Chi
Vanilla có
khoảng 110
loài, trong
đó Vanilla
planifolia là
loài quan
trọng nhất
về phương
diện kinh tế.
Các cây lan
Vanilla phát
triển rất
tốt trong
khu vực giữa
các Vĩ tuyến
20 Bắc và 20
Nam bao gồm
những vùng
từ Mexico
xuống Nam Mỹ
và qua tận
Madagascar
(Phi châu).

Vanilla
planifolia
Từ nhiều thế kỷ
trước khi người
Âu châu ‘khám
phá’ Châu Mỹ,
thổ dân Aztec đă
dùng vanilla làm
hương vị và đă
biết cách ‘làm
chín’ (ủ=dú) quả
để tạo mùi thơm. Quả
vanilla đă
được người Aztec
dùng làm ‘cống
vật’ dâng Vua,
làm nguyên liệu
để chế hương
thơm và làm
thuốc bổ.
Huyền sử
Totonaca (một bộ
tộc thổ dân sống
tại vùng
Mazantla,
Mexico) kẻ rằng:
“Cây vanilla
được sinh ra khi
Công chúa Xanat,
bị vua cha cấm
yêu một chàng
trai dân thường,
đă cùng t́nh
nhân bỏ trốn vào
rừng, nhưng họ
bị bắt và bị
chém, máu của
hai người chết
v́ yêu đă ngấm
xuống đất và từ
đất đă mọc lên
cây vanilla,
tượng trưng cho
một t́nh yêu bất
tử.”
Khi thực dân
Tây Ban Nha
do Hernan
Cortés chiếm
ngự Mexico,
một tay phụ
tá Bernal
Diaz đă nhận
thấy Hoàng
đế Montezuma
thường uống
loại nước
giải khát
‘chocolatl’
làm bằng hạt
cacao, hạt
bắp (cả hai
đều được
nghiền thành
bột) và thêm
hương vị từ
tlilxochitl
(bột nghiền
từ quả
vanilla đen)
pha thêm mật
ong. Người
Tây ban Nha
đă mang cây
về ‘mẫu quốc’
và đến cuối
thế kỷ 16,
việc dùng vanilla đă
phổ biến
khắp Âu châu:
tại Anh từ
1602, và tại
Pháp từ
1700,
vanilla đă
được dùng để
tăng mùi cho
chocolat và
thuốc lá.

Quả
vanilla lúc c̣n
xanh

Quả
vanilla chín

Quả vanilla khô

Hạt vanille
Trong suốt 3
thế kỷ, sau
Cortès,
Mexico đă là
một trung
tâm sản xuất
vanilla độc
quyền trên
thế giới.
Một vài thử
nghiệm sơ
khởi trồng
Vanilla tại
vùng Viễn
Đông đă được
thực hiện
tại
Buitenzorg,
Java từ
1819, nhưng
tuy cây trổ
hoa, lại
không ra quả.
Bí mật này
chỉ được
giải đáp vào
năm 1836 khi
nhà thực vật
người
Belgique,
Charles
Morren, cho hoa
vanilla thụ
phấn bằng
tay.
Ông đă giải
thích là hoa
vanilla tại
Mexico ra
quả do sự
trợ giúp của
một loài côn
trùng chỉ có
tại địa
phương, và
côn trùng
này là một
loài ong (melipone
bee), cùng
với một loài
chim
hummingbird
đă giúp hoa
thụ phấn
trong môi
trường thiên
nhiên. Ngoài
ra, hoa của
lan vanilla
rất chóng
tàn, chỉ nở
kéo dài
trong ṿng
24 giờ, nên
việc thụ
phấn phải
diễn ra đúng
thời điểm để
cây ra quả.

