alpha-glucosidase (Phytotherapy Research Số 23-2009).
Nghiên cứu dùng mô thức tế bào mô mỡ 3T3-L1 ghi nhận nước chiết từ lá bằng lăng tạo một hoạt động vận chuyển glucose theo kiểu insulin. Khi dùng phân đoạn bằng HPLC các nhà nghiên cứu đã xác định được hoạt tính này là do các gallotannins và chất tanin có hoạt tính cao nhất là Penta-O-galloyl-glucopyranose (PGG) (Evidence-Based Complementary and Alternative Medicine Sỗ-2007)
CÁC THỬ NGHIỆM TRÊN THÚ VẬT:
Các hoạt chất sinh học trong lá, bao gồm lageracetal, 1-pentanol, ellagic acid, lagertannin và corosolic acid đều có ảnh hưởng trên sự chuyển vận glucose khi thử 'in vivo'. Chuột bị gây tiểu đường bằng chuyển biến gene, cho dùng chế phẩm từ bằng lăng trong 5 tuần liên tục, có kết quả là lượng đường trong máu giảm hạ đáng kể để có thể kết luận là bằng lăng có hoạt tính giúp kiểm soát mức đường trong các trường hợp tiểu đường 'không tùy thuộc vào insulin' (Bioscience & Biotechnology & Biochemistry Số 60-1996) Đặc chế Nhật (Glucosol) chứa 1% corosolic acid, chiết từ bằng lăng cho thấy kết quả giúp hạ đường trong máu của chuột bị tiểu đường thử nghiệm, 90 phút sau khi dùng, so sánh với chuột đối chứng (Yakuri To Chiryo Số 27-1994).
Dịch chiết từ lá làm hạ glucose trong máu của chuột thử nghiệm bị gây tiểu đường bằng streptozotosin, 15 ngày sau khi cho uống; dịch chiết này cũng có hoạt tính ức chế sự peroxyhóa các lipid và chống lại các phản ứng oxy hóa của các gốc tự do (Indian Journal of Experimental Biology Số 49-2011.
Hoạt tính hạ đường của dịch chiết lá bằng lăng bằng alcohol được ghi nhận là có tác dụng kéo dài đến 2 tuần sau khi ngưng thuốc, khi thử trên chuột bị gây tiểu đường (Journal of Nutrition Science and Vitaminology Số 45-1999).
Những kết quả tổng hợp về việc dùng Bằng lăng phối hợp với Mulberry tại Nhật (chế phẩm Banaba-kuwa) khi thử trên chuột đã được công bố với nhiều chi tiết trên Food Style Số 6-2002.
CÁC THỬ NGHIỆM LÂM SÀNG:
Một số thử nghiệm lâm sàng đã được thực hiện tại Nhật, Philippines, tuy nhiên các thử nghiệm này chưa đủ tính cách thuyết phục vì thiếu những dữ kiện 'thử nghiệm chính thống' và chỉ làm trong quy mô 'nhỏ' rất giới hạn:
- Thử nghiệm tại ĐH Y khoa Tokyo Jikeikai năm 1998: 24 bệnh nhân tiểu đường type 2 cho dùng corosolic acid trong 4 tuần được ghi nhận là có sự hạ đường trong máu, kết quả thử nghiệm tuy 'có tích cực' nhưng không chính thống..
- Một thử nghiệm lâm sàng nhỏ trên người, khả tin hơn, người thử nghiệm bị tiểu đường type 2, ngẩu nhiên (randomized) được cho uống hằng ngày, một chế phẩm từ bằng lăng tiêu chuẩn hóa để chứa 1% corosolic acid (Glucotrol). Kết quả ghi nhận: các liều 32mg và 48 mg uống trong 2 tuần, làm giảm đường trong máu rõ rệt. Ngoài ra tác dụng hạ đường của Glucosol ở dạng viên nang mềm khoảng 30%. Trong khi đó tác dụng hạ đường của viên nang cứng chỉ được 20%, đặt ra yếu tố sinh khả dụng của 2 dạng thuốc (Journal of Ethnopharmacology Số 87-2003).
CÁC HOẠT TÍNH DƯỢC HỌC KHÁC:
2/ Hoạt tính kháng khuẩn:
Dịch chiết từ hạt bằng lăng có hoạt tính kháng nhiều vi khuẩn và nấm gây bệnh.
Dịch chiết bằng Ethanol 50% từ lá và đọt non được ghi nhận là có khả năng ngăn chặn sự nhiễm siêu vi HIV-1 khi thử trên các giòng tế bào TZM-bl và CEM-GPF ở nồng độ IC50=1-25µg/ml. Hoạt tính này do gallic acid ức chế men reverse transcriptase và ellagic acid ức chế hoạt động của HIV-1 protease (Indian Journal of Medical Research Số 137-2013).
3/ Hoạt tính ức chế Xanthine oxydase:
Nghiên cứu tại TT Nghiên cứu Trung Ương của ITO EN Ltd, Shizuoka (Nhật) ghi nhận hai hoạt chất trích từ lá Bằng lăng tím Valoneic acid dilactone (VAD) và Ellagic acid (ED) có hoạt tính ức chế men Xanthine oxydase mạnh hơn allopurinol (Xanthine oxydase là men giúp chuyển biến hypoxanthine thành xanthine và sau đó thành uric acid, tác nhân gây bệnh gout) Nghiên cứu cho rằng dùng trà dược từ lá bằng lăng có thể giúp ngừa gout.(Journal of Ethnopharmacology Số 93-2004).
