Trần Minh Quân

 

 Mùi của Hoa Lan
                                                                   ::  Trần Minh Quân ::


    
 
Nhiều Nhà văn, nhà thơ thường hay nhắc nhở là nên tạm ngưng sự hối hả của đời sống trong vài giây phút để thưởng thức mùi thơm của hoa Hồng (Take time to smell the roses), và ít ai nói đến hương thơm của hoa Lan, được mệnh danh là ‘Vương giả chi Hoa’ vì Lan không những có ‘sắc’ tuyệt vời mà còn có ‘hương’ ngọt ngào hấp dẫn..Trong thế giới loài hoa, không có loài nào có được khả năng tỏa hương thơm như hoa Lan..

 
 ( Danh từ ’mùi’ (scent) dùng chung để gọi những hợp chất do Lan tỏa ra trong không gian bao quanh cây, và ‘hương’ fragrance,
trong bài, được dùng để gọi các mùi thơm tạo cảm giác dễ chịu, còn những mùi tạo sự khó chịu như mùi cá, mùi trứng ung sẽ được gọi riêng biệt, Xin đọc thêm loạt bài ‘Mũi và Mùi’ để dễ theo dõi các danh từ sử dụng trong bài này)

     * Thành phần của hương thơm:

       Hương của Lan được định nghĩa chung như một hợp chất dễ bay hơi tỏa ra từ cây. Hương được tồn trữ dưới dạng những dầu béo nằm trong các tế bào đặc biệt (osmopheres) ở những khu vực quanh hoa, lá và rễ lan. Trong một vài trường hợp đặc biệt, một lượng rất nhỏ dầu này có thể làm cho lan trở thành độc hại. Các ‘dầu’ thơm trong lan này là những hỗn hợp từ một vài hóa chất (3-5) đến rất nhiều (25-30) pha trộn chung. Dầu ‘dễ bốc hơi’ (volatile) nghĩa là chuyển nhanh qua trạng thái hơi, khiến hệ thống cảm nhận mùi nơi mũi chúng ta dễ nhận thức được..

 
                                           
                                                                           Brassavola nodosa

 
                                            
                                                 Brassavola digbyana       
 
     
 
Ngay từ 1884, nhà sinh vật học Darwin đã ghi nhận những osmopheres trong thực vật. Rất nhiều nghiên cứu ngày nay đã phân tích thảnh phần ‘hương’ của các loài hoa và giải thích sự liên hệ giữa ‘hương’ và các ‘tác nhân tạo sự thụ phấn’(pollinators) cho cây.

 

     Các phương pháp ly trích tinh dầu và cô lập những đơn chất trong dầu của thực vật nói chung và hoa nói riêng đã được viết rất chi tiết trong nhiều sách vở về hương liệu.

                         
   Trong một nghiên cứu của AOS (Bulletin Nov. 1986 khoảng 11 hợp chính đã được ghi nhận từ hoa Lan và những hợp chất này cũng có thể có mặt trong những loài hoa khác nhưng theo những tỷ lệ rất khác biệt..

 
                                             
 
                                                   Stanhopea tricornis
 
    
 
                                              
                                      Catasetum discolor                             
 


 


 

Một bảng liệt kê một số hợp chất cùng với các cây Lan liên hệ được công bố như sau:

             Hợp chất tạo mùi                                Lan liên hệ

   - Cineol (dùng trong Y-dược)                       Brassavola nodosa

   - Citronellol (giống mùi hoa hồng)                Brassavola digbiana

   - Benzyl acetate ( mùi hoa nhài)                  Stanhopea tricornis, S. grand folia..