Hoa
vanilla
thụ phấn
bằng tay


Hoa vanilla thụ phấn bằng tay
Đến 1841,
Edmond
Albius, một
cựu nô lệ
tại Reunion
đă t́m ra
phương pháp
tạo thụ phấn
cho hoa
vanilla khá
‘độc đáo’:
dùng đầu
nhọn của đũa
tre đă vót,
lấy khối
phấn hoa,
tách môi hoa
và đưa khối
phấn vào
tiếp xúc với
bàu noăn.
Phương pháp
thủ công này
vẫn hiện
được áp dụng
tại những
đồn điền
trồng
vanilla ở
nhiều nơi
trên thế
giới.

Cách thụ
phấn cho
hoa
vanilla dùng
đầu nhọn
của đũa
tre đă
vót
Hiện nay,
vanilla được
trồng tại
những đồn
điền ở Phi
châu như tại
Reunion,
Mauritius,
Madagascar,
Seychelles,
Tanzania; ở
Á châu như
Java,
Indonesia) ;
ở Nam Mỹ như
Brazil; ở
các đảo
trong khu
vực Caribbea
như
Jamaica..
Ngày nay
Cộng ḥa
Malagasy
(Madagascar
cũ), đảo
Comores và
Reunion cung
cấp khoảng
90% lượng
hạt vanilla
sản xuất
trên toàn
thế giới,
phần c̣n lại
do từ
Seychelles,
Mexico,
Polynesia (thuộc
Pháp),
Indonesia và
Uganda.

Vanilla
planifolia,
orchid
flower
of
vanilla
from
Madagascar
Hoa Kỳ là quốc
gia đứng đầu thế
giới về tiêu thụ
vanilla, theo
sau là Âu châu (nhất
là Pháp). Tổng
sản lượng thế
giới hiện nay
mỗi năm khoảng
1400 tấn vanilla
khô.
(Một
số cây vanilla
planifolia, đă
được trồng tại
vài khu vực Nam
Florida như
Miami-Dade, Long
Pine Key,
Everglades HK,
nhưng không ra
quả trong các
điều kiện tự
nhiên)
Tên gọi khác của
lan Vanilla
Tên khoa học
và những tên gọi
khác:
Vanilla
planifolia thuộc
họ Orchidaceae.
Các tên thực vật
đồng danh:
Vanilla fragrans,
Epidendrum
vanilla,
Myrobroma
fragrans.
Tên thường gọi
Flat-leaved
Vanilla.
Ngoài ra c̣n
có 2 loài
Vanilla khác
cũng được
trồng để làm
gia vị là
Vanilla
pompana (Pompana
Vanilla,
West Indian
Vanilla) và
Vanilla
tahitensis
(Tahitian
Vanilla).

Vanilla
pompana


Tahitian Vanilla Bean Origins
Mô tả lan
Vanilla
planifolia
Cây thuộc loại
dây leo, thân
mọng mọc bám nhờ
rễ cuốn vào cây
chống, thân
đường kinh 1-2
cm (0.4-0.8″),
có thể mọc dài
đến 10-15 m
(11-16.4 yards).
màu lục xậm,
chia thành những
đốt, khoảng cách
giữa 2 nốt từ
5-15 cm (2-6″).
Rễ dài, màu
trắng nhạt,
khí sinh,
đường kính
chừng 2 mm
(0.08″), mọc
đối diện với
lá.

