|
VÂN
LAN - LAN HUỆ ĐÀ - VANDA
Trần Minh Quân
.png)
Hoa Vân Lan = Vanda orchidée
Chi lan Vanda tương đối nhỏ, trên thế giới chỉ có khoảng trên 50 loài, nhưng Vanda lại là một cây hoa khá quan trọng về phương diện cung cấp những bông hoa tuyệt đẹp cho nghệ thuật trang trí.
Lan Vanda phân bố tại Ấn độ, Himalaya, Ðông-Nam Á Indonesia, Philippines, New Guinea, Nam Trung hoa và Bắc Úc.
Tại Việt Nam, theo Ông Bùi Xuân Ðáng (Lan Rừng VN: A-Z) có 10 loài .
GS Võ văn Chi (Sách Tra cứu tên Cây cỏ Việt Nam) ghi nhận 8 loài.
"Từ Ðiển cây thuốc Việt Nam" chỉ ghi 2 loài có dược tính.
Flora of China ghi nhận được 10 loài tại Nam Trung Hoa, trong đó 4-5 loài được xem là cũng có mặt tại Bắc VN.
Vanda được GS Phạm Hoàng Hộ gọi là lan Huệ đà và GS Trần Hợp cho là Vân đa.
Riêng Vanda denisoniana còn có tên Lan Thanh Nga (PHH) và Vân đa dạ hương TH).
.png)
Vanda denisoniana = Lan Thanh Nga
Flora of China: Wan-dai lan (Vạn đại lan)
Vanda hiện được xem là một trong vài loài lan được nuôi trồng phổ biến nhất thế giới với rất nhiều loài lai tạo có thể trồng dễ dàng tại những vùng có khí hậu khác biệt nhau.
Vanda có thể lai tạo với nhiều loài lan tương cận (intergeneric) và lai tạo thêm nữa vào những thế hệ kế tiếp (có khi giữa 4-5 loài khác nhau.
Về dược tính, lan Vanda được sử dụng trong Dược học Ayur vedic đặc biệt là trong những thang thuốc trị đau nhức xương (Rasna) và đặc biệt là hiện được nghiên cứu như một dược thảo có thể thay thế Viagra.
Mô tả chung:
Vanda là một loài lan, đa số thuộc phong lan (epiphyte), nhưng cũng có loài thuộc địa lan và hiếm hơn là thạch lan, thân đơn (monopodial), lá xanh quanh năm, cứng và xoè ra sang 2 bên, phát triển từ một mầm trung tâm trên một thân chìm liên tục tăng trưởng: khi những lá mới, hơi cứng mọc ra từ đỉnh, những lá ở phía dưới sẽ rụng.
Lá có ba dạng: dẹp, rộng, thuôn hình mũi giáo (strap-leaves); cứng và tròn hình ống (terete) và dạng trung gian pha giữa 2 dạng trên (semi-terete), do lai tạo (Nhóm Vanda, lá terete được một số nhà thực vật tách riêng và xếp vào chi Papillionanthe, tuy nhiên nhiều cây Papillionanthe vẫn còn giữ tên Vanda).
Cần hoa có kích thước rất thay đổi: Có những cây loại thu nhỏ nhưng cũng có những cây với cần vươn cao cả thước. Vanda lai tạo cho hoa khá lớn và rất nhiều màu sắc kể cả tím, nâu, vàng, trắng, đỏ và đặc biệt nhất là xanh da trời. Ngoài ra cũng có những loài lai tạo thành dạng lan ‘thu nhỏ’ (miniature) với hoa chỉ cỡ 1-2cm.
Từ các loài nguyên thủy Vanda coerulea, hoa màu xanh da trời và Vanda sanderiana, (tên tương đương Euanthe sanderiana) đã lai tạo được Vanda Rothschildiana một cây đặc biệt nổi tiếng tại Âu-Mỹ với hoa xanh dương đậm, mọc cao đến 1m, hoa tròn lớn đến 7cm, bền kéo dài nhiều tuần. Cây có thể trổ hoa 2-3 lần/năm.