                                                                     Cycnoches ventricosum, C. warscewizii

   - d-Carvone ( mùi bánh lúa mạch)                  Catasetum discolor
   - Methyl salicylate (mùi bạc hà=mint)            Catasetum collare, C. gnomus, C. candida  
- ethyl cinnamate (mùi quế)                               Catasetum roseum; Stanhopea saccat                            
   - Eugenol (mùi đinh hương)                           Gongora quinquenervis
   - 1,8-Cineol                                                      Stanhopea cirrata
 
   - Linalool (mùi hoa lily-of-the valley)            Brassavola digbiana; Gongora quinquenervis       
 
  

     * Tiến trình tạo mùi (scent)

        Có thể ước lượng là khoảng 75% lan có ‘hương’ (thơm), một số hầu như không mùi nhưng cũng có một số rất ít tỏa mùi rất khó chịu (như mùi thịt thối, trứng ung..). Hệ thồng cảm nhận mùi nơi mũi con người chỉ ‘nhận’ được một số mùi trong ‘giai điệu’ như những ‘nốt nhạc’ (xin đọc loạt bài Mũi và Mùi). Một số mùi khác từ lan chỉ được một số côn trùng riêng biệt nhận được. và có những trường hợp chỉ một loài côn trùng riêng thích hợp với một loài lan ..cũng riêng biệt..
                

 

Catasetum collare                             Catasetum roseum
 

 
      Mùi ‘hương’ được ‘sản xuất’ tại các tế bào chuyên biệt ‘osmopheres’; những tế bào này có thể ở bất kỳ vị trí nào nơi hoa hay nụ hoa, tùy theo nhiệm vụ của chúng. Đây là những ‘hạch’ có những hoạt động sinh lý rất mạnh và tiêu thụ nhiều năng lượng của cây. Các phản ừng hóa học diễn ra trong tế bào, đôi khi khá mạnh, để tạo ra một nhiệt độ cao hơn bình thường ngay nơi hoa hay nụ hoa.

 
   Một cây lan, bình thường không có mùi thơm, nhưng khi bị du nhập đến một vùng sinh sống khác có thể ‘tự tiến hóa’ và tạo ra một ‘hương’ riêng đễ dẫn dụ những tác nhân tạo sự thụ phấn ’mới’ như trường hợp cây lan Phalaenopsis amabilis tại Guinea (loài lan này, khi trồng ở các nơi khác, hầu như không có mùi )

 
                                            
 
                                                Gongora quinquenervis
 

 
                                            
                                                 Phalaenopsis amabilis      

 
   Tất cả mọi bộ phận của hoa đều có thể tạo mùi: từ cánh hoa, đài hoa đến các nốt sần và vùng đáy hoa: Các tế bào osmopheres trong lan có thể phân tán và cũng có thể tụ tập tại một nơi cố định trong hoa.. Đa số các ‘hạch’ tạo hương nằm tại cánh môi (ví dụ như Phalaenopsis amabilis ).

 
   Trong thế giới Lan các họ Catasetinae  Gongorinae được xem là có những cây lan có mùi hương mạnh nhất. Mùi hương của hoa Catasetum sẽ tạm ngưng vài giờ ngay sau khi hoa thụ phấn để bảo tồn năng lượng đồng thời giới hạn hoạt động của các tế bào osmopheres.

 
                                                           
 
                                                               Brassavola digbyana
 

 
                                                       
 

 


 

                                         
 

   Cánh môi của hoa Lan thường là phần hấp dẫn nhất của hoa: trên bề mặt của cánh môi đôi khi còn có thêm những nốt sần nhỏ (mụn u). Những mụn này có thể chứa những tế bào đơn dộc loại trichomes (lông). hoặc những vảy..sản xuất ra tinh bột, chất đạm, dầu béo, hương thơm và những hợp chất khác để dẫn dụ những tác nhân tạo thụ phấn: những tác nhân này khi nhai hoặc cạo các nốt mụn sẽ có thể làm cho cây thụ phấn. Hoa của lan Gongoras tuy thơm nhưng chỉ tồn tại được khoảng 2-3 ngày, những cây được bù trừ lại bằng sự kiện các hoa nở một cách tuần tự, liên tiếp nhau: khi môi hoa (nơi tạo ra hương thơm) bị cắt bỏ..thì phần hoa còn lại sẽ tiếp tục nở kéo dài đến 2-3 tuần

 
   Đỉnh ngọn lá đai (tepals) cùa lan Pragmipeditum caudatum, tỏa mùi khai nước tiểu, có thể là để dụ một loài kiến giúp tạo thụ phấn. Phần thuôn dài của các cánh bên của hoa lan Cirrhopetalum ornatissimum tỏa một mùi tanh như mùi dầu cá voi, trong khi đó cánh môi lại có mùi cá thu (herring) tươi.

