|
Lan
Thanh Đạm - Coelogyne
Trần Minh Quân
.png)
Lan Thanh đạm - Coelogyniae
Lan
Thanh
đạm,
trước
đây được
xếp
chung
với lan
Tục đoạn
(Pholidota),
nhưng
các nhà
thực vật
đã tách
tông
Coelogynae
thành
tông phụ
Coelogyniae
và trong
tông phụ
này có
ba loài:
Pholidota
(Tục
đoạn),
Dendrochitum
và
Coelogyne
(Thanh
Đạm).
Một số
tên khoa
học cũ
của
Pholidota
vẫn giữ
tên
tương
đương là
Coelogyne
(Xin xem
bài lan
Pholidota).
Chi
Coelogyne
gồm
khoảng
trên
200
loài
phân
bố
trong
những
khu
vực
bao
gồm
Ấn
độ,
Trung
Hoa,
Đông
Nam
Á,
Malaysia,
Indonesia
và
vùng
quần
đảo
Fiji,
với
những
trung
tâm
tại
Borneo,
Sumatra
và
Himalaya.
Theo
nhà
nghiên
cứu
Bùi
Xuân
Đáng,
Việt
Nam
có
27
loài,
trong
đó
có
vài
loài
'đặc
hữu'.(Lan
Rừng
Việt
Nam
A-Z:
Coelogyne).
GS
Võ
văn
Chi
trong
'Sách
Tra
cứu
tên
Cây
cỏ
Việt
Nam
ghi
nhận
29
loài
(trang
174-175)
và
trong
'Từ
điển
Cây
thuốc
Việt
Nam'
có
ghi
4
loài
có
dược
tính.
Theo
Flora
of
China
Trung
Hoa
có
31
loài,
gọi
chung
là
Bei-mu
lan
(Bối
mẫu
lan)
trong
đó
nhiều
loài
cũng
có
mặt
tại
VN.
Cây
lan
'Thanh
đạm
Tuyết
ngọc'
(Coelogyne
mooreana),
đặc
hữu
của
Việt
Nam,
được
xếp
vào
một
trong
những
loài
lan
'đẹp
nhất'
trên
thế
giới
và
đã
đoạt
được
nhiều
giải
'vô
địch'
trong
các
cuộc
'thi
hoa
lan'
toàn
thế
giới.
.png)
Lan 'Thanh đạm Tuyết ngọc' - Coelogyne mooreana
Tên Coelogyne , từ tiếng Hy lạp koilos = bọng rỗng và gyne=phụ nữ để mô tả hình dạng của hoa có phần nhụy cái (stigma) nằm sâu trong bọng hoa.
Đặc
tính
chung
Coelogyne là một loài lan cộng sinh tự nhiên (tuy một vài loài tại Borneo thuộc loại thạch lan). Hoa của coelogyne có màu sắc chính là trắng tinh với cánh môi có màu rực rỡ, hoa có mùi thơm khá ngọt (thoảng như mùi hoa gardenia), một vài loài có hoa màu nâu-hung và xanh nhạt. Thân có nhiều kích cỡ khác nhau; giả hành cao 2.5-5cm, màu xanh, sáng bóng, no tròn, trở thành nhăn khi cây già. Thân có một đôi lá nhỏ, hình trái xoan, đa số mọc chồi từ những mầm mới phát triển. Cành hoa có thể rất ngắn, chỉ có một hoa, hay có thể vươn dài mang một dãy đến 20 hoa, rũ cong xuống. Lan Thanh đạm có thể mọc ở những vùng có nhiệt độ ban đêm (mùa Đông) 45-50°F và dưới 80°F vào mùa Hè.
Một số giống lai tạo cho những hoa rất đẹp, nhiều màu sắc.
Vài loài gặp tại Việt Nam.
Coelogyne mooreana = Lan Thanh đạm Tuyết ngọc
Đây là cây lan Thanh đạm, đặc hữu của Việt Nam, nổi tiếng nhất trên thế giới. Coelogyne mooreana được xem là 'Hoàng hậu' của nhóm Coelogynes. Từ một cây lan tìm được vào năm 1904 tại vùng Langbian (gần Đà lạt), nhà thực vật Wilhem Micholitz đã gửi mẫu cây về Alban, Anh quốc cho nhà nuôi cây Frederick Sander. Cây trổ hoa và đoạt giải của CCC/RHS (Hội Cây cảnh Hoàng Gia Anh quốc) năm 1905 cùng nhiều cuộc thi lan vào những năm kế tiếp. Cây sau đó được đặt tên là 'mooreana' để vinh danh F.W. Moore, Giám đốc Vườn thảo mộc Giasnevin (Dublin, Anh quốc).
Tại VN, cây còn được gọi là Cam đạm (Phạm hoàng Hộ)
Những tên khoa học đồng nghĩa: C. mooreana var. alba , C. psectrantha.
