Trần Minh Quân

Chi Bletilla (Bạch Cập) họ thực vật Orchidaceae (Lan) là một chi nhỏ, chỉ gồm 9-10 loài địa lan, ít được giới sưu tập lan chú ý, có lẽ do rất dễ trồng và dễ tìm. Tuy nhiên về phương diện dược học, nhất là với dược học cổ truyền thì Bletilla lại là một vị thuốc quan trọng. Bạch Cập là một trong 3 dược liệu từ Lan (cùng với Thạch hộc-xem bài Dendrobium); và Thiên ma =Gastrodia elata (xem bài riêng về lan Gastrodia).
Các sách ‘Tra Cứu Tên Cây Cỏ VN’ (Võ văn Chi), ‘Cây có vị thuốc ở VN’ (Phạm Hoàng Hộ) đều chỉ liệt kê loài duy nhất Bletilla striata. Trong khi đó, theo nhà chuyên nghiên cứu về Lan Việt Nam, người Nga Leonid Averyanov (The Orchids of VietNam-Illustrated Survey, Part 4 trang 11-12) thì những chi tiết mô tả về Bletilla striata chưa được chinh thức ghi nhận tại Đông Dương (?) và chỉ được ‘ước đoán’ là sẽ có thể gặp tại vùng rừng núi. Averyanov lại mô tả rõ ràng về Bletilla ochracea và cho biết mẫu cây lấy được trong vùng Ngân Sơn (Bắc Cạn), gần Cao Bằng.
Tên khoa học và các tên khác:
Bletilla striata họ thực vật Orchidacea
Tên đồng nghĩa: Bletilla hyacinthina
Tên VN: Bạch Cập, Liên cập thảo, Bé tí (PH Hộ)
Trung Hoa: Bai-ji
Nhật: shiran; Triều Tiên: ja-tan
Tên Anh ngữ: Hyacinth orchid, hardy orchid, urn orchid, Chinese ground orchid
Bletilla = Cây Bletia nhỏ; striata = có sọc
Cây lan được nhà thực vật học Thụy điển Carl Peter Thunberg (1743-1822) mô tả đầu tiên và đặt tên là Limodorum striatum vào năm 1784 Năm 1878, một nhà thực vật khác, người Đức, Heinrich Gottlieb Reinchenbach đã chuyển cây sang chi Bletilla. Tên Bletilla do chữ Bletia (tên của một chi lan khác, đặt để ghi nhớ nhà thực vật Blet, người Tây Ban Nha). Bletia là một chi khác biệt. đã gây nhầm lẫn cho nhiều nhà sưu tập lan.
Tên Tàu bai-ji có nghĩa là ‘màu trắng lan rộng’, có thể do sọc trắng trên lá được cho là từ rễ lan ra.. Tuy nhiên, theo S.Y.Hu (1977) thì tên này là từ Bo-ji = Bạch kê= Gà trắng, dựa theo cách phát âm về tên cây lan trong vùng Tứ Xuyên và Quế Châu, tại vùng này củ của cây có hình dạng một con gà trắng nhỏ.
Mô tả thực vật:
Địa lan loài thào lưu niên, mọc cao 20-30 cm. Thân rễ mọc bò ngang thành chuỗi, chia 2-3 nhánh, mỗi nhánh hình cầu dẹt, có nhiều ngấn ngang mang rễ nhỏ, Thân có 3-4 lá, lá hình mác, xếp nếp theo các gân, có bẹ mọc ốp vào nhau, dài 9-18 cm, ngang 1.5-2.5 cm, đầu nhọn, gân song song. Lá màu lục nhưng chuyển sang đỏ-tim vào mùa hè.
Cụm hoa mọc thành chùm trên một cán dài, thẳng đứng ở ngọn, gồm 3-6 hoa màu hồng-tím; lá bắc cùng màu, rụng sớm. Bao hoa gồm lá đài và cánh hoa giống nhau; cánh môi dài 2.5 cm, thùy giữa cong hình lòng ống máng, màu tím xậm, đầu mép uốn lượn; Nhị có bao phấn hình nắp, các khối phấn xếp thành hai mảng.
Quả nang hình thoi, có bao hoa còn tồn lại. Quả có 6 cạnh, dài chừng 3cm, đường kính 1 cm.
Bạch Cập thuộc loài lan ‘cận nhiệt đới’ và ôn đới ấm được xem là có nguồn gốc tại Trung Hoa, Taiwan và Nhật. Hiện được du nhập và trồng tại nhiều nơi trên thế giới kể cả Hoa Kỳ.
Tại VN cây gặp rải rác tại các vùng có khí hậu ‘Á-nhiệt đới’ nơi núi cao như Lai Châu, Lào Cai, Lạng Sơn … sát biên giới Tàu, hiện nay gặp tại vùng Nha Trang, Lâm Đồng.