 

                                                  
 
                                                         Catasetum fimbriatum

 

           
 

                                            Pragmipeditum caudatum

 
      Mùi hương của lan được tạo ra theo một chu kỳ diễn ra hàng ngày: cao điểm của lúc hoa tỏa mùi thường phù hợp với thời gian hoạt động mạnh nhất của tác nhân tạo thụ phấn. Sự tạo hương cần tiêu thụ năng lượng nên thời điểm hoa lan tỏa hương càn xẩy ra đúng vào lúc tác nhân tạo thụ phấn đến với hoa giúp cho sự tiết kiệm năng lượng ( chỉ tiêu thụ năng lượng tối thiểu nhưng đạt được hiệu ứng cao nhất).

 
      Loài lan Brassavola nodosa tỏa hương rất nồng vào buổi chiều của những ngày mùa Hè ấm áp: mùi ngọt ngào này tỏa vào lúc hoàng hôn, nồng nhất vào giữa đem và tan biến khi rạng đông. Một số thử nghiệm về Brassavola ghi nhận: khi tạo các điều kiện để kéo dài thời gian giữ lan trong bóng tối, mùi hương sẽ tồn tại lâu hơn, do đó xác nhận được là sự tỏa mùi hương của hoa tùy thuộc vào chu kỳ ánh sáng (ánh sáng kích khởi hoạt động của các tế bào’photochrome’ nơi hoa). Một số thử nghiệm khác cũng xác định là sự cảm nhận ánh sáng có thể được khỏi động từ phát hoa.

 

            
 
                                   Cirrhopetalum ornatissimum

 
 
 
                                            Brassavola nodosa

 

      Mùi hương của lan có thể thay đổi từng ngày về cả số lượng (nồng độ) lẫn chất lượng: Clowesia rosea tỏa mùi dầu ‘Vicks’ (bạc hà pha trộn khuynh diệp) vào buổi sáng nhưng chuyển sang mùi quế vào buổi trưa. Catasetum expansum buổi sáng tỏa mùi nhựa thông nhưng qua trưa mùi trở thành mùi..bánh làm bằng bột rye (rye bread).

 


 

                                            Lowesia rosea 

                                

                                          
 
 
   Những hoa lan thụ phấn do côn trùng thường tỏa hương vào lúc sáng sớm: Cattleya luteola rất thơm trong khoảng từ 4 đến 8 giờ sáng, Ong thường đến với hoa trong khoảng thời gian từ 5 giờ 30 đến 5 giờ 45 sáng. Đa số lan (thụ phấn do côn trùng) không có mùi khi chiều xuống, và mùi hầu như mất hẳn trong đêm. Ngoài ra những lan thụ phấn trong ban ngày thường có màu sắc rực rỡ.
 
                                         
 
                                             Cattleya luteola                               
 

 

      Cao điểm của thời gian tỏa hương cũng thay đổi tùy loài lan: có thể là ban ngày hay ban đêm: Loài Epidendrum difforme, mùi thơm dịu ban ngày nhưng rất nồng về đêm, trong khi đó Epidendrum falcatum lại thay đổi mùi tùy thời gian của ban ngày: đang từ mùi thơm dịu của hoa nhài khi sáng sớm, đến trưa lan đổi mùi có ‘nốt’ nồng như mùi Huệ kèn (Easter lily) hay như mùi Thủy tiên.

 

                                                  
 

                                                  Epidendrum difforme 
 

 
                                        
 
                                              Epidepidendrum falcatum
 

                                                       
 

      Hoa Brassavola nodosa tỏa mùi rất hăng, đồng thời tiết ra một chất mật khá đặc, dấu kín dưới sâu nơi bầu noãn: mùi thơm được tiết ra vào buổi chiều xuống, lên đến cao điểm vào giữa đêm và phai nhạt vào lúc rạng đông..Catasetum tenebrosum, từ Peru (Nam Mỹ), trổ hoa rất đẹp, màu nâu chocolat, gần như đen, giống những chú chim đang bay. Hoa tỏa mùi thơm ngọt ngào có thoảng hương chanh vào ban ngày, khoảng 4 ngày sau khi hoa nở và kéo dài đến 3 tuần khi hoa tàn..

