|
|
Lan gấm đất

Lan
gấm đất - Jewel Orchid
Đa số các
cây lan được trồng và được giới
chơi hoa sưu tập là do ở hương
sắc của những bông hoa tuyệt đẹp,
nhưng đặc biệt là c̣n có một
nhóm lan được trồng, nhất là tại
Nhật và Nam Hàn do có lá mềm mại
với những vân, sọc nhiều màu sắc.
Tại Hoa Kỳ, nhóm lan này được
gọi chung là Jewel Orchid, c̣n ở
Việt Nam với tên gọi lan Gấm đất.
Jewel Orchid
không phải là tên thực vật nhưng
là tên của Nhà vườn dùng gọi
chung cho.. bất kỳ loài lan nào
trồng trang trí do lá đẹp, màu
sáng có nhiều sọc trên lá
(variegated), gân lá nổi rơ với
màu khá xậm.: Nhóm Jewel Orchid
hiện có 4 loài chính gồm:
Anoectochilus, Goodyera, Ludisia,
Macodes
Ba
loài đầu sẽ được tŕnh bày trong
bài do có một số dược tính đáng
chú ư. Riêng Macodes xin chỉ tóm
lược: Chi Macodes gồm khoảng 7
loài, tập trung tại Malaysia, ít
phổ biến trên thị trường do khó
trồng. Đặc điểm là lá màu xanh
xậm, pha trộn với những khoang
xanh nhạt và gân lá màu trắng.
Macodes petola là cây thông dụng
nhất trong nhóm, được bán tại
một vài nhà cung cấp lan sưu tập
ở Hoa Kỳ.
Macodes
petola: Tên Việt Nam Lan
gấm, lan lá gấm cũng là một
tên ‘chung’ đưa đến nhiều
ngộ nhận, khó phân biệt rơ
rệt các loài về phương diện
thực vật và dược tính nhất
là vào những năm đầu thập
niên 2010 đă xẩy ra một
phong trào đi nhổ lan gấm để
bán cho các tay buôn từ Tàu
sang thu mua. Theo báo chí
Việt Nam th́ lan lá gấm bán
cho Tàu c̣n được gọi là ‘Cây
kim cương’.

Lusidia
discolor: Ông Bùi Xuân
Đáng ghi lại :’ Lusidia
discolor=Lan lá gấm..Tại quê
nhà cây lan này mọc khắp nơi
từ Bắc, Trung, Nam. Khi bọn
thương lái Trung quốc sang
vơ vét những cây
Anoectochilus setaceus về
làm thuốc chữa bệnh về phổi
và thận, th́ cây Ludisia
discolor cũng bị thu
mua..hết sạch..’

Lusidia
discolor
1.
Goodyera
Lan
Gấm đất Goodyera là một chi lan
nhỏ, gồm khoảng trên 40 loài,
phân bố tại nhiều vùng trên thế
giơi, nhất là tại Đông Nam Á
Vùng Tây Bán cầu, theo Flora of
North America, có 16 loài,
thường được gọi chung là
Rattlesnake-plantain,
lattice-leaf, goodyérie. Tại
Việt Nam, theo nhà nghiên cứu
Bùi xuân Đáng trong Lan rừng
Việt Nam A-Z có 9 loài. Sách Tra
cứu Tên cây cỏ Việt Nam của GS
Vơ văn Chi ghi nhận 5 loài.
Trung Hoa, theo Flora of China
có 29 loài..
Lan lá gấm được GS Phạm Hoàng Hộ
gọi là ‘Hảo lan’, không phải là
một loài lan cho hoa đẹp để
trưng bày, nhưng lại là một loài
lan được nghiên cứu nhiều về sự
liên hệ cọng sinh giữa lan và
nấm. Ngoài ra Goodyera c̣n là
một nguồn dược liệu đáng chú ư.
Tên Goodyera được
đặt để kỷ niệm John Goodyer
(1592-1664) một nhà thực vật và
sưu tập cây cỏ người Anh.
Mô tả chung: Lan đất, rễ
chùm dài mọc ḅ, có thể có nhiều
nốt với rễ sợi ngay tại nốt.
Chồi thân mọc thẳng vươn cao, cỏ
thể dài hay ngắn tùy loài, mang
lá từ gốc đến giữa thân, cách
khoảng xa nhau. Lá màu từ xanh
nhạt đến xanh xậm, có loài màu
đen nhạt, gân giữa trắng hay
hồng nhạt, gân lá dạng màng nhện,
lá có thể thuôn hoặc h́nh trứng,
hơi mọng nước. Cụm hoa hẹp, mang
hoa dày đặc..
Lan Gooderya
gồm khoảng 100 loài phân bố
rộng tại nhiều nơi trên thế
giới như Nam Phi châu, Á
châu, Đông-Bắc Úc, Âu châu,
Madagascar, Bắc Mỹ và vùng
hải đảo Thái b́nh dương..