Các nhà trồng hoa tại Hoa Kỳ đã ‘thuần hóa’ Bletilla, từ một loài lan vùng cận ôn đới, thay đổi môi trường sống, để lan thích ứng được với khí hậu tại nhiều khu vực khác nhau trên đất Mỹ, từ nóng ẩm như Florida, California đến đông-lạnh như Oregon, Nebraska. Nhiều ‘chủng trồng’ (cultivars) đã được phát triển tại Hoa Kỳ và Âu châu như:
Bletilla striata ‘ First Kiss’ hoa trắng có đốm tím nơi cánh môi.
B. striata ‘ Albostriata’ hoa màu tím, lá có viền trắng.
B. striata ‘ Kuchibeni’ hoa hai màu trắng/tím, lá xanh lục không quá xậm.
B. striata ‘Soryu’ hoa màu xanh da trời nhạt, gốc từ Hạt Wakayama (Nhật) (chủng chỉ bán tại Âu Châu, do sự kiểm soát của CITES)
B. striata ‘Alba variegata’ cho hoa trắng, bên trong hoa có ánh xanh-tím, lá xếp nếp như nếp đàn accordion.
Tại Trung Hoa, Nhật còn có những loài Bạch Cập nổi tiếng như:
Bletilla ochracea = Tiểu cập, hoa trắng hay vàng môi trắng có vết đỏ, gặp trong vùng đồi núi Tứ Xuyên, Vân Nam…
Bletilla yunnamesis, bạch cập Vân Nam
Bletilla ‘Penway Dragon’ loài lai tạo giữa formosana X szetchuanica được giới sưu tập lan ưa thích.
Thành phần hóa học
Cây chứa:
Hợp chất loại anthraquinone: physcion
Hợp chất triterpene: cyclobalanol
Hợp chất phenanthrene: 4-methoxy-9,10-dihydrophenan threne; Blestriarene B và C; Blestrianol A
Chuyển hóa chất bibenzyl (18 loại) như Blestritin A-C
Saponins loại Spirostane như Bletilnoside A, B (Helvetia Chimica Acta Số 97-2014)
Stilbenes
Chất nhày loại polysaccharide: bletilamanan bao gồm D-mannose và D- glucose.
Tinh dầu
(Choy Sin Hew, trong Orchids in Chinese Medicine đã tóm lược thành phần hóa học của Bletilla striata gồm bibenzyls, phytoalexins, phenanthrenes, biphenanthrenes, stilboneoids, dihydrophenanthropan, phenanthrene glycosides, blespirol và alkaloids).
Nghiên cứu dược học
Hoạt tính chống vi trùng lao:
Tác dụng chống lao được xem là do physcion có khả năng ngăn chặn hoạt động của men mycothiol-S-conjugate amidase, men này là men giải độc của các Mycobacterium tuberculosis và M. smegmatis. (Bioorganic Medical Chemistry Số 11-2003).
Hoạt tính cầm máu:
Chất nhày trong Bletilla có hoạt tính thu ngăn thời gian đông máu, ức chế sự phân đoạn fibrin, kích khởi sự tạo cục máu và làm vết thương mau khép miệng. (Baiji Shandong Medical Industry Số 9-2000)
Hoạt tính diệt ký sinh trùng:
Dịch chiết bằng ethyl ether từ củ Bletilla có tác dụng diệt được ấu trùng và ký sinh trùng Clonorchis sinensis, ở trong mọi giai đoạn phát triển từ cercaria, metacercaria đến trưởng thành (Kisangengchunghak Chapchi-Korea Số 20-1982)
Tác động trên tế bào ung thư:
Stilbenoids trong Bletilla striata có hoạt tính chống sự phân bào, đồng thời làm đảo ngược sự kháng thuốc gây ra nơi các thuốc trị ung thư cần sự trung chuyển của protein, khi thử trên các tế bào ung thư vú (Bioorganic Medical Chemistry Letter Số 15-2005)..Các saponins loại spirostane từ rễ Bletilla striata có hoạt tính diệt bào khi thử (in vitro, dùng sulforhodamin B bioassay) trên các dòng tế bào ung thư người A549, SK-OV-3, SK-MEL-2, HCT15. Hoạt tính diệt bào được ghi nhận IC50 từ 3.98 đến 12.1 microM (Helvetia Chimica Acta Số 97-2014)
Hoạt tính tạo sinh sản tế bào:
Polysaccharide, ly trich từ B. striata, tinh chế (phân tử lượng 260 kDa, chứa glucose và mannose theo tỷ lệ 3:1) được ghi nhận là có hoạt tính gây tăng sự sinh sản tế bào (156 %), đồng thời tạo sự sinh thêm yếu tố tăng trưởng đến 147 % (so với đối chứng sau 72 giờ) khi thử trên tế bào nội bào lấy từ cuống rốn của người (Biotechnology Letters Số 8-2006).
