|
LAN LỌNG - LAN
CẦU DIÊP - BULBOPHYLLUM
Trần Minh Quân
.png)
Bulbophyllum
= Lan
lọng -
lan Cầu
diệp
Bulbophyllum
(Lan
lọng,
lan Cầu
diệp) là
chi lớn
nhất của
họ
Orchidacea
gồm
khoảng
trên
2000
loài, và
còn thêm
nhiều
loài mới
tìm được,
thêm vào
mỗi năm..
"Lan
rừng
Việt
Nam:
A-Z"
(Tác
giả
Bùi
Xuân
Đáng)
ghi
nhận
được
96
loài
có
mặt
tại
VN.
Võ
văn
Chi
trong
"Sách
tra
cứu
tên
cây
cỏ
VN"
liệt
kê
71
loài.
"Từ
điển
Cây
thuốc
VN"
ghi
4
loài
có
dược
tính.
GS Phạm
Hoàng Hộ
gọi nhóm
lan này
là lan
Cầu diệp,
và GS
Trần Hợp
đặt là Lan
lọng;
Võ văn
Chi,
dùng tên
Hoa:
Shi-dou
lan để
gọi là: Thạch
đậu lan.
Bulbophyllum
từ tiếng
Hy lạp:
bulbo =
củ và
phullon
= lá (lá
mọc từ
đỉnh của
giả hành).
Đặc
điểm
chung:
Chi
lan
Bulbophyllum
rất
rộng
lớn
và
đa
dạng,
các
cây
lan
trong
chi
này
có
thể
cho
những
bông
hoa
khác
thường
và
kỳ
lạ.
Kích
thước
của
cây
có
thể
rất
bé,
với
giả
hành
tròn
và
nhỏ
như
hạt
đậu
như Bulbophyllum
repens (giả
hành
có
đường
kính
5-7mm,
hoa
li
ti
cỡ
1mm,
mọc
thành
chùm
dày
đặc),
hoặc
đến
những
cây
thật
to
như Bulbophyllum
fletcherianum (Tongue
orchid
chỉ
mọc
ở
Papua
New
Guinea)
với
những
bông
hoa
thật
xấu
trông
như
chiếc
miệng
mở
rộng
của
đám
chim
non,
lá
rũ
xuống
dài
đến
1.8m
giống
như
sợi
dây
da
để
mài,
liếc
dao
cạo
của
thợ
hớt
tóc
thời
xa
xưa.
Giữa
hai
thái
cực
này
là
hàng
trăm
loài
khác
(rất
ít
loài
lai
tạo)
cho
những
bông
hoa
hình
dạng
khác
nhau
khá
đặc
biệt:
từ
những
bông
hoa
dị
dạng
rất
xấu
có
mùi
hôi
khó
ngửi
như Bulbophyllum
phalaenopsis,
đến
những
bông
hoa
tuyệt
đẹp,
có
mùi
thơm
dễ
chịu;
một
số
loài
còn
có
cành
hoa
dẹt,
mang
những
hoa
trông
giống
như
bọ
hung.
Số
lượng
hoa
cũng
thay
đổi
tùy
loài,
thường
5-7
hoa
nhưng
có
loài
có
đến
40-50
hoa.
.png)
Bulbophyllum
repens
- Bulbophyllum
fletcherianum
.png)
Bulbophyllum phalaenopsis
Năm
2011,
nhà
thực
vật
Ed
de
Vogel
đã
tìm
được
tại
Papua
New
Guinea
loài Bulbophyllum
nocturnum đặc
biệt
cho
hoa
chỉ
nở
vào
khoảng
2
giờ
sau
khi
trời
tối
và
hoa
tàn
khi
có
ánh
mặt
trời
lên
(giống
kiểu..hoa
Quỳnh?).
.png)
Theo nhà
nghiên
cứu Bùi
Xuân
Đáng: "Phần
đông các
cây
Bulbophyllym
mọc trên
cây hoặc
trên đá,
chỉ khác
nhau về
hoa củ
tròn hay
dài, lớn
hay nhỏ,
những củ
mọc nối
tiếp với
nhau
bằng một
thân rễ;
trên đầu
củ có 1
hay 2 lá
có khi
dài tới
60cm,
lớn hơn
lá lan
Hồ điệp.
