|
Lan Hà Biện, Lan
Kiến Cò – Habenaria
Trần Minh Quân
.png)
Lan
Hà
Biện,
Lan
Kiến
Cò - Habenaria
Habenaria
là
một
chi
lan
lớn
gồm
khoảng
trên
500
loài
phân
bố
tại
nhiều
nơi
trên
thế
giới.
Habenaria
có
đặc
điểm
thú
vị
là
có
một
số
loài
thuộc
loại
lan
thủy
sinh,
(thủy
lan)
mọc
được
tại
những
vùng
đầm
nước,
và
có
thể
trồng
làm
cây
cảnh
trong
những
bồn
nước.
Các tác giả chuyên về lan như GS Phạm Hoàng Hộ gọi Habenaria là lan Hà Biện; GS Trần Hợp gọi là lan Kiến Cò hay gọn hơn là lan Cò (Cách gọi tên này có thể gây nhầm lẫn về mặt dược liệu với cây Kiến Cò, còn gọi là Bạch hạc Rhinacanthus nasustus thuộc họ thực vật Acanthaceae, được dùng trong dân gian tại Việt Nam làm thuốc hạ huyết áp, trị lao phổi, trị eczema.
Theo ‘Lan rừng Việt Nam: A-Z’ (Bùi Xuân Đáng) Việt Nam có khoảng 27 loài, tất cả thuộc loài địa lan. Võ văn Chi trong ‘Sách Tra Cứu Tên Cây Cỏ Việt Nam’ ghi nhận 30 loài và trong ‘Từ điển Cây Thuốc ở Việt Nam’, Ông đã liệt kê 2 loài được dùng làm thuốc. Flora of China, gọi nhóm Habenaria là yu-feng hua = Ngọc phong hoa, ghi nhận Trung Hoa có 54 loài, trong đó có nhiều loài cũng có tại Việt Nam như H. commelifolia, H. rhodocheila… Cũng tại Trung Hoa, một số loài Habenaria lại không được gọi là ‘ngọc phong hoa’ nhưng gọi là sâm (có lẽ do có củ to mọc dưới đất) như Habenaria acuifera = tu-kong po shen (Đột khổng phá sâm, củ có lỗ nghiêng nhô ra) tên Việt là Hà Biện nhọn; Habenaria linguella= po-shen; H. rostellifera = chi-pian po shen (Sỉ phiến phá sâm), tên Việt: lan Hà Biện muôi; H. rostrata = hui fang po shen (Huê phòng phá sâm), tên Việt: Hà Biện mỏ …
Habenaria,
từ
tiếng
Hy
Lạp:
habena
=
straps,
reins
(giải,
dây
treo)
để
chỉ
hình
dạng
thuôn
dải
và
mỏng
của
những
thùy
bên
của
môi
hoa.
Habenaria, gọi chung tại Âu-Mỹ là bog orchids (lan đầm lầy), False rein orchids gồm nhiều loài lan, đa dạng sống ở những môi trường khác nhau tại những vùng nhiệt đới và cận ôn đới trên thế giới kể cả Úc Châu.
Lan Habenaria có thể có củ dưới mặt đất, kích thước từ nhỏ đến khá to (thổ dân tại New Mexico đã từng dùng củ của Habenaria sparsiflora làm thực phẩm lúc đói kém), chồi thân mọc thẳng đứng cao từ 20-80cm. Lá hình mũi giáo hay trứng thuôn, có thể mọc từ gốc hay từ chồi: lá mọc từ gốc thường nằm sát đất. Hoa, đa số màu xanh lục, trắng, vàng; vàng-xanh, trắng-xanh nhưng có loài hoa đỏ sáng, vàng cam. Cột hoa phức tạp hơn, đa dạng thay đổi tùy loài, những bộ phận sinh sản nhô ra ngoài. Cây thuộc loại lưu niên rụng lá. Phần cây trên mặt đất thường chết đi mỗi năm.
Aerial and underground organs of Habenaria bractescens in the wild...