Cây
lan
Vanilla planifolia
Lá phẳng, mọng,
mọc cách, h́nh
thuôn-mũi giáo,
dài 8-25 cm x
2-8 cm (3.15-10″
x 0.8-3.15″);
mũi lá tuy nhọn
nhưng cùn, gốc
hơi tṛn, phiến
có nhiều gân
song song nổi rơ;
cuống ngắn.
Hoa lớn, có mùi
thơm, màu
xanh-vàng nhạt,
đường kinh
khoảng 10 cm
(4″), rất chóng
tàn. Cuống hoa
rất ngắn. Bàu
noăn h́nh trụ
cong, dài khoảng
4-7 cm
(1.6-2.75″),
rộng 1-1,5 cm
(0.4-0.6″). Hai
cánh hoa phia
trên dạng tương
tự như cánh đài,
nhưng nhỏ hon;
cánh hoa phia
dưới biến dạng
thành cánh môi
h́nh loa kèn.
Hoa thường chỉ
trổ hoa mỗi năm
một đợt, tại
Mexico trong các
tháng 4-5, và
các đảo Phi châu
như Madagascar,
Reunion vào các
tháng 11-Giêng.
Quả dạng nang,
hơi h́nh trụ dài
10-25 cm
(4-10″), đường
kinh 5-15 mm
(0.2-0.6″), khi
khô có mùi thơm,
chứa nhiều hạt
li ti nhỏ cỡ 0,3
mm (0.12″); hạt
được phóng thich
khi nang quả nứt
làm đôi.
Tại Mexico
và Trung Mỹ, vanilla
planifolia được
thụ phấn tự
nhiên do
loài ong điạ
phương
Melapona và
cũng có thể
do loài chim
hút mặt
hummingbird
đặc biệt
trong vùng.
Tỷ lệ thụ
phấn tự
nhiên chỉ
khoảng 1%.