Công dụng:
Vị thuốc Bạch Cập trong Đông dược:
Trong Dược học cổ truyền Tàu, vị thuốc Bạch Cập đã được ghi chép trong Thần nông Bản thảo kinh. Vị thuốc cũng được ghi trong Chế dược thư CHND Trung Hoa 1985.
Vị Bạch Cập là rễ phơi khô hay sấy khô từ cây lan Bletilla striata, tại vùng phia Bắc Trung Hoa có thể dùng B. ochracea để thay thế. Để được xem là vị thuốc tốt, chỉ nên thu hoạch những cây trên 3 năm tuổi, vảo đầu mùa Đông. Chồi và rễ ngang được loại bỏ. Rễ mới đào, màu trắng đục cần chế biến ngay trước khi đổi sang màu đen. Lan vùng Quế Châu được xem là có dược tính tốt nhất.
Rễ được nhúng vào nước đun sôi trong 3-5 phút hay hấp trên xửng đến khi bên trong rễ chuyển sang màu xanh hay vàng-trắng nhạt; sau đó phơi khô đến còn khoảng 1/2 trọng lượng. Loại bỏ vỏ ngoài của rễ bằng cách bỏ vào bao có đá hay mảnh thủy tinh, lắc bao để đá hay mảnh thủy tinh cạo sạch vỏ, sau đó rễ được phơi đến khô hoàn toàn. Không dùng những dụng cụ bằng kim khi trong mọi công đoạn chế biến.
Bạch Cập được xem là có vị đắng/ngọt; tính hàn, tác động vào kinh-mạch thuộc Phế, Vị và Can.
Bạch Cập có các tác dụng: bổ phế, sinh cơ, hóa ứ, cầm máu được dùng trong ‘thuốc Bắc’ để trị những trường hợp thổ huyết, chảy máu cam; trừ tà khí xâm nhập Vi, trị huyết lị, nhiệt sang..
Theo kinh nghiệm dân gian, Bạch Cập được dùng trị các chứng ho ra máu (cho là do lao phổi), ói ra máu (do từ bao tử ruột), dùng đắp bên ngoài trên vết thương để cầm máu, trị vết nứt, nẻ ngoài da, vết phỏng..Bạch Cập cũng được dùng sắc uống như một phương thuốc ‘bổ phổi’.
Sách thuốc cổ của Tàu có ghi nhiều thang thuốc dùng ‘Bạch Cập’.
-Tân tu bản thảo và Tế cấp phương dùng Bạch Cập giã nát đắp trị tay chân nứt nẻ
-Tụ trấn phương dùng Bạch Cập quậy sệt, đắp trị mụn nhọt.
-Triệu chân nhân phương dùng Bạch Cập tán bột, trộn với dầu thoa vết phỏng.
-Kinh nghiệm phương dùng Bạch Cập trị đổ máu cam
Bạch Cập trong Y Dược Trung Hoa ‘hiện đại’:
Y Dược Trung hoa ‘hiện đại’ rât chú trọng đến việc sử dụng Bạch Cập, có nhiều nghiên cứu dùng Bạch Cập theo quan điểm y học hiện nay.
Một số thử nghiệm được Dan Bensky ghi trong ‘Chinese Herbal Medicine Materia Medica’:
-Tác dụng cầm máu: Rễ Bạch Cập, dưới dạng bột hay dạng bột cô đặc từ nước sắc, trộn với tinh bột, giúp kiễm soát sự chảy máu khi thử trên vết thương tại gan của chó thử nghiệm. Dạng bột nguyên chất ít công hiệu hơn. Các kết quả tương tự cũng xẩy ra khi dùng bọt biển thấm nước sắc rồi đắp trên vết thương. Tuy hiệu ứng cầm máu thường được cho là do chất nhày trong rễ, tuy nhiên còn thêm sự làm giảm thời gian chảy máu và thời gian thrombin khi thử nghiệm bằng chích nước sắc cho thỏ qua đường phúc toan.
-Tác dụng trên các vết ung loét, vết thủng bao tử và ruột: Thử nghiệm trên chó đã gây mê, bị đục một lỗ thủng đường kính 1 mm trong bao tử và ruột; sau đó dùng dung dịch rửa chứa 9 gram bột Bạch Cập, đưa vào qua đưởng ống: vết thủng khép lại trong vòng 15 phút. Chó sau đó được ‘đánh thức’ và cho cử động lại trong một thời gian ngắn. 500 ml cháo loãng được đưa vào theo đường ống và không có dấu hiệu ‘rò rỉ’, nhu động ruột cũng không thay đổi. 8 giờ sau đó, mổ bụng chó không tìm thấy gì trong bao tử.Tuy nhiên khi bao tử chó có nhiều lỗ thủng và lỗ thủng quá to thì nước sắc Bạch Cập hầu như không có tác dụng.