Tại Hoa Kỳ, Habenaria (địa phương) không được ưa chuộng để làm lan cảnh, trong khi đó những loài Habenaria, nhập từ vùng Viễn Á (Nhật, Nam Hàn) như Habenaria radiata (Egret flower Orchid) với hoa màu trắng, dạng giống như chim hạc tuyết, được giới sưu tập lan rất thích.

Habenaria tại Hoa Kỳ:
Tại Hoa Kỳ, Habenaria repens là cây lan được xếp vào loài cây ‘gây hại’, xâm lấn môi sinh (invasive). Những Tiểu bang miền Đông-Nam nhất là Florida, Louisiana.. có những chương trình ngăn chặn sự lan tràn của cây này.
.jpg)
Habenaria repens - Water-spider orchid
Habenaria repens được gọi dưới các tên: Water-spider orchid, Floating orchid, water orchid.
Cây thuộc loại địa lan hay bán thủy sinh, thân có thể mọc cao 10-90cm. Rễ bò lan. Lá dày và mọng, mọc rải rác trên chồi và thu nhỏ dần đến ngọn, phiến lá hình thuôn, mũi giáo giảm nhọn đến hình xoan, kích thước 3-25 x 1-4.5cm. Hoa xanh nhạt, cỡ 1.5cm, cánh hoa hẹp, dạng con nhện nước. Hoa nở khoảng Hè-Thu. Mọc tại những vùng ao, hồ, đầm nước, ven suối nơi nước cạn, có khi tụ thành từng đám tại các Tiểu bang Đông-Nam Hoa Kỳ từ Alabama, qua Louisiana đến Florida và tại Mexico, Trung và Nam Mỹ.
Cũng tại Florida còn có những cây Habenaria (bog orchids) khác như H. odontopetala (Toothpetal bog orchid), H. alata (Winged bog orchid), H. quinqueseta (Longhorn bog orchid)…
1/
2/ 3/.png)
1- Habenaria odontopetala.
3- Habenaria quinqueseta.
Nghiên cứu khoa học về Habenaria repens:
Từ H. repens, các nhà nghiên cứu tại Hoa Kỳ đã ly trích được Habenariol, (một hợp chất loại ester phenolic). Habenariol có hoạt tính chống oxy-hóa khi thử nghiệm trên tác dụng ức chế phản ứng peroxid-hóa lipid gây ra bởi đồng trên LDL (low density lipoprotein) của người. Hoạt tính này yếu hơn khi so sánh với alpha-tocopherol được dùng làm chuẩn (PubMed-PMID: 10190047).
Habenariol, khi thử nghiệm trong môi sinh về khả năng bảo vệ cây cỏ thủy sinh, cho thấy có tác dụng ngăn loài tôm nước ngọt Procambarius clarkii dùng cây làm thực phẩm (Phyto chemistry Số 50-1999).
Những cây lan Habenaria có dược tính:
Dược
học
cổ
truyền
Tàu
và
Việt:
Habenaria dentata: Lan cò răng, Hà Biện răng (PH Hộ), Kiến Cò răng (T Hợp) Hà Biện môi to.
Tên đồng nghĩa: Orchis dentata.
Tên
Trung
Hoa: E
-mao
yu
feng
hua=Nga
mao
ngọc
phong
hoa
(Nga
mao=
lông
ngỗng).
Nhật:
dai
sagi
so
Mô tả (theo Võ văn Chi): ‘Lan đất có hành tròn dài, thân cao 35-60 cm. Lá 3-5, hình bầu dục tròn dài. Cụm hoa dài 5-12 cm, mang 3-17 hoa. Hoa trắng to, dẹp, bàu dài 15-20 mm; lá đài dài cỡ 1 cm, cánh hoa nhỏ, môi to có 3 thùy: thùy giữa nhọn, thùy bên có chóp ngang, có răng, móng dài’ .Loài phân bố ở Nhật, Trung hoa, Ấn Độ, Việt Nam. Tại Việt Nam cây gặp ở vùng rừng trên độ cao 200-1000 m tại Cao Bằng, Lạng Sơn, Thừa Thiên, Huế, Đồng Nai…
Dược
tính: Vị
thuốc
là
rễ
củ (căn
hành),
vị
ngọt/nhạt,
tính
bình
có
các
tác
dụng
bổ,
lợi
tiểu,
tiêu
viêm,
trị
ho
long
đờm.
