|
KIỀU LAN - LAN BẦU RƯỢU - CALANTHE
Trần Minh Quân
.png)
Chi
lan
Calanthe
có
khoảng
trên
200
loài
địa
lan,
mọc
tại
Á
châu,
Phi
châu,
Trung
Mỹ
và
Úc
châu
trong
đó
chỉ
có
một
ít
loài
nguyên
thủy
và
vài
loài
lai
tạo
là
được
trồng
tương
đối
phổ
biến..
Theo "Lan Rừng VN Từ A-Z" (Bùi xuân Đáng): Tại Việt Nam có 24 loài.
"Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam" (Võ văn Chi): liệt kê 21 loài .
"Từ điển Cây thuốc Việt Nam" (VvChi) : Chỉ ghi một loài có dược tính.
Flora of China ghi nhận: Tàu có 51 loài (trong đó nhiều loài cũng có tại VN).
Tên
Calanthe,
do
tiếng
Hy
lạp:
kalos
=
đẹp;
anthos
=
hoa.
Theo Nhà nghiên cứu Bùi Xuân Đáng thì GS Phạm Hoàng Hộ đã đặt tên cho loài lan này là Kiều lan theo ý nghĩa là hoa đẹp, và GS Trần Hợp gọi tên lan bầu rượu do giả hành hơi thắt ở giữa.(có tác giả viết về lan, còn gọi là..lan "tửu binh", tuy nhiên cũng có những cây calanthe mà giả hành không thắt ở bụng.
Flora of China gọi nhóm calanthe dưới tên Xia chi lan (chuyển thành Hán- Việt: Xia = Hà (tôm), ji = tật, còn có thể là lương (?)= lưng).
Calanthe được xem là giống lan đầu tiên được các nhà thực vật lai tạo: Cây lan Calanthe Dominyl, lai tạo giữa Calalanthe Furcata x Calalanthe Masuta được Ông Dominy một nhà thực vật tại Vielch tạo ra vào năm 1853, do sự cố vấn của GS Harris (Exeter, Anh).. Cây lan Calanthe lai tạo thứ nhì được "đăng ký" là cây Calalanthe Veitchii (lai tạo giữa Calalanthe rosea x vestita)..
.png)
Calanthe Dominyl = Calalanthe Furcata x Calalanthe Masuta
Calanthe
là
loài
lan
rất
được
ưa
chuộng
tại
Nhật,
cây
được
nghiên
cứu
khá
kỹ
và
gần
như
"hoàn
chỉnh"
để
lai
tạo
ra
những
loài
tuyệt
đẹp,
nở
hoa
cả
trong
mùa
hè.
Đặc
điểm
chung:
Lan
Calanthe
có
thể
chia
một
cách
đơn
giản
thành
2
nhóm:
rụng
lá
và
không
rụng
lá.
Những loài rụng lá, được nuôi trồng rộng rãi hơn, thường có giả hành lớn màu trắng bạc, lá to, mở rộng có gân. Lan mau tàn và thường chết vào năm thứ nhì. Vào những mùa Thu, Đông, trong thời gian cây nghỉ, cây trổ hoa (thường màu trắng hay tím), nở rải rác dọc theo một cành cao, uốn cong; cần hoa này mọc lên từ gốc của giả hành đã rụng lá. Những cây lai tạo thuộc nhóm này, có thể cho hoa màu màu đỏ thắm khá đẹp (như Calanthe Gorey X Grouville, hoa đỏ, bền, mọc trên một cần hoa dài đến 1m) .
.png)
Calanthe Gorey - Calanthe Grouville
Nhóm
thứ
nhì,
có
lá
xanh
quanh
năm,
không
rụng
thường
là
những
loài
nguồn
gốc
từ
Nhật,
Korea,
Trung
Hoa.
Nhóm
này
có
giả
hành
nhỏ,
lá
mọc
thành
tán
trải
rộng.