-Bạch Cập trong khoa Bao tử- Ruột (Gastroenterology): Bột Bạch Cập được thử nghiệm trong 69 trường hợp xuất huyết nột bao tử. Tất cả 69 trường hợp, máu đều bị cầm (dùng thử nghiệm cấy phân để kiểm soát) sau thời gian trung bình 6.9 ngày. Bột Bạch Cập được sử dụng trong rất nhiều trường hợp ung loét gây thủng bao tử: trong một thử nghiệm nhỏ với 29 trường hợp bệnh, 23 trường hợp khỏi hoàn toàn, 1 cần giải phẫu, 4 tử vong (một bị shock xuất huyết trong khi điều trị; 3 trường hợp khác do các bệnh khác) Kết luận cho rằng, việc dùng Bạch Cập để trị thủng/loét bao tử phải theo một số điều kiện cần thiết: không áp dụng được với bệnh nhân:
-chưa được hội chẩn chính xác về xuất huyết là do từ thủng bao tử hoặc ruột.
– bệnh nhân vừa ăn no.
– khi chẩn đoán có những dấu hiệu, căng bụng dưới, ‘nghe’ tiếng nhu động yếu, đau khi khám ruột cùng.
– bệnh nhân trong tình trạng bất ổn do những bệnh trạng khác
Một số BS chuyên môn còn cho rằng không nên dùng Bạch Cập để trị ung loét/thủng bao tử/ruột vì:
– bột Bạch Cập gây tăng nhu động ruột, do đó làm lổ thủng to hơn.
– tăng buồn nôn và ói mửa, do đó làm tăng thêm sự rò rỉ vào khoang bụng.
Bột Bạch Cập làm kết dính, tạo thêm những vấn đề nguy hại nếu bột đi qua khoang bụng.
(Trong ‘Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở VN, tập 11, trang 127, có ghi: ‘… Điều trị xuất huyết đường tiêu hóa:.Một nghiên cứu ứng dụng bạch cập trên 70 bệnh nhân, khỏi 68 (tỷ lệ khỏi 97.2 %, số ngày điều trị là 4.13 +/- 3.0 ngày.
Một nghiên cứu khác trên 100 bệnh nhân, khỏi 90 (tỷ lệ khỏi 90%), số ngày điều trị là 3.51 +/- 1.54 ngày)
-Bạch Cập và lao phổi: Bột Rễ Bạch Cập được thử nghiệm nơi 60 người bị lao phổi, các thuốc trị lao thông thường không còn hiệu nghiệm: Sau khi dùng Bạch Cập trong 3 tháng, 42 bệnh nhân được xem như ‘khỏi bệnh về mặt lâm sàng’: chụp quang tuyến không còn vết, vết thủng, lở tại phổi khép lại, ERS bình thường, thử đờm âm tính và không còn các triệu chứng lao. 13 bệnh nhân thuyên giảm khá, và 2 không đáp ứng trị liệu. Một số nghiên cứu khác cũng đạt kết quả tương tự. (Một số kết quả thử nghiệm lâm sàng khác về trị lao phổi được ghi trong ‘Trung quốc phòng lao tạp chí, Số 2- 1960)
-Bạch Cập trị phỏng và chấn thương: Dùng nước sắc từ bột Bạch Cập trộn tá dược thuốc mỡ thành thuốc thoa ngoài da nơi 48 bệnh nhân bị phỏng và choáng do phỏng (diện tích phỏng < 11 % diện tích cơ thể. Thay đổi băng đắp thuốc mỗi 5-7 ngày. Kết quả là tất cả đều khỏi trong vòng 1-3 tuần.
Tài liệu sử dụng:
-Chinese Herbal Medicine Materia Medica (D. Bensky)
-Cây thuốc và Động vật dùng làm thuốc ở Việt Nam (Viện Dược Liệu)
-Medicinal Plants of China, Korea and Japan (C. Wiart)
-Herbal Emissaries (Steven Foster)
-Recent advances in traditional plant drugs and orchids (Kong JM and al- Acta Pharmacologica Sinica 24 Jan 2003)
-Medical properties and uses of orchids (Applied Botany 52-2012)
TranMinhQuan, 6 tháng Ba 2014#1
https://www.tvvn.org/forums/threads/lan-bletilla-hoa-v%C3%A0-thu%E1%BB%91c.64745/