 

 

                                         Catasetum tenebrosum

 

      Encyclia radiata trồng trong ’nhà kiếng tỏa mùi thơm ’spicy’ (gia vị pha trộn) dễ chịu, khá lâu nhưng sau đó trước lúc hoa tàn, mùi trở thành hăng nồng khó ngửi và mùi mất hẳn khi hoa tàn.

 

Encyclia radiata
 

 

     * Liên quan giữa mùi hoa và sự thụ phấn:

        Các nhà nghiên cứu đã tổng hợp được mùi của hoa từ những hợp chất hóa học hữu cơ và dùng các ’hương tổng hợp’ này đễ ’dụ’ các tác nhân tạo thụ phấn và nhờ đó xác định được tác nhân cần thiết cho chu kỳ sinh lý của từng loài thực vật.

 
         Đối với lan, côn trùng là tác nhân tạo thụ phấn quan trọng nhất: tuy kích thước bé nhỏ nhưng côn trùng lại có một hệ thống thị giác rất đặc biệt, giúp chúng định hướng rất chính xác trong không gian: Ong có khả năng bay tìm về hoa có màu sắc thích hợp, nhưng thật ra trong đa số các trường hợp chúng bị dẫn dụ từ xa do mùi hương của hoa và sau đó từ một khoảng cách nào đó..chúng mới dùng ‘mắt’ để tìm đến hoa.. Khả năng nhận mùi (khứu giác) của con nguời chỉ cảm nhận được mùi tỏa ra từ hoa, ở một tần số (ngửi) giới hạn, sự liên hệ nhận mùi giữa côn trùng và hoa cũng còn xảy ra ở những tần số mà con nguời không ’cảm’ được! (Xin xem loạt bài Mũi và Mùi)

 

     Lan thụ phấn do Ngài:

        Khoảng 8% các loài lan được thụ phấn do (bướm) ngài (Phalenophilus), tỏa hương ban đêm, Các lan này thường thuộc các chi lan Phi châu như Agraecum, Aerangis. Các mùi thơm quyến rũ như mùi hoa nhài, hoa honeysuckle, hoa huệ, dành dành tỏa về đêm: Các hoa thụ phấn về đêm tỏa mùi rất nồng và tiết mật; hoa thường có màu trắng hay xanh nhạt, đồng thời cánh môi khá rộng giúp làm ‘nơi đáp’ cho côn trùng và giúp hướng dẫn côn trùng sau khi chúng bị dẫn dụ bởi mùi hoa..

 

                                        
 
                                                          Agraecum

 
                                        
 
                                                           Aerangis
 

 

     Cấu tạo cơ thể của hoa và tác nhân tạo thụ phấn thường phù hợp đặc biệt vớí nhau: Ví dụ rõ rệt nhất là trường hợp của lan Madagascar Angreacum sesquipedalian. đây là một loài lan cho hoa tuyệt đẹp: hoa to và bóng (sáp) dạng ngôi sao, ban ngày hoàn toàn không có mùi nhưng ngay khi màn đem vứa phủ xuống, hoa tiết ra hương ngạt ngào cho đến sáng sớm hôm sau. Mùi hương đạt cao điểm vào đêm thứ 3 hay thứ 4 kể từ khi hoa nở. Tác nhân tạo thụ phấn là bướm ngài Xanthopan morganiforma praedica, có một vòi hút dài thích hợp với độ sâu 20-35cm để đạt đến bàu mật của hoa..

 

 
 

Madagascar Angreacum sesquipedalian

     
Lan thụ phấn do ruồi bọ:

     Trái ngược hẳn với trường hợp các loài lan tỏa hương trong đêm, một số loài lan lại phát ra mùi hôi thối, khó ngửi, lan cũng có màu sắc ’u ám’ thích hợp với những loài ruồi bọ: đại diện cho trường hợp này là loài Cirrhopetalum, phân bố rộng tại vùng Đông-Nam Á.

 


 

Cirrhopetalum
 

 

   Cây Dracula Chestertoni của vùng Colombia, có mùi hăng giống như mùi nấm, môi hoa cũng hình nấm, dẫn dụ được loài ruồi bọ thường đẻ trứng vào những nấm cũng sống quanh lan.