Cành
hoa
mọc
từ
gốc,
mang
trên
cần
nhiều
hoa
sặc
sỡ
với
những
màu
thường
gặp
là
vàng,
hồng,
trắng,
xanh.
Những
nhà
trồng
hoa
tại
Nhật
đã
lai
tạo
được
nhiều
chủng
rất
giá
trị.
Nhà
nghiên
cứu
Bùi
Xuân
Đáng
trong
"Calanthe
R.
Brown
1821"
(hoalanvietnam.org)
đã
ghi
lại
về
lan
Calanthe
như
sau:
"..Củ lan Calanthe cao khoảng 5-10cm, đáy hơi phình ra, đầu thu nhỏ lại và chỉ sống được trên một năm. Trên đầu củ mang từ 1 đến 4 chiếc lá to bản, dài chừng 30-50cm, rộng 10-15cm màu xanh nõn chuối. Lá lan thường vàng úa và rụng vào cuối mùa mưa hay vào thu khi trời bắt đầu lạnh. Sau một thời gian nghỉ ngơi, chồi hoa mọc ra từ đáy củ, cao từ 20cm đến 1m, có từ vài hoa đến 20 chiếc. Hoa thường có màu trắng, vàng đỏ hay hồng tùy theo giống, hoa đẹp nhưng không thơm thường nở vào mùa Xuân nhưng cũng có khi vào mùa Đông. Khi hoa tàn, mầm non mới có khi là một hay hai mọc ra, nhưng cũng có khi mọc ra cùng một lúc với chồi hoa..".
Calanthe
có
dược
tính
tại
Việt
Nam:
Calanthe
triplicata: Kiều
hoa
xếp
ba
(PHH),
Bầu
rượu
nếp
ba (TH),
Lan
đất
hoa
trắng.
Tên
tương
đương: Calanthe
veratrifolia,
Calanthe
furcata,
Orchis
triplicata,
Calanthe
veratrifolia
var.
australis.
Tên
thông
thường: Christmas
Orchid
(Úc),
Thrice
Folded
Calanthe.
Trung
Hoa
(Flora
of
China): san
zhe
xia-ji
lan.
Mô
tả (Lan
Rừng
VN):
"Địa
lan,
củ
hình
trụ,
lá
5-6
chiếc
to
bản,
mọc
sát
đất,
giò
hoa
trên
cao,
đến
1m,
hoa
20-30
chiếc,
to
2-3cm".
Flora
of
China
có
thêm
những
chi
tiết: Cây
cao
40-100cm,
giả
hành
hình
trụ-thuôn
bầu,
1-3
x
1-2cm,
có
2-3
lá
bẹ.
Lá
to
không
rụng
thuôn
dài
hình
mũi
giáo
20-60
x
5-12cm,
nhám.
Hoa
thường
màu
trắng-tuyết,
đôi
khi
đỏ
tím
chuyển
thành
vàng
cam,
và
khi
khô
thành
đen.
Theo Australian Tropical Rainforests Plants: Quả thuộc loại nang hình trứng hay thuôn thành ống dài chừng 4cm, vỏ tách theo chiều dọc nhưng vẫn dính ở đáy và ngọn. Hạt rất nhỏ, có cánh; trong có phôi màu kem.
.png)
Calanthe triplicata seedpods - Calanthe triplicata mọc trong rừng.
Calanthe
triplicata
phân
bố
rộng
nơi
rừng
ờ
cao
độ
700-2400m
tại
Ấn
độ,
Bhutan,
Thái,
Mã
lai,
Nam
Trung
Hoa,
Đông
Dương
(Việt,
Miên,
Lào),
Nhật,
Indonesia,
Philippines,
Úc,
Madagascar.
Tại
VN:
gặp
khắp
Bắc,
Trung,
Nam.
Dược
học
dân
gian
Ấn
độ
dùng
trị
bệnh
bao
tử
và
ruột.
Rễ
phơi
khô,
nhai
chung
với
hạt
cau
để
trị
tiêu
chảy
và
kiết
lỵ.