Hoa
lá và quả
Vanilla
planifolia
Tại Việt Nam,
không thấy có
tài liệu nào của
các tác giả Việt
ghi về chi
Vanilla, tuy
nhiên trong “The
Orchids of
VietNam”, TS
Leonid Averyanov
có ghi loài
Vanilla
atropogon (trang
128), t́m thấy
tại Ḥn Bà (Khánh
ḥa), tác giả mô
tả mẫu vật về
phương diện thực
vật nhưng không
ghi những ứng
dụng kinh tế.
Thành phần hóa
học lan Vanilla
có ǵ
Quả
vanilla chứa
phần chính là
Vanillin ngoài
ra c̣n có những
hợp chất (khoảng
250) như eugenol,
caproic acid,
phenoles, phenol
ether, alcohols,
hợp chất loại
carbonyl, acids
(như vanillic
acid), esters,
lactones, các
carbohydrate dây
thẳng và thơm,
vitispiranes.
Quả V.
planifolia tại
Mexico chứa
1.5-2 %
vanillin, tại
Bourbon chứa đến
2.6 % vanillin
–
Thành phần dinh
dưỡng của quả
(theo USDA):
Trong 100 gram
(3.5 oz) chứa:
-
Calories 288
-
Carbohydrate
12.65 g
(0.45 oz)
-
Chất đạm
0.06 g
(0.0021 oz)
-
Chất béo
tổng cộng
0.06 g
(0.0021 oz)
-
Khoáng chất:
Sodium (9
mg),
Potassium
(148 mg),
Calcium (11
mg), Sắt
(0.12 mg),
Đồng (0.072
mg),
Magnesium
(17 mg),
Manganese
(0.230 mg),
Phosphorus
(6 mg), Kẽm
(0.11 mg)
-
Vitamins:
Niacin
(0.425 mg),
Pantothenic
acid (0.035
mg),
Pyridoxine
(0.026 mg),
Riboflavine
(0.095 mg)
Hoat chất
Vanillin
Vanillin là một
aldehyde
phenolic, thành
phần chính trong
dịch chiết từ
quả vanilla
planifolia.
Trong quả có
khoảng 2 %
vanillin (tính
theo trọng lượng
khô) (Vanillin
cũng có mặt
trong một số cây
cỏ khác như lan
Leptotes
bicolor, vỏ
thông đỏ Tàu.)
(Về phương diện
hóa học,
vanillin=4-hydroxy-3-methoxybenzal
dehyde có thể
điều chế từ
nhiều nguồn gốc
khác nhau.
Ferulic acid một
hợp chất loại
phenolic thơm
rất thông thường
trong thiên
nhiên, được sử
dụng như một
nguyên liệu căn
bản trong các
quy tŕnh biến
đổi thành các
hương liệu hữu
ich khác:
vanillin,
vanillic acid và
protocatechuic
acid đều là
những chất biến
đổi từ ferulic
acid, Isoeugenol
có thể chuyển
thành ferulic
acid và sau đó
thành vanillin)
Vanillin được
Nicolas-Theodore
Gobley cô lập từ
dịch chiết vanilla
planifolia và
sau đó tinh chế
thành một chất
khá ‘tinh khiết’
từ 1858. Do nhu
cầu cao, các nhà
hóa học đă t́m
cách tổng hợp
vanillin từ
những nguồn
nguyên liệu
khác.
1874: 2
nhà hóa học Đức
Ferdinand
Tiemann và
Wilheim Haarmann
đă tổng hợp được
vanillin từ
coniferin, một
glucoside của
isoeugenol lấy
từ vỏ thông.
1878: Karl
Reimer, tổng hợp
vanillin từ
guaiacol.
Từ cuối thế kỷ
19, vanillin do
bán tổng hợp từ
eugenol đă được
bán trên thị
trường.
Từ những năm
1930s, lignin
một phụ phẩm
thải từ kỹ nghệ
bột giấy đă được
dùng làm nguyên
liệu để tổng hợp
vanillin thay
cho tinh dầu
đinh hương (chứa
eugenol). Tuy
nhiên việc dùng
lignin đă trở
thành không
thích hợp và
vanillin tổng
hợp hiện nay
được sản xuất từ