Theo mô tả của Bùi xuân Đáng: 'Phong lan trung bình, củ cao 4-6cm, lá 2 chiếc. Chùm hoa dài 20-30cm mọc từ cây non, hoa 5-6 chiếc, to 10 cm, thơm, nở vào mùa Xuân, Hạ.
Mọc tại Nha Trang, Cà ná, Lạc dương, Lâm Đồng, Đà lạt..'


Theo American Orchid Society: C. mooreana có những 'chủng trồng' như 'Brockhurst' (hoa to, có thêm nhiều vết vàng); 'Westonbert' và nhiều loài 'lai tạo' được'cầu chứng' (registered)
Coelogyne pandurata = Lan Thanh đạm Eberhardi (PH Hộ), Thanh đạm Langbian (Trần Hợp).
.png)
Coelogyne mooreana Westonbert
Tên tương đương Coelogyne eberhardii
Theo mô tả của Tra cứu Thực vật Rừng VN: 'Lan sống phụ sinh, thân hành giả hình trụ, đầu mang 2 lá có phiến hinh thuôn mác ngược, thót nhọn ở đầu, thót dài ở gốc, dài 12-16cm, rộng 2.5cm, mang 5 gân dọc. Cụm hoa có cuống dài 2cm, chỉ mang một hoa to màu trắng với các vân vằn nâu. Các lá đài hình thuôn, dài 4.6-4.8cm, rộng 3cm. Cánh hoa hình giải, dài 4-7cm, rộng 0.5cm. Cánh môi hình trứng thuôn.. Loài đặc hữu của VN, chỉ gặp tại Lâm Đồng.
Đây là một loài lan hiếm, cần được bảo vệ.
Coelogyne lawrenceana = Lan Hoàng hạc, Lan Hoàng long (PH Hộ), Lan Thanh đạm vàng (T. Hợp) Được xem là một loại lan quý và hiếm.
.png)
Coelogyne lawrenceana = Lan Hoàng hạc, Lan Hoàng long , Lan Thanh đạm vàng.
Theo Nhà nghiên cứu Bùi Xuân Phái: 'Phong lan cỡ trung bình, củ bẹ cao 10cm, lá 2 chiếc dài 20-25cm, rộng 4-5cm. Cuống hoa dài tới 15cm, hoa từ 1-6 chiếc, to 10cm, mọc ở đỉnh củ lớn, nở mỗi lúc 1-2 chiếc, có mùi thơm và lâu tàn. Mọc tại Đơn Dương, Lâm Đồng..'
Tác giả Trần Đức Tạo ghi thêm 'Hoa có cánh màu vàng chanh. Cánh trên (dorsal sepal) lớn hơn 2 cánh dưới (lateral sepals) dài 6cm, ngang 2cm. Hai cánh bên (petals) chỉ dài 5cm và rộng có 0.5cm. Lưỡi hoa màu trắng phía ngoài và vàng nâu mé trong, trên lưỡi có 4 rãnh gồ ghề có sọc vàng. Hoa có mùi thơm hắc'.
Cũng theo Ông Tạo thì lan có bán tại những Buổi Hội hoa lan tại Nam California.
Sự lai tạo giữa C. mooreana X C. lawrenceana tạo được loại Lan Thanh đạm tuyệt đẹp Coelogyne Memoria William Micholitz 'Burham' AM/RHS. Cây liên tục ra hoa từ một nhánh dài. Bông hoa lớn, màu trắng tinh, cánh môi vàng đậm. Cây trổ hoa vào mùa Xuân.
.png)
Coelogyne Memoria William Micholitz 'Burham' AM/RHS
Lan Thanh đạm có dược tính:
Lan mọc rất phổ biến trong vùng Tây Bắc Gnats, Ấn độ.
Thành phần hóa học và dược tính đã được phân chất và thử nghiệm tại ĐH Karpagam, Coimbatore (Ấn).
Các phân chất ghi nhận trong cây có alkaloids, carbohydrates, glycosides, saponins, terpenoids, steroids, flavonoids, hợp chất phenolic, chất đạm, chất nhày, tannins và phlobatannins.
Dịch chiết từ lá bằng nước có hoạt tính chống oxy-hóa khá mạnh. Thử nghiệm dùng hệ thống DPPH (1,1-diphenyl-3-picrylhydrazil) ghi nhận khả năng thu nhặt các gốc tự do hữu hiệu ở nồng độ IC50=126 mcg/ml.
Thử nghiệm (in vitro) hoạt tính diệt bào, chống tế bào ung thư vú nơi người loại MCF-7 ghi nhận nồng độ IC50= 292.8 mcg/ml
(Asian Journal of Pharmaceutical and Clinical Research, Số 6, Supll 1, 2013).
