Trần Minh Quân
Lan Tục Đoạn (Pholidota) không được xem là một cây lan thông dụng tại Hoa Kỳ và cả tại Việt Nam. Tên tiếng Việt có thể gây nhầm lẫn với cây Tục Đoạn, một vị thuốc trong Đông dược. Tên thực vật Pholidota cũng cần chú ý vì có những sự định danh chưa rõ rệt giữa 2 chi lan cùng nhóm: Pholidota và Coelogyne.
Tục Đoạn, trong thuốc Bắc (Xu-Duan, Hau-Tuan) và thuốc Nam, là tên gọi dành cho rễ phơi khô của cây Dipsacus japonicus thuộc họ thực vật Dipsaceae. Vị thuốc này còn có các tên như Tiếp cốt thảo, Xuyên đoạn. Theo ‘Cây thuốc và Động vật dùng làm thuốc ở Việt Nam’ (Viện Dược Liệu VN), tập 2 trang 1032, thì vị thuốc là từ rễ cây Dipsacus asper, còn gọi là Oa thái, Sơn cân thái, sâm nam. Các tên ngoại quốc được ghi là Teasel, Chardon rude. Trong y học cổ truyền, Tục Đoạn được dùng làm thuốc bổ, chữa đau lưng, té ngã.
Tuy nhiên, theo Hong-Yen Hsu, thì trong thuốc Tàu, còn có nhiều cây khác, thuộc những họ thực vật không liên hệ cũng được dùng làm vị thuôc Tục Đoạn (?):
Dipsacus aster: Tục Đoạn tại Trung Hoa và Đài Loan
Cirsium japonicum, họ Asteracea, Tục Đoạn tại Nhật.
Phlomis maximowiczii và Lamium album, cả hai thuộc họ Labiatae là tục đoạn tại Đại Hàn.
Lan tục đoạn tên Việt của chi Pholidota, có điểm đặc biệt là không dựa trên từ ngữ Hán-Việt. Pholidota được ghi trong Flora of China là ‘Shi xian tao shu’ = Thạch tiên đào (shu=thuộc (loài) Để phân biệt ngoài tên chính ‘Lan tục đoạn’, mỗi loài được kèm theo ‘cụm từ’ phụ để mô tả cây như Lan tục đoan đuôi phượng = Pholidota imbricata. Flora of China gọi cây này là ‘Su bao shi xian tao’ (Túc bao thạch tiên đào).
Về phương diện tên khoa học (tên thực vật) nhiều cây Pholidota có những tên đồng nghĩa tương đương là Coelogyne (Pholidota imbricata còn có tên là Coelogyne imbricata). Các nhà thực vật chuyên về lan đã chia họ Orchidacea (họ lan) ra nhiều họ phụ, Coelogyne thuộc họ phụ Epidendroideae rồi họ phụ này chia thêm để có tông (tribe) Coelogynae, tông phụ Colelogininae để sau cùng trong tông phụ này có những chi: Coelogyne, Pholidota và Dendrochitum. Lan Coelogyne được gọi là Lan Thanh đạm.
Một số cây lan Pholidota (như P. imbricata) còn có tên Anh ngữ là Rattlesnake orchid do hình dạng của chùm hoa, từ 15-20 chiếc màu từ trắng đến nâu, có lá bắc hơi phình bao lại, trông giống như đuôi rắn chuông. Tuy nhiên một loài lan khác Goodyera pubescens cũng có tên là Rattlesnake plantain orchid, nhưng có khi chỉ ghi gọn là rattlesnake orchid.
Riêng tên latin Pholidota, còn dùng trong sinh vật học, để đặt cho nhóm động vật Trút (một loài động vật ăn kiến,và môi, thân phủ vẩy, tên Anh ngữ là Pangolins).
Mô tả thực vật và dược tính:
Theo nhà nghiên cứu lan Bùi Xuân Đáng, trong Lan rừng Việt Nam (hoalanvietnam.org) thì trên thế giới có chừng 29 loài Pholidota và tại Việt Nam có 14 loài. (Sách Tra Cứu Tên Cây Cỏ VN của Võ văn Chi ghi nhận 13 loài) Flora of China ghi nhận Trung Hoa có 12 loài, trong đó nhiều loài cũng có mặt tại Việt Nam.
Lan Pholidita phân bố trong khu vực Nam Trung Hoa, Đông Nam Á, Mã Lai, Philippines, Indonesia, Tân Calidonia, Tân Guinea và Úc (chỉ có loài duy nhất là P. imbricata).
Lan tục đoạn có đặc tính chung là thân mọc thẳng hay bò, có thể là thạch lan, địa lan và phong lan (khí sinh), giả hành nhô rõ, mọc thành tụm hay phân chia riêng rẽ bằng chùm rễ. Giả hành dạng sơ, đơn nốt, khi non được phủ bởi lá bắc. Mỗi giả hành có 1-2 lá, xanh bóng, dài hơn rộng, phẳng. Hoa khá nhiều mọc trên cần dài. Hoa nhỏ mọc cách thành 2 hàng, tồn tại khá lâu, nhiều màu khác nhau từ trắng, kem, vàng nhạt, hồng nhạt.