những phó phẩm
dầu hỏa: guaicol
và glyoxilic
acid.
Từ năm 2000,
Công ty Rhodia
đă đưa ra phương
pháp sinh tổng
hợp vanillin
bằng cách lên
men vi sinh từ
ferulic acid,
trich từ cám
gạo. Phương pháp
chưa được áp
dụng v́ giá
thành quá cao
700 USD/kg so
với 15 USD từ
dầu hỏa (một ưu
điểm duy nhất là
vanillin từ
phương pháp vi
sinh được phép
xem như Natural
flavoring, trong
khi đó vanillin
từ dầu hỏa buộc
phải ghi
Synthetic
flavor).
Vanillin có
nhiều công dụng
trong công
nghiệp thực phẩm
(thường ghi là
‘imitation
vailla) để tạo
thêm hương vị,
công nghiệp mỹ
phẩm (nước hoa,
kem dưỡng da),
che mùi vị khó
chịu trong dược
phẩm, đồng thời
làm chất trung
gian trong việc
tổng hợp nhiều
hóa chất khác
(khoảng 13% tổng
sản lượng
vanillin được sử
dụng làm nguyên
liệu để tạo
những hóa chất
khác); ngoài ra
vanillin c̣n
dùng làm ‘phẩm
màu’ trên các
tấm mỏng dùng
trong phương
pháp Sắc kư lớp
mỏng (thin layer
chromatography=TLC)
Nghiên cứu
dược học
Vanillin
Hoạt tính dược
học của Vanilla
planifolia được
xem là do
Vanillin. Cũng
như đa số
polyphenols,
Vanillin có
những hoạt tinh
chống oxy-hóa và
diệt tế bào ung
thư.
–
Vanillin có khả
năng bảo vệ các
tế bào gốc
keratinocyte
(người) chống
lại bức xạ cực
tím B, bảo vệ
được da (Food
Chemistry &
Toxicology Jan
2014)
–
Vanillin có hoạt
tinh chống đột
biến genes và ức
chế hoạt động
gây ung thư
(carcinogenesis)
của hóa chất.
Một nghiên cứu
về hoạt tính của
vanillin trên sự
tăng trưởng và
lan tràn của tế
bào ung thư vú
(mammary
adenocarcinoma)
4T1 của chuột
loại BALB/c.
Chuột cho uống
vanillin cho
thấy có sự giảm
số lượng các
nhóm tế bào ung
thư tràn qua
phổi so với
chuột đối chứng.
Nghiên cứu trong
ống nghiệm (in
vitro) ghi nhận
vanillin, khi
dùng ở nồng độ
không gây độc
hại cho tế bào,
có khả năng ngăn
chặn sự xâm nhập
và di chuyển của
tế bào ung thư,
đồng thời ức chế
hoạt tinh của
men MMP-9 do tế
bào ung thư bài
tiết. Vanillin
cũng ngăn chặn
sự tăng trưởng
của tế bào ung
thư khi thử in
vitro. Tuy nhiên
vanillic acid,
một chất biến
dưỡng thứ cấp từ
vanillin lại
hoàn toàn không
tác dụng trên
các tế bào ung
thư. (European
Journal of
Pharmaceutical
Science 2005)
Vanillin có hoạt
tính thu nhặt
các gốc tự do
gây tác hại cho
tế bào hệ thần
kinh đưa đến
những suy thoái
thần kinh như
trong các trường
hợp bệnh
Alzheimer’s,
Parkinson.
Vanillin cho
thấy có tác động
ngăn chặn hoạt
động của PON
(peroxynitrite),
ngăn chặn phản
ứng oxy-hóa
dihydrorho
damine 123
(Journal of
Agricultural
Food and
Chemistry 2004).
Một nghiên cứu
năm 1992
(Menashian at
al.) ghi nhận
vanilla giúp làm
giảm buồn nôn và
làm thèm ăn nơi
bệnh nhân đang
chemotherapy
(ung thư hóa
trị). Năm 2004,
Fladby và
Fizgerald ghi
nhận Vanilla có
thể giúp chẩn
đoán bệnh
Alzheimer’s do