Tại
Indonesia,
cây
dùng
đăp
trị
vết
thương,
nhai
trị
đau
răng;
hoa
giã
nát
nhét
vào
hốc
răng
bị
sâu.
Thành
phần
hóa
học:
Các
phân
chất
tại
Khoa
Dược,
ĐH
Sri
Ramachandra
(Tamil
Nadu,
Ấn
độ)
ghi
nhận
1g
dịch
chiết
chứa:
-
Phenol
tổng
cộng:
12-29mg
-
Alkaloid
tổng
cộng:
1
8-65mg
-
Flavonoids:
57-90mg
-
Tannins:
38-82mg
Hàm
lượng
các
hoạt
chất
thay
đổi
tùy
theo
dung
môi
dùng
khi
chiết
xuất:
Dịch
chiết
bằng
ethyl
acetate
cho
những
kết
quả
cao
nhất
như:
-
Phénol
tổng
cộng
29.43
-
Tannins
82.92
-
Alkaloids
65.34
-
Flavonoids
90.24
(Journal
of
Pharmacognosy
and
Phytochemistry
Số
2-2014)
Dịch
chiết
bằng
ethyl
acetate
có
hợp
chất
flavonol
4H-pyran-4one,
2,3-dihydro-3,5-dihydroxy-6-methyl
có
hoạt
tính
chống
sưng
rất
đáng
kể.
Nghiên
cứu
khoa
học:
Các
nghiên
cứu
khoa
học
về
Calanthe
triplicata
tập
trung
vào
hoạt
tính
chống
sưng
của
các
dịch
chiết
từ
toàn
cây
bằng
các
dung
môi
khác
nhau
bao
gồm
nước,
petroleum
ether,
chloroform,
ethyl
acetate,
methanol,
thử
nghiệm
về
khả
năng
an
định
màng
tế
bào
hồng
cầu
và
ức
chế
sự
suy
thoái
protein
ghi
nhận
khả
năng
chống
sưng
ở
những
nồng
độ
khác
nhau,
so
sánh
được
với
diclofenac
(dùng
làm
chuẩn).
Dịch
chiết
bằng
ethylacetate
(1000
microg/ml)
được
xác
nhận
là
có
hoạt
tính
mạnh
nhất
(Journal
of
Pharma
Research
Số
2,
2013).
Calanthe
vestita:
Củ
chuối
(PHH);
Bầu
rượu
tím
(TH).
Tên
tương
đương: Calanthe
grandifolia.
Tên Việt khác: Lan củ chuối, củ súng; Lan bầu rượu tím.
.png)
Mô
tả (VV
Chi):
"Cây
thảo
địa
sinh,
có
lông
nhung
mềm
ở
tất
cả
các
bộ
phận,
với
giả
hành
hình
cầu
dạng
củ
to
đến
6 x
4cm
mang
rễ
dài
và
dễ
bẻ
vỡ.
Lá
xuất
hiện
sau
khi
có
hoa,
phiến
dài
45cm
rộng
10-12cm,
dạng
mảng
rất
nhọn,
cuống
lá
dài
10cm,
dẹp.
Cần
hoa
cao
80cm,
mang
hoa
ở
10-13cm
về
phía
ngọn.
Hoa
trắng,
hồng
hay
hơi
tím.."
Lan
Rừng
VN:
A-Z có
thêm
những
chi
tiết:
"Địa
lan,
củ
hình
như
quả
bầu
nậm,
cao
6-8cm,
lá
3-4
chiếc
dài
30-40cm,
rụng
khi
nở
hoa.
Giò
hoa
cao
70-90cm
có
lông
mềm;
hoa
6-15
chiếc,
to
6-7cm,
nở
vào
mùa
Xuân.
Vùng
phân
bố: Myanmar,
Thái
lan,
Mã
lai,
Indonesia,
Việt
Nam
(vùng
Đồng
Nai:
Trị
an,
Djarai,
Chứa
Chan).