Những cây Pholidota đáng chú ý về phương diện dược học:
Pholidota chinensis:
Tên thường gọi: Lan Tục Đoạn Trung Hoa, Lan tục đoạn lá bắc. Chinese Pholidita Shi-xian tao.
Tên thực vật đồng nghĩa: Coelogyne chinensis; Pholidota chinensis var.cylyndracea.; Pholidota annamensis
Thuộc loại phong lan, rễ bò đường kính 4-10 mm, có thể đến 20 cm. Rễ dài, có lông. Giả hành mọc cách nhau hình thoi, kich thước thay đổi, thường 1.6-8 cm x 5-23 mm, mang mỗi cái một cặp lá ngắn. Lá thuôn hay hơi bầu, 5-22 cm x 2-6 cm, có 3 gân nổi rõ. Chùm hoa dài 15-30 cm xuất hiện giữa các giả hành mới, Hoa 20-30 chiếc, to 2 cm, các lá đài và cánh hoa có màu vàng-nâu, trong khi đó cánh môi màu trắng. Hoa có mùi thơm, nở vào mùa Xuân. Quả nang hình cầu hay trái xoan.
Pholidota chinensis là loài của vùng Nam Trung Hoa (Phúc Kiến, Quảng Đông, Vân Nam, Hải nam), Myanmar và Việt Nam.
Tại VN, lan mọc trong vùng núi cao 1200-1500 m từ Lào Cai, Vĩnh Phú qua Quảng Trị, KonTum, Lâm Đồng.
Dược học cổ truyền Tàu dùng giả hành phơi khô để làm thuốc. Vi thuốc được xem là vị ngọt/nhạt, tinh mát, có tác dụng ‘thanh nhiệt, dưỡng âm’, ‘hóa đàm chỉ khái’, ‘tư âm, giải độc’, lương huyết giảm đau và ‘nhuận phế, sinh tân’. Được dùng để trị sưng phế quản, ho khan, sưng cổ họng kinh niên, sưng hạch amygdal. Trị ho lao, ho ra máu; loét bao tử.
Theo James Duke (Medicinal Plant of China): Rễ chùm dùng sắc, uống trị lao hạch, nóng sốt, nóng bao tử; ngâm rượu uống trị nội thương, ho-suyễn, phong thấp. Toàn cây sắc uống trị sưng bao-tử, ruột ; ói ra máu, ho lao.
Thành phần hóa học: Pholidota chinensis chứn những hợp chất loại phenanthrene như phochinennins A-F, những hợp chất biaryls như phochinenins G-L, gymconpin C4, blestrianol A2, và flavantrin (Tetrahedron: Assymetry Số 19-2014). Dịch chiết từ rễ và chồi P. chinensis bằng dichloromethane cho 3 hợp chất loại stlbenoids: Coelonin, Batatasin III và Pholidotol D (Bioorganic & Medicinal Chemistry Số 22-2014)
Dược tính: Hoạt tính chống sưng, giúp giảm đau đã được xác định: Pholidota chinensis chứa những stlibenes, trong đó Pholidotol A và B có tác động ức chế sự tạo nitric oxide của đại thực bào RAW264.7 (chuột), sự tạoNO này được kich hoạt do một liposaccharide (LPS) từ vi khuẩn và gamma-interferon (INF-gamma).(Chemistry & Pharmacy Bulletin Số 54-2006). Các stilbenes trong cây có hoạt tinh diệt bào trên một số dòng tế bào ung thư. Một thử nghiệm ghi nhận Pholidotol A có tác động trên sự thoái hóa thần kinh.
2- Pholidota yunnanensis
Lan tục đoạn Vân Nam ; Yun nan shi xian tao
Tên đồng nghĩa Pholidota kouytcheensis
Mô tà theo Bùi Xuân Đáng: Phong lan nhỏ, lá 2 chiếc. Chùm hoa dài 12 cm, hoa 15-20 chiếc, to 3-4 mm, nở vào mùa Xuân. Nơi mọc: Vị Xuyên, Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa.
Flora of China ghi thêm nhiều chi tiết: Rễ bò, đường kinh 4-6 mm, phân nhánh, phũ những lớp vỏ dày. Giả hành thường nhô cách khoảng 1-3 cm trên rễ chùm, to chừng 5 cm x 6-8 cm. Lá thuôn dài hình mũi giáo 6-15 x 0.7-1.8 cm. Phát hoa trổ từ rễ gần gốc của giả hành già nhất, dài 7-12cm mang 15-20 hoa màu trắng hay màu da nhạt. Cây phân bố trong vùng Quảng Đông, Quế Châu,Tứ Xuyên, Vân Nam, Bắc Việt Nam.
Tại Trung Hoa, giả hảnh được hầm với thịt heo để trị ho kinh niên và suyễn.