.png)
Vanda coerulea - Vanda sanderiana
.png)
Vanda coerulea x Vanda sanderiana = Vanda Rothschildiana
Cây lan Vanda lai tạo nổi tiếng nhất là cây Vanda "Miss Joaquim" còn gọi là Singapore Orchid và Princess Aloha Orchid. Vanda "Miss Joaquim" được chọn làm quốc hoa của Singapore từ 1981.
.png)
Vanda "Miss Joaquim" - Symboles nationaux Singapour
Cây được bà Agnes Joaquim lai tạo từ 1893 do sự phối hợp giữa Vanda teres từ Myanmar với Vanda hookeriana từ Mã Lai. Cây được du nhập vào Hawaii từ 1920 và tại đây trở thành cây lan rất phổ biến, kết thành vòng hoa đeo cổ (lei), biểu tượng cho hải đảo Hawaii..
Hoa lớn 5-6cm, màu trắng-hồng, hồng-tím, môi xòe dạng quạt.
.png)
Achren Hovakimian (Agnès Joaquim), créatrice de la fleur nationale de Singapour.
.png)
Vanda teres - Vanda hookeriana
.png)
Vanda teres x Vanda hookeriana = Vanda "Miss Joaquim"
Vanda lai tạo giữa những loài tương cận: Ngoài những loài lai tạo tự nhiên giữa những cây Vanda còn có thêm rất nhiều loài lai tạo ‘intergeneric’ khác như:
.png)
- Ascocenda = giữa Ascocentrum x Vanda
- Aeridovanda = Aerides x Vanda
- Luisanda = Luisia x Vanda
- Opsisanda = Vanda x Vandopsis
- Rhynchovanda = Rhynchostylis x Vanda
- Sarcovanda = Sarcochilus x Vanda
- Vandaenopsis = Phalaenopsis x Vanda.
Một số loài lai tạo trên còn được cho lai thêm nữa như:
- Ascovandoritis = Ascocentrum x Doritis x Vanda
.png)
- Debruyneara = Ascocentrum x Luisia x Vanda.
Các nhà lai tạo Nhật còn pha trộn thành những loài lai tạo giữa 4 loài (trong đó có Vanda), ví dụ như :
- Isaoara (gồm Aerides x Ascocentrum x Phalaenopsis x Vanda)
và đặc biệt hơn là
- Sutingara (gồm 4 loài trong Isaora, thêm vào là Vandopsis)
VANDA DÙNG LÀM THUỐC
Một số cây Vanda được dùng làm thuốc trong dân gian tại Việt Nam, Trung Hoa và nhất là Ấn độ, Pakistan (dược học Ayurvedic).
Dược học cổ truyền Việt Nam và Tàu:
- Vanda teres: Vân đa cành giao.
.png)
Vanda teres = Papillionanthe teres
Tên thực vật tương đương: Papillionanthe teres (Lan rừng VN: A-Z dùng tên này là tên chính).
Mô tả (VVChi): "Ðịa lan mọc cao 1-4m, thân hình trụ có lông dài; rễ khí sinh to. Lá hình trụ nhọn, dài 10cm. Chùm hoa ở ngọn, to, đẹp; hoa màu hồng trừ hai lá đài bên; môi có 3 thùy, thùy bên cao 7-10mm".
Lan Rừng VN có thêm những chi tiết: "Lá hình ống như chiếc đũa. Giò hoa dài 20-30cm, hoa 3-7 nhưng chỉ nở 2-3 chiếc một lần." Phân bố tại Ấn độ, Nepal, Nam Trung Hoa, Ðông Dương (Việt, Miên, Lào). Tại VN, mọc và trồng trong vùng Ðà Lạt. Dùng toàn cây làm thuốc thanh nhiệt, giải độc.
- Vanda concolor: Vân đa đồng màu, Tùng lan, Huệ đà một màu.