người bệnh
thường không
‘ngửi’ được mùi
vanilla (Edible
Orchids-Krum
Sotirov).
Công dụng lan
Vanilla
Vanilla dùng
làm thực phẩm
Vanilla được
dùng khá phổ
biến trong công
nghiệp thực
phẩm. Do hương
vị tương đối tế
nhị, thay đổi
theo từng loài
vanilla và ngay
trong cùng một
loài, hương vị
cũng thay đổi
theo địa phương
nơi cây trồng
(như càphê,
nho).
Vanilla
planifolia bao
gồm các loài
trồng tại Ấn độ,
Indonesia, Papua
New Guinea,
Mexico,
Guatamala,
Uganda được chia
thành 2 nhóm:
–
Bourbon vanilla
hay Bourbon –
Madagascar
vanilla từ
vanilla
planifolia sản
xuất tại
Madagascar,
Comoros, Reunion
(Trong thế kỷ
19, các đảo
Comores và
Reunion được gọi
là Iles de
Bourbon). Mùi
thơm ‘ngọt
ngào’, mạnh nhất
trong các loài
vanilla. Chiếm
khoảng 70% tổng
sản lượng
vanilla trên thị
trường.
–
Mexican vanilla,
từ vùng gốc
Mexico nơi xuất
phát của V.
planifolia.
Hương vị đậm hơn
nhưng lượng sản
xuất giới hạn,
hương thơm được
giới tiêu thụ
đánh giá ‘cao’,
tinh tế hơn. Mùi
dịu dàng pha
trộn hương thơm
tổng hợp của
nhiều loài hoa
dại Mexican
vanilla trồng
tại Vera Cruz
được xếp vào
loại ‘hảo hạng’.
Vanilla
tahitiensis
cung cấp
‘Tahitian
vanilla’.
Hạt xậm màu,
ngắn và mập,
chứa nhiều
dầu béo hơn
hạt V.
planifolia,
hương thơm
thoảng thêm
mùi hoa dại.
Được mô tả
là có mùi
tổng hợp của
cam thảo,
cherry, mận
và nho.
Trước dây
toàn bộ
lượng
Tahitian
vanilla được
xuất qua
Pháp nhưng
hiện nay
khoảng ½
được xuất
qua Hoa
Kỳ .
French
vanilla,
không phải
là tên của
loài cây,
nhưng là
nhóm từ ngữ
để gọi những
chế phẩm có
mùi vanilla.
Trong công
nghiệp thực phẩm,
vanilla là một
‘phụ gia’ rất
thông dụng, đặc
biệt là là kem
đá lạnh (ice
cream). Nhu cầu
Vanilla ice
cream đă dùng
khoảng 50% tổng
số lượng vanilla
sản xuất trên
thế giới, chưa
kể luợng pha
trộn vào các
ice-cream khác.
Hoa Kỳ đă nhập
cảng mỗi năm
khoảng 50 tấn
vanilla từ
Mexico.
Trong khoa ‘nấu
nướng’ Vanilla
được dùng rất
nhiều, làm tăng
và tạo mùi thơm
cho bánh, kẹo,
cho các loại
sauces.
Trên thị trường
quả Vanilla
thường có màu
nâu-chocolat hay
đen (than), dẻo
và được phủ bằng
một lớp ‘sương
tinh thể’ (frost
hay givre). Quả
có thể tiếp tục
dùng lại, sau
khi trích
(extract), chỉ
cần rửa và phơi
khô trở lại, và
sau đó tồn trữ
trong b́nh kín,
Khi quả khô, trở
thành ḍn th́
mất hết mùi
hương.
Vanilla
extract: Dịch
chiết
vanilla (quả
vanilla băm
vụn) bằng
hỗn hợp nước-alcohol,
đun nóng ở
70°F (21°C),
chiết nhiều
lần, sau đó
giữ (ủ)
trong b́nh
kin từ 3-6
tháng.
(Vanilla
extract sản
xuất tại
Mexico
thường bị
pha trộn
thêm
coumarin một
chất tạo
hương vị độc
hại.
Coumarin đă
bị cấm sử
dụng trong
thực phẩm
tại HK từ
1954)
Vanillin và
những hợp
chất tạo mùi
trong quả
tan trong
alcohol hơn
là trong
nước, nên
nồng độ
alcohol càng
cao càng tốt.