Dược tính:
– Trong cây có những triterpenes, những hợp chất phenanthrenes, stilbenoids.
Một số hoạt chất được phân lập gồm: n-nonacosane, cyclopholidone, n-dotriacontanoic acid, n-octacostyl ferulate cyclopholinonol, cycloneolitsol và beta-sitosterol (Trung Quốc Trung Dược Tạp chí Số 29-2004)
Hoạt tinh chống sưng của cây đã được xác định: Các phenanthrenes như phoyunnanines A-C, lusianthridin, eulophiol và imbricatin có tác dụng chống oxy-hóa khi thử trên hệ thống thử nghiệm dùng 2,2-diphenyl-1-picrylhydralazil (DPPH) ở nồng độ EC50= 8.8-55.9 microM (Journal of Natural Products Research Số 9-2007). Ngoài ra các chất chuyển hóa phenanthrene: phoyunnanin D và E, các hợp chất stilbenes phoyunbene A-D cũng ngăn chặn sự tạo nitric acid (tương tự như trong P. chinensis. Eulophilol có khả năng chống lão hóa của tế bào da.
Phoyunbene B một hợp chất stilbene, hoạt động tương tự kiểu resveratrol, phân lập từ Pholidata yunnanensis có hoạt tính ức chế sự tăng trưởng của tế bào ung thư gan (hepatocellular carcinoma) HepG2, mạnh hơn revesratrol. Hoạt tính ức chế này do gây ngưng hoạt động của chu trình sinh trưởng tế bào G2/M và gây khởi động tiến trình apoptosis (Bioorganic & Medical Chemistry Letter Số 22-2012)
Pholidota imbricata:
Lan tục đoạn đuôi phượng, Tục Đoạn kết lợp; Su bao shi xian tao (Túc bao thạch tiên đào)
Tên đồng nghĩa: Coelegyne imbricata, Cymbidium imbricatum, Pholidota bracteata
Mô tả (theo Tra cứu Thực vật Rừng Việt Nam): Lan sống phụ sinh, thân rễ bò dài, giả hành xa nhau hình thoi hay bầu dục dài, có cạnh đỉnh mang một lá. Lá dài 20-30 cm, rộng 5-6 cm, hình giáo thuôn tù ở đỉnh, gốc có cuống dài 2-6 cm. Cụm hoa ở đỉnh giả hành dài 15 cm. Hoa xếp thành 2 dãy dẹp ngoài có lá bắc bao phủ. Hoa màu trắng hay nâu nhạt, cánh môi chia 3 thùy: thùy giữa lõm.
Sách ‘Cây cỏ có vị thuốc ở Việt Nam’ của GS Phạm Hoàng Hộ (PHH) ghi thêm: Nang dài 15mm.
Pholidata imbricata phân bố ở Sri Lanca, Pakistan, Thái, Trung Hoa, Malaysia, Indonesia, Úc. Tai VN cây mọc tại miền Trung (Quảng Nam, Đà Nẵng, Kontum, Lâm Đồng) và miền Nam (Bà Rîa-Vũng Tàu, Côn Đảo)
Tại Trung Hoa, nước ép từ giả hành dùng thoa trị đau mũi, đau bụng và phong thấp; ngâm rượu làm thuốc bổ.
Nghiên cứu khoa học:
Dịch chiết toàn cây P. imbricata bằng ethanol cho thấy có hoạt tính kháng sinh chống các vi khuẩn Escherichia coli, Staphylococcus aureus và Vibrio cholera và kháng các nấm Candida albicans, Rhyzopus stolonifer, Mucor spp (Journal of Nepal Chemical Society Số 29-2012).
Vài nghiên cứu khoa học liên hệ đến vài loải Lan tục đoạn khác:
Một số nghiên cứu cũng được thực hiện trên vài loài Pholidota như:
– Thành phần hóa học của Pholidota cantonensis (Xi ye shi xian tao= Tơ diệp thạch tiên đào):
4 hợp chất từ P. cantonensis được xác định: pholidonone, ephemeranthroquinone, orchinol và batatasin III (Trung Quốc Trung dược Tạp chí Số 33-2008).
– Dịch chiết bằng ethanol từ Pholidota articulata (Lan tục đoạn khế, Tục Đoạn đốt) cũng có tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm tương tự như P. imbricata.
Nước ép từ giả hành P. articulata được dùng để bó trị trật xương; Toàn cây ngâm rượu làm thuốc bổ; nước ép từ quả dùng trị nổi mụn ngoài da.
– Theo PHH: Pholidota convallariae: toàn cây trị đau bao tử-ruột, chảy máu cam, trị phong lở ngoài da.
Tài liệu sử dụng:
Medicinal Plants of China, Korea and Japan (Christophe Wiart)
Flora of China: Pholidota
Lan rừng Việt Nam A-Z (Bùi Xuân Đáng)
Trần Minh Quân, 24 tháng Ba 2014#1