.png)
Vanda concolor = Vân đa đồng màu,
Tên Trung Hoa: qin chun wan dai lan (Cầm thần Vạn đại lan; cầm = đàn, thần = môi.
Mô tả (VVChi): "Phong lan có thân dài đến 2m. Lá xếp hai, dày, cong cong, dài 20-30cm, rộng 1-3cm, đầu có 2 thùy không bằng nhau, có 5 mũi. Cụm hoa ở cạnh thân, đứng, hoa 4-6 chiếc, thơm, rộng 5cm, màu nâu quế sậm, nhạt ở gần giữa, cuống và bầu dài 8-10cm, phiến hoa dài 2cm; môi màu quế nhạt có sọc tím ở đáy; thùy bên màu vàng nhạt, có đốm đỏ".
Vùng phân bố: Nam Trung Hoa (Vân Nam, Tứ xuyên..), Lào, Việt Nam (vùng Cao Bằng xuống tới quanh Hà Nội).
Lan mọc trên thân cây, hay có khi trên đá. Có tác dụng "khử phong", toàn cây dùng trị phong thấp, tê đau; đắp trị mụn nhọt, lở ngứa.
.png)
Nước ép từ hoa dùng chữa bệnh về mắt như cườm, mắt kéo màng, mắt mờ. Lá dùng đắp bên ngoài trị bệnh ngoài da, nước ép dùng uống trị tiêu chảy và kiết lỵ.
Flora of China gọi cây này là "da hua wan dai lan" (Ðại hoa) ghi nhận là cây có tại Vân Nam, Thái Lan, nhưng không có tại VN (?)
- Vanda cristata:
Tên Ấn: Likum, vajnik.
Lá vò nát đắp vết nứt và vết thương, lá nấu lấy nước làm thuốc nhỏ tai. Rễ và lá dùng trị phong thấp.
Tên Ấn: Ponnamponmaraiva (vùng Kerala) Bột tán mịn từ lá và hoa dùng trị bệnh thần kinh và thần kinh bất ổn. Hoa trị suyễn, trị bọ cạp chích.
- Vanda teres: Lá trị sốt thương hàn và dùng làm thuốc hạn chế sinh sản (?).
- Vanda tessellata (Vanda roxburghii):
Tên Ayurvedic: Atisara, rasna.
Tên Ấn: Banda, nai (Hindi); atirasa, bhujanggakshi (Phạn).
Rễ dùng trị táo bón, rể giã nhào thành khối nhão dùng trị phong thấp và các bệnh đau nhức xương; rể, lá và hoa dùng trị bệnh thần kinh. Nước sắc từ rễ, uống chung với mật ong trị bệnh phong tình. Bột rễ, lá và hoa dùng trị sưng phổi, nấc cục, bọ cạp chích và sưng viêm.
Ðể trị gãy xương: Dùng rễ và lá nghiền chung với nụ cây phoenix loureirii, lấy nước cốt uống và bã đắp bên ngoài.
Toàn cây dùng trị bệnh mắt, quáng gà. Phương thuốc Ayurvedi Rasna dùng trị các chứng Vataja (bệnh thần kinh) và Kaphaja (sưng-viêm, sưng khớp xương, phong thấp) được bào chế từ Vanda tessellata.
(Xin xem phần nghiên cứu khoa học)
- Vanda testacea: Lá dùng trị bệnh tai, dùng trị bệnh do siêu vi, trị ung thư và những bệnh như V. spathulata.
.png)
Các nghiên cứu khoa học quan trọng nhất được tập trung vào Vanda tessellata, đáng chú ý là hoạt tính trị bất lực kiểu Sildenafil (Viagra @.
Cây thuộc loại phong lan, 30-60cm, nhiều rễ khí sinh. Lá mọng, 15-20cm, dài và cong. Hoa 6-10, màu xanh-vàng, có lằn nâu với viền trắng; môi dài 15mm, xanh da trời nhạt, có chấm tím. Quả nang hẹp, dài 7-9cm.