Dùng
trị
sưng
tinh
hoàn,
sưng
ống
dẫn
trứng,
trị
ho
dưới
dạng
thuốc
sắc.
Toàn cây được dùng tại Ấn Độ, pha trộn cùng một số củ lan khác trong ‘Salep’. Cây cũng dùng làm gia vị.
Theo Christophe Wiart trong Medicinal Plants of China, Korea and Japan’: Tại Trung Hoa, củ dùng trị đau bụng; tại Taiwan, củ giã nát đắp trị vết thương ung loét. Trong cây cũng có Habenariol có dược tính chống oxy-hóa (Xem H. repens ở trên).
Habenaria rhodocheila: Lan Cò môi đỏ, Hà Biện môi đỏ.
Tên đồng nghĩa: Smithanthe rhodocheila.
Trung Hoa: Cheng huang yu-feng hua = Tranh-hoàng ngọc phong hoa (Tranh-hoàng= vàng da cam).
Thái Lan: San hin, Lin Mang kon = Lan lưỡi rồng.
Mô tả (VV Chi): ‘ Địa lan có hành nạc hình trụ, thân cao 10- 30 cm mang 3-4 lá tròn hay dài thon, 6-12 cm.lá mỏng nhăn ở mép. Hoa 1-10 màu gạch tôm, có khi vàng; môi dàì 2 cm có thùy hơi tròn, thùy giữa chia đôi; móng dài 4-5 cm, bàu dài 2-5 cm Phân bố tại vùng Nam Trung Hoa, Thái Lan, Lào, Campuchea, Malaysia, Phi và Việt Nam. Tại Việt Nam cây mọc tại rừng ven suối từ Bắc xuống Nam.
Theo Tra Cứu Thực Vật Rừng Việt Nam: ‘Loài lan đất hay ở hốc đá, củ thuôn dài. Thân cao 20-40cm, mang 3-4 lá dạng thuôn hẹp, mỏng, mép răn reo, dài 6-20cm, đỉnh có mũi nhọn. Cụm hoa chùm ngắn, có 2-10 hoa màu tôm, cánh môi chia 4 thùy gần vuông, cựa dài 4-5cm’ Dùng làm thuốc trị trẻ cam tích tại vùng Quảng Yên Việt Nam.
.png)
.png)
.png)
Habenaria rhodocheila - Lan Cò môi đỏ - Hà Biện môi đỏ.
Habenaria commelinifolia: Hà Biện lá trai (PH Hộ), Hà Biện lá thài lài, Kiến Cò thài lài (T.Hợp).
Tên tương đương: Orchis commelinifolia.
Trung Hoa: fu-e yu feng hua= Phủ ngạc ngọc phong hoa (phủ= búa rìu, ngạc=đài hoa).
Mô tả (theo Phạm Hoàng Hộ):’ Địa lan thân vạm vỡ, cao đến 80 cm, hành dài 2-3 cm, rễ to và nhiều. Lá dài 4-6 cm, nhở từ từ và nhọn đến trên. Chùm dài 10-12 cm, lá hoa nhọn. Hoa to, trắng, phiến 6 mm, chót xanh; môi có 2 thùy, cạnh hẹp nhọn, dài đến 3 cm, móng dài 3.5-7.5 cm.
Tại Việt Nam gặp ở vùng đất ẩm Phú Khánh, Gougah (Đà lạt), Long Khánh. Rễ, sắc dùng trị bệnh đường tiểu.
Tại Ấn độ, toàn cây phơi khô, dùng trong salep.
.png)
Habenaria commelinifolia - Hà Biện lá trai - Hà Biện lá thài lài, Kiến Cò thài lài.