Hoa có
nhiều
hình
dạng
khác
nhau từ
hình
chiếc
quạt nhỏ
lung
linh như
cánh
bướm cho
đến
những
chùm hoa
nhỏ li
ti hay
những
chiếc
râu dài
quá khổ
so với
toàn
thân" .
(Bulbophyllum
trên hoalanvietnam.org)
Bulbophyllum
là những
lan cộng
sinh, có
lá xanh
quanh
năm. Một
số loài
được gọi
là "cộng
sinh
nhánh
con" do
tập quán
sống bám
vào
những
đầu tận
cùng của
các
nhánh
cây nhỏ.
Chồi
thân có
thể dạng
ống, rễ
bò có
khi phát
triển
quấn
quanh
thân cây
chủ, có
khi thả
đong đưa
từ nhánh
cây trên
cao,
thậm chí
có loài
còn trụi
lá, dùng
căn hành
để quang
tổng hợp
dưỡng
chất
nuôi cây.
Mùi hôi
thối của
hoa ở
một số
loài
được xem
là để
dẫn dụ
côn
trùng
giúp sự
thụ phấn
để cây
sinh sản.
Lan
Bulbophyllum
phân bố
khắp
vùng
Đông Nam
Á, Úc
châu (riêng
Borneo
có 200
loài),
Phi châu
và vùng
nhiệt
đới Nam
Mỹ..Trung
tâm phát
sinh của
nhóm lan
này được
cho là
từ Papua
New
Guinea,
nơì có
trên 600
loài
bulbophyllum.
Về
phương
diện
dược học,
đa số
Bulbophyllum
có chứa
những
hoạt
chất
loại phenanthrenes đang
được
nghiên
cứu về
khả năng
diệt tế
bào ung
thư.
Bulbophyllum
có dược
tính tại
Việt
Nam:
1-
Bulbophyllum
odoratissimum
=
Lan
lọng
thơm.
.png)
Bulbophyllum
odoratissimum
=
Lan
lọng
thơm
Tên
thực vật
tương
đương: Stellis
odoratissima,
Bulbophyl
lum
congestum,
B.
hyacinthiodorum.
Các
tên gọi
khác: Thạch
đậu lan
hoa dày.
Tên
Anh-Mỹ: Fragrant
Bulbophyllum.
Trung
Hoa: Mi-hua
shi dou
lan (Mật
hoa
thạch
đầu lan;
mật= dầy,
bi mật).
Mô tả (theo
Võ văn
Chi):
"Phong
lan có
thân rễ
dày 2mm,
bò dài,
mang giả
hành
cách
nhau;
giả hành
hình bầu
dục dài
2.5-4cm,
to
3-9mm.
Lá 1:
Phiến lá
hình bầu
dục
thuôn,
dài
4-11cm,
rộng
8-18mm,
đầu tù
tròn.
Cụm hoa
cạnh giả
hành, có
vẩy ở
gốc; hoa
đầu dầy,
nhiều
hoa, có
phiến
hoa vàng
rồi
trắng,
chót
vàng
vàng; lá
đài trên
đài cỡ
4mm, môi
dày cứng
và cong
lên".
Flora
of China
ghi thêm: Hoa
có mùi
thoảng;
đài hoa
và cánh
hoa màu
trắng,
sau đó
chuyền
thành
vàng
cam, môi
hoa màu
vàng
quýt.
Cụm hoa
thành
tán có
trên 10
hoa, có
thể đến
20 hoa.
Phân
bố: Tại
Đông Á
(Nepal,
Ấn độ,
Assam),
Thái Lan,
Nam
Trung
Hoa (Vân
Nam,
Quảng
đông,
Quảng
tây..),
Lào,
Việt
Nam. Mọc
trên
thân cây
trong
rừng cao
độ
200-2400m.
Tại
Việt
Nam: Mọc
trong
vùng
rừng núi
Vĩnh Phú,
Kontum.
Dược học
cổ
truyền
Tàu và
Việt
dùng
toàn cây
làm
thuốc
dưới tên
"quả
thượng
diệp".