Vanda tessellata được các bài viết Ấn độ ghi là phân bố tại Ấn độ, Sri Lanka, Myanmar..cho đến Ðông Dương, tuy nhiên cây không được các nhà nghiên cứu Lan VN ghi nhận là có được tại Việt Nam.
Các phân chất hóa học ghi nhận:
- Trong cây có những alkaloids, glucosides, tannins, chất đắng, beta và gamma-sitosterols, các hợp chất có dây C dài như heptacosane (C27H56) Octacosanol (C28H58O).., dầu béo, nhựa và sắc tố.. Trong cây mọc tại Pakistan có glycoside (melianin) và một hỗn hợp loại withanolide (The Sciences, Pakistan Số 1-2001)
- Trong rễ có hợp chất loại tetracosyl-ferrulate, beta-sitosterol-D-glucoside.
- Trong hoa có 2,7,7-trimethylbicyclo [2.2.1] heptane
Hoạt tính tăng cường khả năng tình dục:
- Tác dụng trị bất lực: Nitric oxìde (NO) được biết là có nhiều nhiệm vụ sinh học trong cơ thể, kể cà làm giãn mạch và tạo sự cương cứng cho dương vật. Có những men trong hệ thần kinh, trong nội bào và men gây (inducible) sự tổng hợp NO (NO synthetases), làm ảnh hưởng đến nồng độ NO nơi mô tế bào và trong máu. NO gây khởi động men guanylate cyclase và do đó làm tăng nồng độ cGMP (cyclic guanosine mono phosphate) là chất giúp làm thư giãn các tế bào bắp thịt quanh dương vật, gây sự dãn nở và đưa máu về tế bào dương vật để tạo sự cương cứng. Tình trạng cương này sẽ tự động mất vì sau đó cGMP bị PDE-5(phosphodiesterase loại 5) thủy giải để trở thành GMP không còn hoạt tính (Viagra, thuốc tạo sự cương cứng dương vật, bằng cách ức chế phosphodiesterase-5, giúp sự tồn tại cho cGMP, kéo dài sự cương do gia tăng lưu lượng máu). Hợp chất 2,7,7-tri methyl [2.2.1] heptane ly trích được trong hoa Vanda tessellata có hoạt tính tạo khởi động các men gây tổng hợp NO, làm tăng nồng độ NO nơi các mô thể xốp (corpus cavernosum) quanh dương vật. Hoạt tính này xẩy ra khoảng 30 phút sau khi cho dùng dịch chiết. (International Journal of Impotence Research Số 25-2013)
- Tác dụng trên hoạt động tình dục: Dịch chiết bằng alcohol từ hoa, khi thử trên chuột, có một số khả năng như:
- Làm tăng số lần chồm lên (mounting behavior) phủ chuột mái:
* Liều 200mg/kg làm tăng số lần phủ 360 %.
* Liều 50mg/kg làm tăng 100% so với chuột đối chứng.
- Tăng phẩm chất khi giao hợp: Lượng tinh trùng trong tinh dịch tăng, số lần giao phối cũng tăng (liều 200 mg/kg, thử cho 6 chuột đực ghi nhận 4 chuột giao hợp với 3 chuột mái khác nhau trong đêm thử và 2 chuột giao hợp với 4 chuột mái khác nhau; trong khi đó nơi nhóm đối chứng chỉ 1 chuột giao hợp với 2 mái khác nhau còn 5 chuột chỉ giao hợp với 1 mái)
- Không có sự khác biệt sinh học giữa chuột con sinh ra trong các nhóm thử nghiệm.