Dược học cổ truyền Ayurvedic:
Dược học cổ truyền Ayurvedic dùng một số loài lan Hebenaria trong công thức pha chế các phương thuốc như Astavarga, Chyavanprasha Astavarga là một phương thuốc cổ Ayurvedic gồm 8 (asta) vị thuốc từ cây cỏ. Phương thuốc được xem là có những tác dụng bổ dưỡng. tái tạo sự tươi trẻ cho cơ thể, được các nhà Vua, quan Ấn độ sử dụng từ thời xa xưa hàng nghìn năm trước.. Astavarga còn được dùng để tăng trọng bắp thịt, trị xương gãy, tinh trùng suy nhược, yếu hoạt động sinh lý, tiểu đường, gầy yếu hay mỏi mệt.
Các
vị
thuốc
trong
Astavarga
gồm:
– Roscoea purpurea (Roscoe’s lily)
– Lilium polyphyllum (White Himalayan lily)
– Crepidium acuminatum (lan Jeevaka= Mào ái lan nhọn)
– Malaxis muscifera (Snake mouth orchid)
– Polygonatum vercitillatum (Whorled Solomon’s Seal)
Bốn trong 8 vị thuốc trên là những dược liệu từ 2 nhóm lan Malaxis (C. acuminatum còn có tên là Malaxis acuminatum) và Habenaria.
Tên tương đương: Habenaria acuminata.
Những tên dùng trong Dược học Ayurvedic: Riddhi, Laksmi Mangala, Sukha.
Cây cao từ 30-60cm, Lá thuôn hình trứng hay mũi giáo 4-10cm, lá nhỏ dần từ gốc lên đến ngọn, dày có 5-7 gân. Chồi hoa dài 7-25cm, mang nhiều hoa. Hoa màu vàng-xanh cỡ 1-1.5cm, cánh hoa dày, thẳng, màu vàng, môi dài, màu vàng. Phân bố trong vùng Đông Á, Himalaya nơi các bãi cỏ tại sườn đồi, núi ven đồng cao độ đến 2800 m.
Dược học Ayurvedic dùng rễ và lá làm thuốc có các tác dụng làm mát, trợ tinh dịch, dùng trị những bệnh về máu huyết, bổ tim và trấn an thần kinh.
.png)
Malaxis acuminatum / Habenaria edgeworthii
Tên
tương
đương: Habenaria
arietina,
Ochyorchis
intermedia
Những tên dùng trong Dược học Ayurvedic không phân biệt với H. edgeworthii, tuy nhiên tên chính là Vrddhi.
Trung
Hoa: da-hua
yu
feng
hua=
Đại
hoa
ngọc
phong
hoa
Lan đất, mọc thẳng cao 25-60 cm, thân dạng ống (terete) Lá mọc rải rác trên chồi thân, thường chỉ 5 lá. Lá thuôn hình mũi giáo nơi đỉnh, bàu hình tim nơi gốc. Hoa từ 2-6 cỡ 5 cm màu trắng hay trắng-xanh nhạt, mọc cách xa nhau. Cánh hoa trắng có 5 gân; môi có 3 thùy dài hơn cánh đài, 2 thùy bên nhăn.
Phân bố trong vùng Đông Á, Himalaya, nơi triền đồi khô có cỏ mọc, ở cao độ dưới 2600m.
Rễ và lá dùng làm thuốc, tương tự như H. edgeworthii. Là một dược liệu trong thang Astavarga, dùng như thuốc bổ. Củ rễ, giã nát dùng trị ho, nóng sốt, suyễn và đắp ngoài da trị phong cùi.
Nghiên
cứu
khoa
học
tại
Ấn
Độ
ghi
nhận:
– Củ H. intermedia chứa những hoạt chất đắng, tinh bột, khoáng chất, scopoletin, gallic acid và một hợp chất loại taxol (Indian Journal of Medical Aromatic Plants Số 2-2012). Scopoletin (7-hydroxy-6-methoxy-2H-1-benzopyra-2-one) là một coumarin có nhiều hoạt tinh khác nhau như chống oxy-hóa, chống co giật, hạ huyết áp, tạo tiến trình apoptosis (diệt tế bào ung thư). Gallic acid (3,4,5-trihydroxybenzoic acid) cũng có hoạt tinh chống oxy-hóa.