Goodyera
Goodyera tại
Hoa Kỳ: Tại Hoa Ky, cả hai
vùng Đông và Tây đều có những
loài Gooderya đáng chú ư Các
Tiểu bang ven biển phía Tây
(Washington, Oregon, California)
có Gooderya oblongifolia.
Tên
thường gọi: Menzie’s
Rattlesnake Plantain, Giant
rattle snake orchid. (Menzie là
tên một nhà khẩn hoang khai phá
các vùng đất mới tại Tiểu bang
Washington; tên plantain do h́nh
dạng cây giống cây major
plantain (mă đề) và tên
rattlesnake do các mạng trên lá
h́nh giống da rắn và do những cư
dân khai hoang đă dùng cây để
trị những vết thương do rắn
chuông cắn)
Cây lưu niên, có rễ chùm ngắn,
ḅ và rễ sợi. Chồi cao từ 20-45
cm, cứng có lông. Lá dài 3-10
cm, màu lục xậm, có vệt trắng ở
giữa, chia thành mạng như mạng
lưới. Hoa màu trắng -xanh nhạt
mọc theo hàng xoắn ở một bên của
cần hoa. Cây mọc tại những khu
vực đất mùn, ẩm, dưới bóng thông,
cần cộng sinh với nấm đặc thù
nơi môi trường chúng mọc.
Vùng phân bố: dọc ven
Thái b́nh dương từ Nam Alaska
xuống đến Bắc California và về
phía Đông đến khu Sierra Nevada.
Các Tiểu bang ven biển phía Đông
(Từ Florida lên đến Canada) có
Gooderya pubescens
Cây mọc rất chậm, chồi mọc ḅ và
chia nhánh tụ thành từng đám. Lá
mọc gần sát đất và sắp xếp như
theo một ṿng tṛn (rosette). Lá
h́nh trứng thuôn (oval) dài từ
3-6 cm. Làn gân giữa lá màu
trắng với một mạng gân nhỏ tỏa
ra từ gân chính giống như da rắn.
Toàn cây có phủ lông mịn
(downy), nhất là trên chồi hoa.
Hoa nở vào cuối Hè, màu trắng,
mọc dày đặc trên một chồi h́nh
trụ cao 12-40 cm.
Cây phân bố dọc ven biển miền
Đông HK và Canada từ Ontario,
Quebec xuống Oklahoma, Arkansas
đến tận Florida. Cây được xếp
vào loài gặp nguy cơ bị tận diệt
tại Florida, thường chỉ được bán
tại các nhà vườn do trồng và
nhân giống
Thổ dân dùng cây để trị rắn cắn,
phỏng và đau nhức xương
Goodyrea tại Việt Nam:
Trong ‘Lan rừng VN: A-Z’,
nhà nghiên cứu Bùi xuân Đáng mô
tả sơ lược 9 loài trong đó có
những loài chưa được đặt tên
Việt. Vài loài đáng chú ư về
phương diện dược học như:
Goodyera procera: Lan gấm
đất cao (Trần Hợp)
Trung hoa: Gao ban ye lan
(Cao ban diệp lan)
"Địa lan, lá 5-7 chiếc dài 9-10
cm. Chùm hoa ở ngọn, cao 40-50
cm. Hoa 40-50 chiếc, nhỏ 2-3 mm,
không mở rộng, nở vào đầu mùa
xuân. Mọc khắp Việt Nam" (Mô tả
của BX Đáng)
GS Vơ văn Chi trong ‘Từ điển Cây
thuốc Việt Nam" ghi:
"Điạ lan, cao
đến 50 cm, mang lá từ gốc
lên đến giữa thân. Lá có
phiến thon nhọn, dài 10-15
cm. Cụm hoa gần như dạng
bông hẹp, mang hoa xếp dày
đặc, dài 2-4 cm; lá đài giữa
dính với cánh hoa làm thành
mũ, môi dài 2 mm, gốc có u
gần như 3 thùy, có lông mặt
trong, bầu gần như không
lông, dài 4-5 mm"
Loài phân bố rộng từ
SriLanka, Ấn độ, Myanmar,
Thái, Tàu, Nhật, Phi,
Indonesia và Đông dương..
Flora of China mô tả kỹ
lưỡng hơn, có thêm những chi
tiết về cánh đài, cánh hoa..
như hoa có mùi thơm, nhỏ màu
trắng có ánh xanh, cỡ 3-5
cm..
Dược học
cổ truyền Tàu dùng toàn
cây làm thuốc và vị
thuốc được xem là có vị
ngọt/nhạt, tính b́nh, có
tác dụng ‘khu phong,
trấn kinh’, trừ ho, chặn
suyển, lợi tiểu trừ
thũng. Tại Trung hoa
được dùng để trị sưng
khí quản, suyễn; trị đau
lưng, phong thấp.