Cây lan này phân bố khá rộng tại Nam Á, từ vùng Himalaya (Nepal, Ấn độ) xuống Nam Trung Hoa, có những tài liệu ghi là có mặt tại VN (nhưng không được chính thức liệt kê trong danh mục lan rừng VN).
.png)
C. cristata được đặt nhiều tên' lóng' trên thế giới như tại Đức và Bắc u là 'Snow Queen' vì cây tiếp tục trổ hoa khi tuyết tan. Người Bulgaria thích gọi cây là 'Angel Orchid' vì màu hoa trắng như áo thiên thần. Trung Hoa gọi là Bối mẫu lan, Nhật gọi là aruba-ran (Bạch lan).
C. cristata có rễ chùm tương đối cứng, đường kính 4-6 mm; giả hành nhỏ, mọc cách khoảng 1.5-3cm từ rễ, hình thuôn hay trái xoan, khi khô trở thành nhăn nheo . Lá hẹp, thuôn hình lưỡi dao, dài 10-15cm, màu xanh xậm. Cần hoa 8-12cm, mang 2-12 hoa. Hoa nở vào cuối mùa Đông khi tuyết tan. Cánh hoa cỡ 8 cm màu trắng tuyết, môi có đốm vàng.
Coelogyne cristata var.alba
Một vài 'chủng trồng' nổi tiếng như Coelogyne cristata var.alba cho hoa màu trắng tuyền, không pha thêm một màu sắc nào khác; Coelogyne cristata 'Glacier Mint' có thể phát triển thành một cây rất lớn, mang nhiều chùm hoa, hoa khá to cỡ 5cm.
Coelogyne cristata 'Glacier Mint'
Lan có chứa những hoạt chất loại phenathrene như coelogin, coeloginin, loại dihydroxy phenanthrene như coeloginan thridin, coeloginanthrin (Phytochemistry Số 58-2001). Các hợp chất này có những hoạt tính loại phytoalexins và giùp điều hòa sự tăng trưỡng nội bào.
Dịch chiết từ lá C. cristata có hoạt tinh ức chế sự tăng trưỡng trên nhiều loài vi khuẩn như B. subtilis, E. coli, K. pneumoniae.. nhưng mạnh nhất trên các vi khuẩn Vibrio cholera và Staphylococcus aureus (MIC=31.25 mg/ml) (Journal of the Nepal Chemistry Society Số 29-2012)
Dược học dân gian Nepal dùng giả hành C. cristata làm thuốc nhuận trường và kích thích tình dục. Nước ép dùng đắp vết thương, mụn nhọt. Nhựa dùng trị vết lở.
Thanh đạm hẹp (PH Hộ), Thanh đạm cánh (T. Hợp).
Trung Hoa: Shuang zhe bei-mu lan.
Tên đồng nghĩa: Coelogyne elata.
Phong lan có củ mọc cách nhau 5cm; lá 2 chiếc hình mũi giáo 14-27cm x 4-5cm, xanh bóng, có cuống 3-6cm. Chùm hoa dài 40 cm, hoa to 3cm, từ 6-15 chiếc, có hương thơm. Hoa trắng, môi có đốm vàng.
Phân bố trong vùng Himalaya (Nepal, Bhutan), Nam Trung Hoa..Tại VN gặp tại Lâm Đồng, Sông Bé, Lộc Ninh.
.png)
Thử nghiệm về khả năng diệt khuẩn tại ĐH Tribhuvan, Katmandu Nepal ghi nhận dịch chiết từ lá C. stricta có khả năng ngăn chặn tăng trưởng mạnh nhất trên Klebsiella pneumoniae.
Trong dân gian: Căn hành giã nát được dùng để đắp trị nhứa đầu và nóng sốt.
Coelogyne viscosa : = C. graminifolia.
Thanh đạm nhớt (PH Hộ), Thanh đạm cỏ (T. Hợp).
Trung Hoa : He-ye bei-mu lan = Hòa diệp bối mẫu lan (lan bối mẫu lá lúa).
.png)
Coelogyne viscosa
Phong lan có giả hành xoăn đường kính 6-8mm, có cạnh tròn, cao 3-4cm. Lá 2, phiến lá hẹp, dài 20-30cm, rộng 1-2cm, dạng như lá cỏ, có nhiều vảy ở gốc. Chùm hoa ở giả hành, mang ít hoa, chỉ từ 3-5 chiếc; Hoa nhỏ, thưa, lá đài hình giải dài 2.5cm; cánh hoa hơi hẹp, hoa màu trắng mịn , mùi thơm dịu; Cánh môi có phần dưới rộng, có đốm vàng chia 3 thùy :2 thùy bên dưới tròn đều, thùy giữa thuôn nhọn lật xuống, phần phụ có mào dài..