–
Dịch
chiết
từ
củ
H.
intermedia
cho
thấy
có
hoạt
tính
chống
stress,
và
khả
năng
adaptogen
(giúp
sinh
vật
tăng
sức
chịu
đựng
trước
các
thay
đổi
bất
lợi
của
môi
trường
sống)
khi
thử
trên
chuột
qua
các
test
gây
chuột
bất
động,
test
sức
bơi
(kéo
dài
thời
gian
bơi
bị
giảm
do
stress),
giúp
các
sự
thay
đổi
tạng
phủ
(hạch
adrenal,
thymus,
lá
lách
bị
sưng
khi
bị
gây
stress)
trở
lại
bình
thường,
đồng
thời
có
hoạt
tính
chống
oxy-hóa,
thu
nhặt
gốc
tự
do
khi
thử
theo
các
hệ
thống
DPPH,
peroxy-hóa
lipid
(Revista
Brasileira
de
Farmacognosia
Số
3-2012).
–
Habenaria
pectinata:
Tên thường gọi trong Ayurvedic: Safed musli.
Trung Hoa: Jian-je yu feng hua = Kiếm diệp ngọc phong hoa.
Tên thực vật tương đương: Orchis pectinata.
Cây khô đổi thành màu đen, cao 55-70 cm, củ mộng và dẹp, Chồi thân hình ống mang nhiều. Lá hình dao thuôn 6-15 cm x 1.5-2 cm. Hoa 6-13, xanh nhạt hay trắng.
Phân bố tại Ấn độ, Nepal, Nam Trung hoa (Vân Nam).
Lá giã nát, dùng đắp vết thương do rắn cắn. Củ trộn với gia vị trị thấp khớp.
Salep= sahlab, Sahlab là tên gọi của một loại bột ‘hỗn hợp’ truyền thống, dùng nguyên liệu từ một số củ lan, phơi khô rồi sau đó được tán thành bột và trộn đều. Trong công thức ‘nguyên thủy’ những loài lan được dùng là Orchis mascula.
Orchis mascula, Orchis molitaris, O. militaris, O. palmata…, nhưng những loài này đã trở thành khan hiếm, nên salep đã được pha trộn thêm bằng những loài lan thay thế khác, trong đó có Habenaria.
.png) .png)
Orchis mascula orchis militaris
(Theo Alan Davidson trong ‘The Oxford Companion to Food’, tên Salep theo từ ngữ Thổ nhĩ Kỳ, phát xuất từ tiếng Arab:’thalab’= con chồn, xa hơn là từ ‘khusyath-thalab’=dịch hoàn của chồn, và salep theo nguyên thủy là một loại thuốc tráng dương).
Về phương diện thương mại, củ rễ của các cây lan được đào lấy, rửa sạch, nhúng nhanh vào nước sôi để ngưng sự sinh sản của củ và làm bớt vị đắng. Vỏ bên ngoài củ được cạo sạch và sau đó phơi hay sấy khô, rồi nghiền thành bột. Bột salep thô thường có màu vàng nhạt.
Bột
được
dùng
pha
chế
thành
nuớc
uống:
uống
dạng
nóng
khi
mùa
Đông
và
dạng
lạnh
vào
mùa
Hè.
Bột
có
đặc
tinh
‘làm
đặc’
nên
có
thể
dùng
chế
biến
thực
phẩm
như
làm
đặc
sữa,
đặc
kem
lạnh.
Tại Anh, phong trào dùng salep lên cao nhất trong thế kỷ 17, dưới các tên salop hay saloop. Salep được xem là một món ‘ăn, uống’ thông dụng trong vùng Đông Âu, Trung Á và Ấn Độ (nơi mọc của những loài lan được dùng làm nguyên liệu). Người Thổ Nhĩ Kỳ, ưa chuộng salep, nên nhập cảng bột nguyên liệu từ Armenia, pha chế thành loại bột đặc có sữa và quế. Tại vùng Trung Đông như Iran, Syria, bột salep được pha chế trong nhiều loại kem lạnh.
Trần Minh Quân, 19 tháng Năm 2014
|