 

Dracula Chestertoni

          

 - Lan thụ phấn do Ong :

             Các nhà nghiên cứu ước lượng có khoảng 60% các loài lan được thụ phấn do ong (nhiều loài khác nhau như ong mật, ong vò vẻ, ong ruồi..). Hoa của những loài lan này có những mùi thơm đa dạng có thể như nhài, hồng, đậu thơm v.v.. và cả mùi pha trộn từ nhiều hương hoa đồng cỏ.. Mùi hương thường được toả ra ban ngày, là thời điểm hoạt động của ong. Màu sắc của hoa cũng rực rỡ và có nhiều màu ‘bắt’ mắt.

 

 

 

                                               Coryanthes macrantha                                                                                                   


 

 
      - Mối tương quan giữa lan và ong (euglossine):

 

        Các loài lan như Coryanthes, Gongora, Stanhopea và Castasetum không tạo mật hoa nhưng dẫn dụ ong đực do mùi hương thơm nồng, Các hạt ‘thơm‘ bám vào những chân trước có lông của ong và sau đó được chuyển sang ‘tồn trữ‘ nơi những chân sau. Một số nghiên cứu cho rằng, mùi hương được cơ thể ong chuyển sang một dạng ’pheromone’ để thu hút ong cái. Sự thụ phấn được tạo ra khi ong đến ..viếng hoa. Mùi hương và hình dạng của từng loài lan chỉ ‘thích hợp’ với riêng một loài ong..

 


 

                                                         Stanhopea  

 

                                                                                 

 

     - Trường hợp lan loài Ophrys:

          Hoa loài lan Ophrys , rất giống với hình dạng của côn trùng. Hoa không tiết mật và cũng không có phấn hoa để ong sử dụng, nhưng lại tiết một mùi thơm khá mạnh tương tự như một hợp chất pheromone nơi ong cái, và mùi này đã dụ ong đực từ xa..Ong đực đến với hoa trong mục đích truyền giống, nên giúp tạo ra sự thụ phấn. Sự thu hút do mùi pheromone mạnh đến mức ong đực thích đến với hoa Ophrys hơn là đi theo ong cái..

 


 

                                                         Ophrys
 

 

         * Mùi hương và sự di truyền khi lai tạo:

        Sự lai tạo tự nhiên xẩy ra trong thiên nhiên và lai tạo do con người đã tạo thêm được nhiều loài lan. Lan lai mang theo những đặc tính của cha (từ loài lan, lấy phấn) và mẹ ( lan, dùng bầu noãn).

 


 

                                             Paphiopedilum delanatii
 
                                       
 
                                              
 
                                                     Paphiopedilum malipoense            
 
                                

   Nơi loài Paphiopedilum, mùi thơm có thể được thừa hưởng từ phấn hoa (cha): Paphiopedilum delanatii tỏa hương thơm ngọt ngào như ’chanh-bưởi’ và Paphiopedilum malipoense; lại có mùi thơm của dâu raspberry. Đây là hai loài lan có hương thơm hấp dẫn nhất trong các loài Paphs. Một số chủng (clones) có mùi đậm hơn các chủng khác (tuy trong cùng một loài), nhất là vào buổi sáng khi tia nắng đầu tiên chiếu đến hoa. Sự lai tạo giữa 2 cây trên cho Paphiopedulum Lynleigh Koopowitz có mùi hương rất dễ chịu như mùi dâu raspberry.

 

 

 

Paphiopedulum lynleigh koopowitz

 

   Trong khi đó sự lai tạo giữa P. malipoense X P. niveum cho loài Paphiopedilum Wossner Jade chỉ cho một số cây giới hạn có mùi thơm!

 


 

                                         Paphiopedilum Wossner Jade
 


 

   Mùi thơm của hoa Paphiopedilum emersonii được xem là mùi pha trộn giữa mùi chocolat và mùi lá mới ủ. Khi lai tạo giữa P. emersonii X P. delanatii cho P. Joyce Hasegawa tỏa mùi đặc biệt của hoa hồng..khác hẳn những mùi thơm từ cây cha và cây mẹ!