Vị thuốc
được xem
là có vị
ngọt/nhạt,
tính mát
có những
tác dụng
tiếp cốt,
tiêu
thũng,
nhuận
phế, hóa
đàm;
hành khí,
chỉ
thống.
Dùng trị
lao phổi,
ho ra
máu;
sưng khí
quản
kinh
niên,
sưng cổ
họng..
Những
nghiên
cứu dược
học:
-
Thành
phần
hoạt
chất: Cây
chứa
*
Phenanthrenes
(8):
Bulbophythrin
A, B
(Fitoterapia
Số
7-2009),
đa
số
thuộc
loại
dimethoxy,
dihydrophenan
thren.
* Hợp
chất
loại
dihydrostilbenes.
*
Glycosides
phenolic
thuộc
loại
glucopyranosides
như Sy
ringin,
Bulbophyllinoside.
Dịch
chiết
toàn cây
bằng
ethylacetate
cho 9
hợp chất
loại
phenolic
như:
Moscatin,
coelonin,
densiflorol
B,
gigantol
batatasin
III,
tristin,
vanillic
acid,
syringaldehyde..(Food
Chemistry
Số
07-2008)
Hoạt
tính
dược học:
Khả
năng
diệt tế
bào ung
thư:
Hợp
chất
loại
phenanthrene:
3,7-dihydro-2,4,6-trimetho
xy
phenanthrene,
ly
trích
từ
toàn
cây
bằng
ethanol,
có
khả
năng
ngăn
chặn
sự
tăng
trưởng
của
các
-
tế
bào
ung
thư
máu (người)
loại
K
562
(IC50=14.23
mcg/ml),
loại
HL-60
(10.02),
-
tế bào
ung thư
phổi =
human
lung
adeno
carcinoma
A 549
(3.42),
- tế
bào ung
thư
gan BEL-7402
(15.36)
và
- tế
bào ung
thư
ruột SGC-7901
(1.13
mcg/ml)
(Journal
of the
Korean
Chemical
Society
Số
4-2007).
Christopher
Wiart
trong
Medicinal
Plants
of
China,
Korea
and
Japan đã
tóm lược
hoạt
tính
chống
ung thư
của
những
hợp chất
ly trích
được từ
B.
odoratissium
như sau:
Bulbophythrin
A và
B có
những
hoạt
tính
chống
ung
thư
đáng
chú
ý
khi
từ "in
vitro"
(trong
ống
nghiệm).
Bulbpphythrin
A
thu
ngắn
thời
gian
sinh
trưởng
của
những
dòng
tế
bảo
ung
thư
HL-60,
BEL-7402
trong
khi
đó
Bulbophythrin
B
hoạt
động
mạnh
hơn
trên
dòng
tế
bào
A-549.
Densiflorol
B (trong
dịch
chiết
bằng
ethylacetae)
cũng
có
hoạt
tính
diệt
các
tế
bào
ung
thư
thuộc
5
loại
kể
trên
ở
nồng
độ
IC50=
0.08-3.52
mcg/ml
2-
Bulbophyllum
reptans
=
Lan
lọng
bò.
.png)
Bulbophyllum
reptans
=
Lan
lọng
bò
Các tên
gọi khác: lan
Cẩu diệp
bò.
Thạch
đậu lan
bò.
Trung
Hoa: fu
sheng
shi dou
lan (Phục
sinh
thạch
đậu lan).
Mô tả (VvChi):
"Phong
lan có
thân rễ
bò dài,
dầy
1.5mm,
mang giả
hành dài
1-2cm,
to
5-10mm
màu vàng.
Lá 1;
phiến
thon hẹp
dài
7-15cm
rộng
7-10cm,
đầu tròn,
cuống
ngắn.
Cụm hoa
chùm,
mọc từ
gốc giả
hành,
ngắn hơn
lá;
cuống và
bầu hoa
dài
6-8mm.
Hoa cao
8mm,
cánh hoa
nhỏ hơn
lá đài,
môi có
thùy
cuối
xoăn
thon".
Vùng
phân bố tương
tự như
Bulbophyllum
odoratissimum.
Được sử
dụng
trong
thuốc
Nam,
thuốc
Bắc như
loại
trên.