4/ Hoạt tính chống sưng-viêm:
Các dịch chiết từ lá bằng lăng bằng các dung môi khác nhau như ethyl acetate, ethanol, methanol và nước đều có hoạt tính thu nhặt các gốc tự do (gây các phản ứng oxy-hóa), đồng thời có hoạt tính chống sưng khi thử trên chuột bị gây phù chân sau bằng carrageenan, dịch chiết bằng ethylacetate có hoạt tính cao nhất, và hoạt tính này tùy thuộc vào liều lượng sử dụng. (Inflammopharmacology Số 16-2004).
5/ Chống béo phì, giúp giảm cân:
Dịch chiết 5% bằng nước từ lá bằng lăng được dùng trong thực đơn của chuột các béo phì KK-Ay/Ya Jel cho thấy có sự giảm trọng lượng cơ thể khoảng 10% so với chuột đối chứng ăn theo thực đơn bình thường, ngoài ra nồng độ triglyceride trong gan của chuột uống nước sắc bằng lăng giảm được đến 40% (Journal of Nutrition Science and Vitaminology Số 45-1999).
Một đặc chế dùng trị béo phì, giúp giảm cân gồm Gymnestra sylvestre, Garcinia cambogia (Bứa) và Bằng lăng đã được thử nghiệm trên chuột, ghi nhận đặc chế có hiệu ứng tương tự như glibenclamide và sibutramine (International Journal of Pharmacy and Pharmaceutical Sciences Số 2-2010).
NHẬN ĐỊNH TỔNG HỢP:
A Comprehensive Review on Pharmacology and Toxicology of Bioactive Compounds of Lagerstroemia Speciosa(L.)
(Đánh giá toàn diện về dược lý và độc tính của các hợp chất có hoạt tính sinh học của Lagerstroemia Speciosa(L.)
Một báo cáo tổng hợp về sự hiệu nghiệm và mức độ an toàn khi dùng bằng lăng và corosolic acid đã được các tác giả SJ. Stohs, H. Miller và GR. Kaats, thuộc Trung tâm Y Khoa ĐH Creighton Omaha (USA) phổ biến trên Phytotherapy Research Số 26-2012:
Hoạt tính hạ đường của Bằng lăng đã được chứng minh là do cả corosolic acid và các ellagitannins. Các nghiên cứu đã dựa trên các mô thức dùng thú vật, nơi người, và các thử nghiệm in vitro sử dụng các dịch chiết từ lá bằng lăng bằng nước, dịch chiết corosolic acid tiêu chuẩn hóa, corosulic acid tinh khiết và ellagitanins. Corosulic acid tinh khiết được ghi nhận là làm hạ đường trong vòng 60 phút khi thử trên người.
Corosolic cũng có những hoạt tính hạ lipid, chống oxy-hóa, chống sưng, kháng nấm, kháng siêu vi, kháng tế bào ung thư. Tác dụng của Bằng lăng và Corosulic acid trên sự biến dưỡng glucose và lipid có thể liên hệ đến nhiều cơ chế hoạt động như cải thiện sự thu nhập glucose nơi tế bào, gây trở ngại cho việc thủy giải sucrose và tinh bột, làm giảm tiến trình tiêu thụ glucose và điều hòa sự biến dưỡng lipid. Các hoạt động trên liên hệ đến các yếu tố trung chuyển như PPAR, MAP-K, NF-kB..' (PubMed 22095937).
BẰNG LĂNG TRONG THUỐC DÂN GIAN:
Tại Philippnes:
- Lá được dùng để làm thuốc lợi tiểu, thuốc xổ, trị bệnh đường tiểu, viêm thận.
.png)
- Nước sắc từ rễ dùng trị đau bao tử.
- Toàn cây trị tiểu đường.
- Vỏ sắc lấy nước trị tiêu chảy.
- Hoa sắc trị nóng sốt, lợi tiểu.
Một phương thuốc dân gian tại Philippines để trị tiểu đường được pha chế như sau: 20g lá khô, sắc trong 50ml nước đến sôi, lược bỏ lá, uống như nước trà mỗi ngày 2 lần.
.jpg)
Những lợi ích của cây bằng lăng
Tại Việt Nam: Vỏ thân (sắc) làm thuốc trị tiêu chảy. Quả trị lở miệng.
Tại Ấn độ và Pakistan: Rễ dùng trị sốt nóng, kích thích và chất chát. Vỏ và lá làm thuốc xổ. Quả làm thuốc đắp trị lở miệng.
Quả bằng lăng
CÁC CÔNG DỤNG KHÁC:
Cành và gỗ dùng làm chất đốt cung cấp nhiệt lượng 18,850-19,230kJ/kg.
Gỗ thân bằng lăng có tỷ trọng 505-810kg/m³ khi còn 15% độ ẩm. Gỗ tâm, được xếp vào loại gỗ cứng, màu nâu nhạt hay vàng-nâu, có khi đỏ nhạt và đỏ-nâu, có những vân, thớ gỗ đan vào nhau, chống được mối mọt nên khá được ưa chuộng để xẻ thành ván đóng thuyền, bàn ghế gia dụng và làm ván lót sàn.
.png)
Gỗ cây bằng lăng
Lá, vỏ thân dùng lấy tannins cho công nghiệp nhuộm.
Cây trồng làm cây cảnh ven đường, giữ đất khỏi bị xoi mòn. Tại Java, được trồng để tái tạo rừng nơi những đồi trọc.
.png)
Mùa hoa bằng lăng ở Việt Nam
Tài liệu sử dụng:
-The Review of Natural Products (Facts & Comparisons)
-Agroforestry Database (Lagerstromia Speciosa)
-Philippines Medicinal Plants: Banaba
-Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ văn Chi)
|
|
|