Goodyera
procera
Goodyera
schlechtendaliana: Gấm
đất Nhật
Các tên tương đương: G.
labiata, G. japonica
"Địa lan hay thạch lan nhỏ,
lá 7-8 chiếc xanh bóng. Chùm
hoa cao 10-20 cm, hoa 5-10
chiếc đầy lông, nở vào mùa
Hè-Thu. Mọc tại Lai Châu,
Sơn La, Lào Cai, Hà Giang,
Yên Bái, Lâm Đồng.." (Theo
BX Đáng)
Lá,
mọc quanh chồi theo một
ṿng (quay) đường kính
4-6 cm màu xanh đậm với
những gân trắng đa dạng
không theo một kiểu mẫu
cố định. Lá có kích
thước 2-5 cm x 1-3 cm.
Hoa nhỏ màu trắng có ánh
hồng.

Goodyera
schlechtendaliana
Liên hệ
Goodyera và Nấm:
Cùng với lan Gastrodia, lan
Goodyera cần phải sống cọng
sinh với những loài nấm
riêng chỉ có tại môi trường
nơi lan mọc. Các nghiên cứu
tại Hoa Kỳ về hoạt động
tương trợ giữa lan Goodyera
pubescens và nấm Tulasnella
ghi nhận không giống như các
trường hợp cộng sinh giữa
nấm và cây cỏ b́nh thường
(hai bên đều có lợi ), trong
sự cộng sinh giữa lan và nấm
chỉ có lan được hưởng những
lợi điểm cần thiết cho sự
phát triển của cây mầm.
Trong giai đoạn phôi-mầm, G.
pubescens cần sự trợ giúp
của nấm để có những dưỡng
chất cần thiết và cây ‘dính
riêng’ với một loài nấm
‘chuyên biệt’ : sự kiện này
khiến cây không thể sống
được khi thay đổi môi
sinh..Tuy nhiên khi có sự
thay đổi lớn về thời tiết
như hạn hán kéo dài, lan có
khả năng thay đổi để thích
ứng bằng ‘chọn’ một loài nấm
tương cận khác..sự thay đổi
này rất giới hạn, lan phát
triển kém đi và trở thành
rất yếu, phải mất nhiều thế
hệ để có thể trở lại b́nh
thường. (Ecology Số
87-2006). Nghiên cứu nơi
Goodyera repens ghi nhận nấm
(loài mycorrhiza) thu nhận
và chuyển vận Carbon cùng
Nitrogen từ các sợi nấm sang
mầm của lan để lan có thể
sống và phát triển, lượng C
chuyển từ nấm sang lan lên
đến 2.6 % trong 72 giờ.(New
Phytology Số 171-2006)
Goodyera có dược tính:
* Goodyera repens
Tên
thực vật tương đương: G.
repens var. ophioides ,
Perami um ophioides,
Epipactis repens, Satyrium
repens.
Tên Anh-Mỹ thông thường: Creeping
ladies tresses, Dwarf
rattlesnake plantain. Lesser
rattlesnake plantain
Trung Hoa: Xiao ban
ye lan= Tiểu ban diệp lan
(ban= vết chấm, vằn, bớt)
Hàn: ae-gi-sa cheol
ran
G.
repens, không gặp tại
VN, phân bố rộng vùng
Bắc Á (Ấn, Kashmir),
Trung hoa, Nhật, Triều
Tiên và tại Nga Bắc Âu,
gặp tại Canada và Bắc
Hoa Kỳ. Cây hiện được
‘bảo vệ’ do khó trồng và
không phát triển ra
ngoải khu vực môi sinh
giới hạn, và chỉ t́m
được trong những khu
rừng trên 95 năm.
G. repens thuộc loài địa
lan thân ḅ, cao chừng
25 cm, chồi mỏng manh
thỉnh thoảng nhô khỏi
mặt đất, mang 4-6 lá. Lá
h́nh trứng thuôn màu
xanh lục với nhiều gân
trắng Ra hoa vào mùa Hè,
hoa nhỏ màu trắng, từ
5-20 hoa mọc trên chồi
theo h́nh xoắn ốc, hoa
tự vặn về hướng mặt
trời.
Cây chỉ mọc khi cọng
sinh với một vài loài
nấm riêng như:
Ceratobasidium
cornigerum, Rhizoctonia
goodyera-repentis.
Tại Đài loan, cây được
dùng để hạ sốt.
Goodyera repens,
cũng như các cây
thuộc chi Goodyera
chứa kinsenoside,
goodyeroside A và
goodyerin có những
dược tính đáng chú ư
(xin xem tiếp phần
dưới).