 

                                       
 
                                               Paphiopedilum emersonii  

 
                                      
 
                                                                                               
                                                     P. Joyce Hasegawa        

 
   Nhóm lan Cattleya được xem là nhóm lan có nhiều mùi đa dạng nhất trong thế giới lan. Các sự lai tạo đã cho ra rất nhiều cây có mùi hương đặc sắc từ mùi hoa carnation, mùi gia vị tổng hợp, mùi chanh, mùi cam, mùi mơ, vani và quế cùng những mùi tổng hợp khó mô tả .
 
                                                
                                                       Cattleya percivaliana
 

 
     * Trường hợp mùi Vanilla (xin đọc thêm bài Lan Vanilla)

 
     Trong kỹ nghệ hương liệu vanillin (hay 4-hydroxy-3-methoxybenzaldehyde) được sử dụng rất thận trọng. Mùi ngọt ngào của vanillin khi dùng quá độ..gây khó chịu, nhưng lượng vừa đủ khi pha trộn với các mùi hương khác lại tạo thêm sự ‘toàn vẹn’ cho mùi thơm của sản phẩm. Nhiều chất chuyển hóa từ vanillin đã được dùng trong những mục đích khác nhau, mỗi loại riêng cho từng trường hợp riêng biệt.: Ethyl vanillin ( hay Bourbonal), mạnh gấp 3 lần vanillin, cho mùi ‘ấm’ và cảm giác ‘hoa’ hơn. Vanillin có khuynh hướng làm đổi màu của hợp chất sau khi pha trộn, do đó dạng acetal có vòng kết hợp với propyleneglycol đã được sử dụng, mùi tuy yếu hơn, nhưng vẫn giữ được ’độ ngọt của hương’ Một hợp chất mới dẫn xuất từ vanillin, dễ dùng hơn là isobutavan@ vừa ‘ngọt vừa thơm dịu như ‘chocolat trắng’ thoảng thêm mùi cùa quả mơ chín..

 
     (Isobutavan, tỷ lệ khoảng 2%, pha trộn với tinh dầu patchouli là 2 mùi hương chính trong sản phẩm nổi tiếng A*Men=Oriental-ambery)

 

     * Sự phân loại mùi hương :

   Khi chúng ta ngửi mùi thơm hoa lan, nhất là lần đâu tiên thử nhận định mùi hoa, chúng ta thường so sánh mùi này với những mùi đã từng ngửi qua và liên tưởng ngay đến những mùi thông thường (đã được ghi trong ’bộ nhớ’ của não bộ) như mùi hoa hồng, thủy tiên, hoa nhài, quế.. Sau đó qua kinh nghiệm chúng ta khi cảm nhận một mùi lạ sẽ có thể nhận định được ngay là mùi này do từ loài lan..nào đó đã từng biết..

     Một số mùi thơm tử hoa có thể liên quan trực tiếp với màu sắc của hoa:

     - Hoa trắng- Mùi thơm dịu


 

     Mùi thơm đến từ hoa có màu trắng thường dịu và nhẹ với những ‘nốt’ mùi hoa nhài, hoa cam, hoa honeysuckle..Mùi hương thường được toả vào lúc chiều tối hay trong đêm. Đa số được thụ phấn do bướm ngài được dẫn dụ do mùi và màu của hoa.

     - Hoa màu hồng- Mùi ngọt, của hoa hồng giống như mùi ‘Turkish Delight’

 

 

       Nhóm này có những mùi thơm như hoa cyclamen, lily of the valley, hoa đậu thơm..Áng sáng mặt trời và thời tiết ấm giúp hoa tỏa hương.


 

     - Hoa màu vàng- Mùi nồng hương chanh

     - Hoa màu nâu- Mùi gia vị pha trộn: đinh hương, ngò tây, quế và carraway..

 


 

     - Hoa xanh lục- Mùi cỏ, hương đồng nội.

     - Hoa mầu xậm- Mùi khó chịu..
                                                                  Trần Minh Quân

 

Tài liệu sử dụng :

          - Project Fragrance, Orchid SA ( Linet Hamman)

         - Fragrant Orchids (Steven Frowine)

         - Essential Oils (Bojensen.net)

 

 

 

 

Trở Về Trang Chính