- Liều cao 400 mg/kg, cho dùng trong 14 ngày liên tục không gây độc tính nguy hại nào. (Indian Journal of Pharmacology Số 32-2000)
Dịch chiết từ lá và rễ bằng những dung môi khác nhau như chloroform, ether petroleum, ethyl acetate, acetone ghi nhận:
Dịch chiết bằng ethylacete ở nồng độ 10 mg/ml có hoạt tính diệt các vi khuẫn E. coli, S. aureus, K. pneumoniae, Proteus mirabilia và Bacillus subtilis.. đồng thời cũng diệt được nấm Candida albicans.(Journal of Mecicinal and Aromatic Plant Sciences Số 34-2012).
- Hoạt tính chống oxy-hóa:
Dịch chiết bằng petroleum ether từ lá có hoạt tính thu nhặt gốc tự do, ức chế NO (ở liều 200 mg/kg) và chống oxy-hóa tuy nhiên không hữu hiệu khi thử trên hệ thống DPPH (International Ayurvedic Medical Journal Số 5-2013)
- Khả năng chống kinh phong:
Dịch chiết bằng petroleum ether từ lá có tác dụng ngăn được các phản ứng co giật nơi chuột bị gây kích sốc bằng điện khi dùng liều 250-500 mg/kg. Phenytoin, liều 25 mg/kg, được dùng làm đối chứng. Chuột dùng dịch chiết giảm được sự co-vặn thân, giảm sự giật cơ, bắp thịt thư giãn hơn.. Tác động này được giải thích là do ảnh hưởng trên hệ chuyển vận thần kinh GABA (International Journal of Experimental Pharmacology Số 2-2012)
- Hoạt tính trị nghẽn mạch trong tai biến mạch máu não:
Dịch chiết bằng Petroleum ether từ lá thử trên chuột, bị gây nghẽn mạch máu não bằng "chặn sự lưu thông máu ở cả 2 động mạch cảnh" (Bilateral Carotid Artery Occlusion) bằng kẹp, kẹp được tháo bỏ sau 10 phút và chuột được theo dõi về các thông số sinh học qua các thử nghiệm về phản ứng cơ thể.. Kết quả, so sánh với đối chứng, ghi nhận liều 250-500mg/kg dịch chiết có hoạt tính bảo vệ được não trong trường hợp bị nghẽn mạch do tai biến (Journal of Pharmaceutical Biology Số-2012)
Vanda dùng trong Mỹ phẩm:
Dịch chiết từ Vanda coerulea được sử dụng trong kỹ nghệ mỹ phẩm để chế tạo những kem ‘dưỡng da’ (làm tăng độ ẩm cho da).
Trên thị trường mỹ phẩm, Công ty Greentech cung cấp một nguyên liệu trích từ lan Vanda coerulea, dưới tên Biogreen Orchidée Bleu (Biogreen Blue Orchid), nguyên liệu này được sử dụng như một chất chống oxy hóa trong công thức kem dưỡng da.
Một bằng sáng chế tại Nhật JP 2006-257056 đã đăng ký việc dùng trích tinh Vanda coerulae trong một kem trị lão hóa da dựa trên hoạt tính của những chất oestrogen trong cây..
Một bằng sáng chế khác đăng ký "quốc tế" WO/1920/000006, chứng minh qua những thử nghiệm, là Vanda coerulea có hoạt tính làm tăng độ ẩm của da bằng kích ứng hoạt động của AQP3 và của protein LEKTI. AQP= Aquaponins là hệ thống điều hòa sự trao đổi các phân tử qua kênh-nước (water channels) tại màng biểu bì. Protein LEKTI hay lympho-epithelial Kazal type related inhibitor là một chất ức chế men protease có ảnh hưởng trên hoạt động của các tế bào desmosomes có những vai trò quan trọng trong việc giữ độ ẩm cho da..
- Lan Rừng VN :A-Z (Bùi Xuân Ðáng)
- Từ Ðiển Cây thuốc Việt Nam (Võ văn Chi)
- Complete Guide to Orchids (Ortho Book)
- Medicinal Orchids: An Overview (Ethnobotanical Lea}ets)
- Medicinal properties and uses of orchids: a concise review (Applied Botany)
|
|
|