Usine
de
vanille
De la technologie blockchain pour tracer les gousses de vanille
Pure vanilla
extract chứa 35%
alcohol (tính
theo thể tích).
Vanilla
flavoring loăng
hơn, chứa lượng
alcohol thấp hơn.
Imitation
vanilla là những
thành phẩm làm
bằng vanillin
tổng hợp. FDA
bắt buộc nhăn
sản phẩm phải
ghi ‘imitation’
nếu dùng hương
liệu (vanillin)
tổng hợp. Danh
từ ‘Vanilla
extract’ dành
riêng cho hương
liệu lấy từ quả
vanilla
Vanilla
oleoresin,
trong thương
măi, là tên
gọi dành cho
chất lỏng
màu nâu-đen
lấy được khi
chiết quả
vanilla bằng
các dung môi.
Chất lỏng
này không
phải là
nhựa-dầu.
Vanilla
oleoresin
được dùng
khi cần có
hương vị đậm
đặc, hoặc
khi cần ḥa
tan trong
dầu.

Vanilla
oleoresin
Vanilla
sugar là bột
trộn quả tán
mịn với
đường,
thường dùng
để chế tạo
chocolat.
Harold McGee,
trong “On Food
and Cooking” (trang
430-432) đă giải
thích về mùi
thơm của Vanilla
về phương diện
hóa học như sau:
“Quả vanilla,
sau khi chế biến
(cured) chứa
khoảng 20% nước,
20% chất sơ, 25%
chất đường, 15%
chất béo và phần
c̣n lại là acid
amin, hợp chất
phenolic, các
hưong vị khác và
sắc tô màu nâu.
Đường trong quả
tạo vị ngọt,
acid amin tự do
tạo vị béo, vị
ngon và tanin
tạo vị chát. Mùi
hương của
vanilla là một
tổng hợp phức
tạp từ trên 200
chất dễ bay hơi,
trong đó
vanillin là
chính, nhưng
vanillin dùng
riêng, không tạo
được mùi hương
của vanilla”.
McGee tóm lược
quy tŕnh chế
biến quả
Vanilla:
“Việc chế
biến
Vanilla,
khởi đầu từ
6 đến 9
tháng sau
khi hoa thụ
phấn, cho
quả màu xanh
bắt đầu
chín.Bên
trong quả,
hàng ngàn
hạt nhỏ li
ti nằm ém
trong vách
pha trộn với
hỗn hợp
đường, chất
béo, acid
amin và hỗn
hợp
phenolic-đường.
Các men bắt
đầu hoạt
động, phóng
thích các
hợp chất
phenolic và
các hợp chất
này di
chuyển ra
gần lớp vỏ
bên ngoài.
Giai đoạn
đầu của quy
tŕnh chế
biến
(curing) là
‘làm chết
quả’ để quả
ngưng sử
dụng đườngvà
acid amin,
đồng thời
‘gây thương
tổn’ cho tế
bào quả để
phóng thích
các hợp chất
phenolic
giúp di
chuyển đến
gặp các men.
Hai mục đích
này được
thực hiện
bằng cách
phơi quả
dưới nắng
gắt hay
nhúng quả
nhanh vào
nước nóng
hoặc hấp quả
bằng hơi
nước. Tế bào
vỏ quả bị hư
hại tạo sự
hoạt động
cho các men
polyphenoloxidase,
làm vỏ
chuyển từ
màu xanh
sang nâu.
Sau đó là
giai đoạn
quả được
phơi nắng,
ban ngày,
đến thật
nóng rồi bọc
vải trong
đêm, để toát
mồ hôi
(sweat).
Giai đoạn
này kéo dài
nhiều ngày (có
nơi như
Madagascar
từ 7-10 ngày)
để tạo sự
phóng thích
vanillin và
các hợp chất
phenolic
khỏi sự kết
nối với các
phân tử
đường. Sức
nóng và tia
nắng làm bốc
hơi bớt độ
ẩm của quả,
ngăn chặn sự
hoạt động
của vi khuẩn
bên ngoài vỏ,
đồng thời
tạo sắc tố
và mùi thơm
do phản ứng
giữa đường
và acid amin
bên trong
quả. Từ 3-5
kg (7.7
pounds) quả
tươi, sẽ lấy
được 1 kg
(2.2 pounds)
quả chế biến
(cured).
Trong giai
đoạn sau
cùng của
việc chế
biến, quả
được vuốt
thẳng và tạo
dẻo bằng tay,
làm khô
trong vài
tuần, tồn
trữ và ủ… để
hương vị gia
tăng. Toàn
bộ thời gian
chế biến có
thể kéo dài
khoảng 40-50
ngày với
Bourbon
vanilla, và
6-7 tháng
với Mexican
vanilla.

Antalaha
ou la
plaque
tournante
de la
Vanille
malgache
Vanilla dùng
làm thuốc
Trong những thế
kỷ 16-17,
vanilla được
giới Y-Dược Âu
châu cho là có
những dược tính
như kích thích,
giúp tiêu hóa và
kích dục, giải
độc, trị nóng
sốt. Vanilla
được ghi chép
trong một thời
gian dài, trong
các Chế dược thư
Anh và Đức,
chinh thưc trong
Chế dược thư Mỹ
(US Ph) từ 1860
cho đến 1910.
Hiện nay quả
vanilla hầu như
không c̣n dùng
trong dược phẩm.
Tài liệu sử dụng:
–
The book of
Spices (Frederic
Rosengarten).
– Vanilla Facts
(vanilla.servolux.nl).
– Complete Guide
to Orchids
(Ortho Books).
– The Oxford
Companion to
Food (Alain
Davidson).
– Vanillin
health benefit
(Ray Sahelian
MD).