Các
phân
chất hóa
học ghi
nhận cây
chứa
những
hợp chất
phenanthren
loại
dimeric
như:
reptanthrin.
Isorepthrantin,
những
stilbenoids
như
confusarin,
flavanthrinin,
coelonin,
cirrhopetelanthrinin..(Phytochemistry
Số
50-1999.
3
-
Bulbophyllum
ambrosia
=
Cầu
diệp
hạnh
nhân,
lan
Thạch
đậu
thơm,
Lan
lọng
tim.
.png)
Bulbophyllum
ambrosia
=
Cầu
diệp
hạnh
nhân
Tên
tương
đương: Bulbophyllum
amygdalinum.
Mô tả (VV
Chi): "Phong
lan có
thân rễ
dày
2-3mm,
bò dài,
chia
nhánh,
mang giả
hành
hình bàu
dục dài
3-4cm,
rộng
3-7mm,
có cạnh,
gốc có
xơ. Lá
duy nhất,
phiến
dài
4-12cm,
rộng
1.2-2.5cm,
đầu lõm,
gần như
đối xứng,
cuống
ngắn.
Cụm hoa
chỉ gồm
có một
hoa từ
gốc của
giả hành:
lá đài
giữa
xoăn, to
hơn cánh
hoa bên,
môi có
thùy bên
hướng về
trước,
to, có
sọc.
Phân
bố tại
vùng Nam
Trung
Hoa và
Việt
Nam.
Tại
VN,
lan mọc
trong
khu vực
thượng
du Việt
Bắc (Tam
đảo,
Vĩnh Phú,
Sapa..)
Được
dùng tại
Vân Nam
để trị
sưng gan.
Vài loài
Bulbophyllum
có dược
tính
khác:
Một số
loài
Bulbophyllum
khác,
mọc tại
Ấn độ,
Mã lai
cũng
được
nghiên
cứu về
dược
tính.
Một số
cây đáng
chú ý
như:
-
Bulbophyllum
vaginatum:
.png)
Cây
gặp
tại
Thái,
Indonesia,
Malaysia: Chồi
thân
đường
kính
3mm,
cuống
lá
phình
to 2
x
6mm;
lá
hình
lưỡi
đao
thuôn
dày
và
xốp
8 x
3cm.
Hoa
thành
chùm
10-15,
vàng
nhạt,
cỡ
5cm.
Tại
Mã lai,
quả được
nướng,
và nước
ép toàn
cây được
đun ấm
làm
thuốc
nhỏ trị
bệnh về
tai.
Christopher
Wiart,
trong
Ethnopharmacology
of
Medicinal
Plants: Asia
and the
Pacific
(trang
101-102)
tóm lược
hoạt
tính của
Bulbophyllum
vaginatum:
Trong
cây có
những
hợp chất
loại
bibenzyls,
phenanthrenes
và
9,10-dihydrophenanthrenes
trong đó
dihydrexi
dine có
hoạt
tính
trên các
thụ thể
thần
kinh
loại
dopamine
D1.
Phenanthrenes
cũng
được thử
nghiệm
về hoạt
tính
diệt tế
bào ung
thư.
-
Bulbophyllum
kwangtungnense:
.png)
Bulbophyllum
kwangtungnense
Các hợp
chất
loại
dihydroxybenzoxepin
như
densiflorol
A,
plicatol
B ly
trích từ
toàn cây
có hoạt
tính (in
vitro)
diệt các
tế bào
ung thư
dòng
Hela và
K 562 (Planta
Medica
Số
72-2006).
.png)
Cây
được
nghiên
cứu
nhiều
tại Ấn
độ, được
dùng
trong
dân gian
để trị
nhiều
bệnh
khác
nhau.
Một số
hoạt
tính đã
được xác
nhận như
diệt tế
bào ung
thư,
chống
sưng
viêm,
chống
oxy-hóa,
kháng
sinh,
trừ sán
lãi và
côn
trùng..
Phân
chất hóa
học ghi
nhận
trong
giả hành
chứa
khoảng
25 hợp
chất có
hoạt
tính
sinh học
thuộc
những
nhóm
polyhydroxy,
phenolic,
coumarins,
sesquiterpenes,
stilbenes,
phenanthrenes
(International
Journal
of
Chemistry
and
Applications
Số
3-2011).