Goodyera
repens
*
Goodyera
schlechtendaliana
Tên gọi: Schlectendal’s
Gooderya. Hoa: ban-ye
lan. Nhật: miyama
auzura. Hàn: sa-cheol
ran
Schlectandaliania để
vinh danh nhà thực vật
Đức: Diederich von
Schlechtendal
(1794-1866)
(Mô tả: xem trên)
Goodyera
schlechtendaliana chứa
flavonol glycoside có
công thức rất phức tạp
goodyerin và những
flavonoids khác như
rutin,
kaemferol-3-O-rutinoside
và
isorhamnetin-3-O-rutinoside
(Phyto chemistry Số
53-2000)
Goodyerin có hoạt tính
làm dịu và giảm đau
(sedative), chống co
giật. Các hoạt tính này
tùy thuộc vào liều lượng
sử dụng. Các nghiên cứu
được thử nghiệm trên
loài gậm nhấm qua các
test về cơ năng vận động
đột nhiên (spontaneous
locomotion), gây miên
trạng bằng
pentobarbital, và chống
co giật gây ra bởi
picrotoxin (Phytotherapy
Research Số 16-2002)
Flavonoids (có lẽ rutin)
trong G. schlechtendalia
có hoạt tinh chống sưng
khi thử trên chuột bị
gây phù chân bằng
carrageenan
(Experimental Toxicology
& Pathology Số 54-2003)
Các glycosides có chuỗi
carbon dài thuộc những
nhóm glucopyranosyl
oxybutanolide và
hydroxybutanoic acid, ly
trích từ Goodyera
schlechtendaliana, S.
matsumurana có hoạt tính
bảo vệ gan chống lại
những hư hại gây ra bởi
carbon tetrachloride nơi
chuột thử nghiệm
(Biology & Pharmacy
bulletin Số 23-2000)
Goodyeroside A được ghi
nhận là có hoạt tinh bảo
vệ gan mạnh nhất
(Molecules Số 8-2013)
2. Ludisia
Chi
Ludisia trong nhóm Jewel
Orchid (Lan lá gấm) chỉ
có một loài duy nhất
Lusidia discolor.
Ludisia là một loài địa
lan, nguồn gốc từ Mă
lai, Indonesia và Miến
điện mọc tại vùng thảm
thực vật nơi những khu
rừng rậm..
Tuy
nhiên theo Tác giả Vơ văn
Chi trong ‘Từ điển
Cây thuốc Việt Nam’
(trang 654) th́
Lusidia discolor là
một loài thạch lan
mọc bám trên các hốc
sườn núi, đỉnh núi
đá vôi nơi có mùn
ẩm. Ludisia discolor
được xem là loài của
Nam Trung Hoa,
Myanmar, Thái..và ở
Việt Nam cây gặp tại
Lào Cai, Ḥa b́nh ,
Vĩnh Phú, Darlac,
Lâm Đồng, B́nh
thuận, Đồng Nai, Côn
đảo..
Mô tả theo VVChi: ‘Lan
mọc sát đất, có rễ bám
vào đá trong dáng như
con tằm (nên c̣n được
gọi là thạch tằm). Thân
có nhiều đốt màu đỏ hay
tím hồng. Lá gần tṛn,
bàu dục, gốc có cuống
thành bẹ, màu nâu tím
óng ánh có vân trắng
h́nh mạng rất rơ, mặt
dưới màu hung đỏ. Cụm
hoa nằm ở ngọn thân, ít
hoa, có lông dày đặc.
Hoa nhỏ màu trắng với
cánh môi màu vàng h́nh
chữ T, đỉnh chia 2 thùy,
gốc có túi’
Flora of China (Vol 25,
page 55) ghi: Lusidia
discolor = Xue-ye lan
(Hán-Việt : Huyết diệp
lan
Cây cao 10-25 cm, chồi
mọc thẳng đứng có 3-5 lá
từ gôc. Lá bàu dục hay
trứng thuôn màu xanh đậm
có 5 gân đỏ nhung..Hoa
trắng có ánh đỏ, đường
kính chừng 7 mm mọc trên
cần mang khoảng 10 hoa.
Mọc tại vùng đất ẩm nơi
thung lũng, dưới tàn cây
xanh ở những khu rừng
cao độ 900-1300m.
Trong thời gian có cơn
‘sốt thu mua của thương
lái Tàu’, cây c̣n được
gọi là cây kim cương,
một tên gọi không rơ
nguồn gốc.
Các nhà vườn tại Hoa Kỳ
đă du nhập Lusidia
discolor, nhân giống và
lai tạo để có những
chủng trồng như:
* Lusidia discolor var.
Dawsoniana có lá màu đỏ
cùng những gân màu đồng
kim loại, mặt dưới màu
lục xậm có ánh đỏ.