Phân bố trong khu vực Himalaya, Nam Trung Hoa, Mã lai, Thái lan, Lào, Việt Nam (Sapa, Đà Lạt, Blao). Tại Úc đôi khi được bán dưới tên Coelogyne kaliana.
Được lai tạo với C. trinervis thành chủng C. Elizabeth George.
Tại Quảng Tây, giả hành dùng trị cảm, sưng phổi, sưng khoang bao tử.
Lan Thanh đạm mềm (PH Hộ)
Trung Hoa : Li-lin bei-mu lan Hán Việt : Lật lân bối mẫu lan (Lật= cây dẻ, lân= vẩy)
Phong lan phụ sinh cao đến 40 cm. Giả hành có 8 cạnh, dài 12- 19 cm, rộng 1.5-2.5 cm, có 2-3 bao xẻ ra, mang 2 lá. Phiến lá to, cuống dài đến 8 cm, phiến dài 18-40 cm rộng 4-5 cm. Chùm hoa trắng thòng dài mang 8-10 hoa riêng rẽ. Hoa màu trắng ngà, hay vàng nhạt cỡ 2.5 cm có mùi thơm; môi hoa có thùy cuối hình tam giác, có những đốm nâu-đỏ nhạt.
.png)
Phân bố trong vùng Sikkim, Ấn độ, Myanmar, Trung Hoa, Việt Nam (mẫu hoa có trồng tại Thảo cầm viên Sàigòn)
Dược học cổ truyền Tàu dùng toàn cây làm thuốc. vị thuốc được xem là có vị ngọt/cay, tính hàn có những tác dụng 'thanh nhiệt, nhuận táo', 'sinh tân chỉ dương', 'hóa đàm, chỉ khát' dùng trị ho do phế nhiệt, phiên khát ho khạc ra máu, sưng cổ họng.
Dược học dân gian Ấn độ, Nepal dùng giả hành giã nát đắp trên trán để trị nhức đầu, nóng sốt. Nước ép dùng trị ăn không tiêu.
Lan thanh đạm ngù, Hoàng lạc chấm.
Trung hoa : Xia ban bei-mu lan Hán Việt : Tản phòng bối mẫu lan
Phong lan phụ sinh, cao 13-22 cm, thân rễ mọc bò, có vẩy màu nâu. Giả hành mọc rất gần chùm rễ, chừng 1cm; cao 2-5 cm, có rạnh cạn.(khi khô màu vàng nhạt) Lá 2, có vẩy ở gốc. Phiến lá thon hình mũi giáo, dài 4-18 cm, rộng 1.5-2.5 cm; cuống lá dài 2-4 cm. Cụm hoa chùm, từ một giả hành non, mang 5-6 hoa màu trắng hay vàng nhạt; Cánh hoa hẹp; môi hoa có vết nâu và cam; mép phiến có vệt nâu vàng không đều. Phân bố trong vùng Himalaya (Sikkhim, Bhutan, Ấn), Trung Hoa (Vân Nam), Việt Nam (vùng Đà Lạt, Lâm Đồng.. nơi cao độ trên 1200 m; Theo Võ văn Chi, cây có tại VN nhưng không được liệt kê trong danh mục Lan Rừng VN).
.png)
Dược học cổ truyền Tàu dùng toàn cây và giả hành làm thuốc. Vị thuốc được xem là có vị ngọt/cay, tính mát với các tác động 'chỉ khái, hóa đàm', 'thư cân, chỉ thống ', chỉ huyết, thanh nhiệt. Toàn cây và giả hành giã nát dùng đắp vết thương khi té ngã; ngoại thương xuất huyết. Giã hành phơi khô sắc uống trị ho, sưng khí quản.
Trung Hoa : Liu-su bei-mu lan Hán Việt : Lưu tô bối mẫu lan
Phong lan phụ sinh có thân rễ bò, mảnh chừng 2.5mm; giả hành hình quả trám dài 2-5cm, dầy .5 cm, mang 2 lá. Lá có phiến thon, hẹp hình mũi giáo, dài 5-15cm, rộng 1-2.5cm, mảnh và láng, màu xanh đậm. Cụm hoa dài 10 cm, mang 1-5 hoa dài 2-3cm, màu trắng hay vàng nhạt; cánh hoa hẹp, môi có 3 thùy, mép có nhiều lông.
Phân bố tại Ấn độ, Nam Trung Hoa, Thái Lan, Lào, Việt Nam (vùng Tam đảo, Ninh Bình, Blao, Đà Lạt).
Trần Minh Quân
Tài liệu sử dụng:
. Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ văn Chi)
. Lan Rừng Việt Nam (A-Z) (Bùi xuân Đáng)
. Phương pháp trồng và chăm sóc Hoa Lan (Thiên Kim)
. Tra cứu Thực vật Rừng Việt Nam
. Phong lan Việt Nam (Trần Hợp)
|