Dịch
chiết
bằng
ethanol
từ đọt
thân
chứa 6
hợp chất
trong đó
phần
chính là
n-hexadecanoic
acid
(57.9
%),
alpha-bisabolol
(6.9%)
và
2.4,5-tri
hydroxypyrimidine
(2.6 %)
(
International
Journal
of
Pharma &
Biosciences
Số
2-2011).
Hoạt
tính
chống
sưng
được tóm
lược:
Dịch
chiết từ
giả hành
bằng các
dung môi
nước,
petroleum
ether,
chloroform
và
ethanol
được
dùng
trong
thử
nghiệm.
Hoạt
tính
chống
sưng
được
nghiên
cứu theo
phương
pháp
dùng
HRBC
(Human
Red
Blood
Cell
Membrane
Stabilization)
ghi nhận
các dịch
chiết
đều có
hoạt
tính
chống
sưng
tương tự
như
thuốc
diclofenac
(chống
sưng do
làm ồn
định
màng
lisosomes).
Dịch
chiết
bằng
ethanol
có hoạt
tính cao
nhất
(Journal
of
Pharma
Research
03-12-2013).
Dịch
chiết
toàn
cây
bằng
các
dung
môi
khác
nhau
đã
được
thử
nghiệm
về
khả
năng
kháng
sinh
trên
16
loài
vi
khuẩn
thuộc
gram
+ và
gram-
cho
thấy:
các
dịch
chiết
bằng
ethanol
và
chloroforme
có
hoạt
tính
mạnh
nhất
trên
Salmo
nella
spp,
Streptococcus
pneumoniae,
Staphylococcus
aureus,
E.
coli..
đồng
thời
cũng
có
tác
dụng
diệt
các
nấm
như
Aspergillus
flavus,
A.
niger,
Trichophytons..(Nature
and
Science
Số
10-2012).
-
Bulbophyllum
careyanum:
Củ
tươi
giã
nát
đắp
vết
phỏng.
Bột
lá
khô
dùng
gây
trụy
thai,
đồng
thời
giúp
lại
sức
sau
khi
sanh.
-
Bulbophyllum
leopardinum:
Trung
Hoa:
duan
ting
shi
dou
lan
(Đoản
đình
thạch
đậu
lan
;
đoản=
ngăn,
đình=đỉnh)
tuy
được
Flora
of
China
ghi
là
có
tại
Bắc
VN,
nhưng
không
được
VV
Chi
liệt
kê,
cũng
được
dùng
giã
nát
đắp
trị
phỏng.
-
Bulbophyllum
umbellatum:
Toàn
cây
dùng
làm
thuốc
giúp
thụ
thai
(?)
Một
bằng
sáng
chế
đăng
ký
tại
Hoa
Kỳ
(Patent
US
7939112)
đã
mô
tả
một
số
chi
tiết
về
phương
thức
dùng
Bulbophyllum,
đặc
biệt
là Bulbophyllum
neilgherense để
làm
thuốc
trị
một
số
bệnh
tim-mạch.
.png)
Bulbophyllum
neilgherense
Bằng
sáng chế
này có
mô tả về
cây lan,
thu hái
tại Ấn
độ,
phương
pháp ly
trích
hoạt
chất
nhưng
không
ghi rõ
thành
phần
hoạt
chất,
đồng
thời
cũng ghi
một số
kết quả
thử
nghiệm
lâm sàng
trên 127
bệnh
nhân
trong 3
năm điều
trị ,
những
bệnh về
tim mạch
như
huyết áp,
đau tức
ngực,
đau tức
lan từ
ngực đến
tay..
Tác giả
"cho
rằng"
thuốc
chế tạo
từ
Bulbophyllum
có thể
so sánh
với tác
động của
nifedipine
(?)
Trần Minh Quân
- Từ
điển Cây
thuốc
việt Nam
(Võ văn
Chi)
-
Medicinal
Plants
of
Bulbophyllum
species
in China
(Chen H
& Wang.
F)
-
Medicinal
Plants
of
China,
Korea
and
Japan (
C. Wiart)
|