Lusidia
discolor var
Dawsoniana
* L.
discolor var. Odina
có lá mặt trên xanh
đậm gân màu bạc và
mặt dưới màu đỏ.

Ludisia
discolor var. Odina
* L.
discolor var. alba, được
xem là một loài do biến
chủng tự nhiên, lá xanh
gân bạc, mặt dưới đỏ rất
nhạt.

Ludisia
discolor var. alba
* L.
discolor var nigrascens,
c̣n gọi là ‘black
velvet’ , lá màu nhung
đen, gân màu bạc.

Ludisia
discolor var
nigrascens
Cũng theo
Vơ văn Chi th́:
Bộ phận dùng làm thuốc
là toàn cây.
Tính vị, Tác dụng: Vị
ngọt, hơi chát, tinh mát
có tác dụng tư âm, nhuận
phế lảm mát phổi, mát
máu, sinh tân dịch, tiêu
viêm, lọc máu..
Công dụng: Dùng chữa
lao phổi với khạc ra
máu; Thần kinh suy
nhược, chán ăn..
3. Anoectochilus
Số
lượng các loài trong
chi Anoectochilus
chưa được các nhà
nghiên cứu đồng
thuận. Theo ‘ Lan
Rừng VN :A-Z’ th́
thế giơi có 50 loài
và VN có 16 loài .
Flora of China cho
là có 30 loài trong
đó Tàu có 11 loài.
‘Autralia indigenous
Orchids’ cũng ghi 30
loài, trong đó Úc có
một loài đặc hữu là
A. yatesiae.

Lan
Anoectochilus tuy
được gọi ‘chung’ là
Lan lá gấm, nhưng
trong giới sưu tập
th́ cây c̣n có tên
là Lan Giải thùy
(theo PH Hộ) và Lan
sứa (theo T. Hợp).
GS Vơ văn Chi gọi là
Lan Kim tuyến dựa
theo tên Hán- Việt.
Flora of China gọi
dưới tên Jin-xian
lan (Kim tuyến lan)
Tên Anoectochilus do
chữ Hy lạp anoectos
= mở ra (open) và
chelios = môi (lip)
Trong chi lan này,
cây quan trọng nhất
về phương diện dược
học là Anoectochilus
formosanus
(Có lẽ đây là cây
lan mà con buôn Tàu
sang thu mua, nhưng
không phân biệt được
với Ludisia?)
Anoectochilus
formosanus = Taiwan
Jin-xian lan
Nhật: kim-soan lian
Anoectochilus
formosanus
Lan đất, rễ chùm mọc
sâu, thân ḅ, chồi
có thể cao chừng 25
cm, Thân đứng mang
2-4 lá. Phiến lá mặt
dưới màu tím, mặt
trên xanh lục đậm,
có nhiều gân màu
trắng; phiến h́nh
trứng thuôn chừng
2-5 cm x 1-3.5 cm,
đỉnh nhọn. Hoa nhỏ
màu vàng-trắng nhạt,
mọc ngược về hướng
mặt trời.

Anoectochilus
Cây
phân bố tại Đài
loan, Nhật, Đảo
Ryukyu và Trung Hoa
(không có tài liệu
nào ghi nhận sự có
mặt của cây tại Việt
Nam)
Dược học dân gian
tại Đài Loan, dùng
cây làm dược liệu bổ
gan, ngừa ung thư,
đau tức ngực, tiểu
đường, bệnh tim và
đau bao tử. Trong
khi đó, Hoa lục dùng
làm thuốc hạ sốt,
trị đau, trị bệnh
phổi, gan, tiểu
đường..
Tại Mă Lai, những
cây khác trong chi
Anoectochilus được
dùng để trị lao phổi.
Nghiên cứu khoa học
về Anectochilus:
Các nghiên cứu khoa
học tại Nhật và
Trung Hoa chỉ tập
trung vào
Anectochilus
formosanus
Thành phần hóa học:
Cây chứa nhiều (10)
hợp chất loại
glycosides trong đó
quan trọng nhất là
kinenoside =
(3R)-3-beta-D-glucopyranosyloxy
butanolide. Các
glycosides khác gồm
những hợp chất loại
hydroxybutanoic
acid, loại
hydroxymethylfuran,
loại gamma-lactone.
Ngoài ra c̣n có
corchoionoside G
– Hoạt tính dược học:
Anoectochilus
formosanus đă được
nghiên cứu về các
dược tính: diệt tế
bào ung thư, chống
tiểu đường, bảo vệ
gan, chống sưng-viêm
và hạ mỡ trong máu.
Dịch chiết toàn cây
có tác dụng diệt tế
bào ung thư khá rơ
rệt khi thử trên
chuột-bọ bị cấy tế
bào ung thư
carcinoma ruột loại
CT-26, và bảo vệ tế
bào ung thư máu
HL-60 (human
promyelocytic
leukemia) chống các
hư hại gây ra bởi
H2O2. Hoạt tính này
được xác định là do
một hợp chất loại
arabinogalacran (AG)
và do kinsenoside
trong cây. AG làm
giảm kích thước và
trọng lượng khối u,
giúp gia tăng tỷ lệ
các tế bào miễn
nhiễm loại CD4, CD8,
tế bào T, CD49B (Phytomedicine
Số 15-2014)
Dịch chiết toàn cây
bảo vệ được gan của
chuột thử nghiệm
chống lại các tác
hại gây ra bởi
Carbon
ttetrachloride (Phytomedicine
Số 12-2005)
Kinsenoside trong
cây có khả năng làm
giảm triglycerides,
glucose và
cholesterol trong
máu khi thử trên
chuột bị gây tiểu
đường bằng
streptozotocin
(Clinical &
Experimental
Pharmacology and
Physiology Số
29-2002). Một thử
nghiệm lâm sàng trên
66 người t́nh nguyện
ghi nhận dịch chiết
có thể làm giảm mức
cholesterol và mức
LDL trong máu khá rơ
rệt (American
Journal of Chinese
Medicine Số
35-2007).
Dịch chiết, khi thử
trên chuột, ghi nhận
hoạt tính bảo vệ thú
chống lại phản ứng
tạo quá mẫn khi bị
phun sương ovalbumin
(Phytomedicine Số
7-2010), đồng thời
ức chế các phản ứng
kích ứng LPS trong
tiến tŕnh gây sưng
nơi thực bào và ức
chế kích xúc do
endotoxin (Shock Số
35-2011).
Dịch chiết, cho
chuột cái bị cắt
buồng trứng, uống ở
liều 500 mg/kg,
trong 4 tuần liên
tục ngăn chặn được
sự mất xương trong
các test về sự tạo
osteoclast và sự tái
hấp thu xương
(Journal of Bones
and Mineral
Metabolism Số
26-2008).. Thử
nghiệm dùng tế bào
tủy xương và tế bào
RAW 264.7 nơi chuột,
giúp giải thích cơ
chế hoạt động là do
kinsenoside ngăn
chặn được tiến tŕnh
osteoclastogenesis
từ đại thực bào bằng
cách làm giảm các
hoạt động của các
men (phoaphatase và
metalloproteinase)
liên hệ đến tiến
tŕnh tạo và mất
xương (Osteosporosis
International Số
24-2013)
Kisenoside cũng đang
được thử nghiệm tại
Taiwan về hoạt tính
trên tiến tŕnh lăo
hóa của da.
Trần Minh Quân
|
|
|