Cây
được
tổ
chức
CITES
xếp
vào
loại
giới
hạn
mua
bán
để
tránh
bị
tận
diệt.
Củ
dùng
giã
nát,
đắp
trị
đau
nhức
xương.
Calanthe
lyroglossa:
Kiều
lan
lưỡi
hình
đờn
(PHH),
Bầu
rượu
môi
đàn
(TH).
Tên
tương
đương: Calanthe
liukinensic
(tên
thường
dùng
trong
các
nghiên
cứu
khoa
học)
Calanthe
forsythifolia.
Alismorchis
lyroglossa.
Tên Trung Hoa: nan fang xia-ji lan (nan fang= nam phương).
.png)
Mô
tả (Lan
Rừng
VN:
A-Z) "Điạ
lan,
lá
mọc
sát
gốc,
dài
40cm,
rộng
6cm.
Giò
hoa
cao
45cm,
hoa
25-30
chiếc,
to
1cm,
có
hương
thơm,
nở
vào
mùa
Hè,
Thu".
Chi
tiết
bổ
túc
(Flora
of
China): Cây
cao
30-50cm,
Rễ
ngắn.
Giả
hành
thuôn
bầu
2-3cm.
Lá
3-5
chiếc,
không
rụng,
hình
dao
thuôn
dạng
mũi
giáo
30-60cm
(có
khi
đến
100)
x
3-8.5cm,
thô
nhám.
Hoa
nhỏ
màu
vàng
đổi
thành
đen
khi
héo.
Phân
bố: Dọc
ven
suối
trong
rừng
hay
thung
lũng,
cao
độ
dưới
1500m
tại
Đông-Bắc
Ấn,
Nhật,
Nam
Trung-Hoa
(Vân
Nam,
Hải
Nam)
Nhật,
Thái,
Đông
Dương
(Việt,
Miên,
Lào).
Tại
VN: Gặp
trong
vùng
Lai
châu,
Cao
bằng,
Lạng
Sơn,
đảo
Phú
Quốc.
Nghiên
cứu
khoa
học:
Cây
chứa
nhiều
hoạt
chất
phức
tạp
như
calanthoside
(loại
indol),
glucoindican,
calaliukiuenoside,
calaphenanthrenol;
ngoài
ra
còn
có
tryptanthrin,
indirubin,
isatin
và
indican.
Calanthoside
khi
bị
thủy
giải
bằng
men
beta-glucosidase
cho
tryptanthrin,
indirubin
và
isatin.
(indirubin
còn
gọi
là
indigo
red,
một
phẩm
màu
cũng
có
trong
cây
chàm:
indigofera
tinctoria).
Dịch
chiết
bằng
methanol
từ
Calanthe
liukinensic
và
Calanthe
discolor
cho
thấy
có
hoạt
tính
tái
tạo
sự
mọc
tóc
và
giúp
gia
tăng
sự
lưu
thông
của
máu
nơi
da.
(Chemical
&
Pharmaceutical
Bulletin
(Tokyo)
Số
46-1998).
Trypthanthrin,
một
alkaloid
loại
quinazoline,
được
ghi
nhận
là
có
khả
năng
ngăn
chặn
sự
tạo
nitric
oxide
và
prostaglandin
E2
nơi
tế
bào
macrophage
RAW
264.7.
Hoạt
tính
ngăn
chặn
này
có
thể
do
ức
chế
tiến
trình
tổng
hợp
NO
và
ức
chế
hoạt
động
của
men
cyclooxyganase.
Do
đó
trypthanthrin
có
khả
năng
được
dùng
làm
thuốc
chống
sưng.
Ngoài
ra
tryptanthrin
còn
có
hoạt
tính
diệt
vi
khuẩn
Helicobacter
pilori
khi
thử
cả
in
vitro
lẫn
in
vivo
nơi
chuột
bọ
gerbil
bị
gây
loét
bao
tử
khi
bị
cấy
vi
trùng
này
(NPR,
The
Royal
Society
of
Chemistry
Số
19-2002).
Vài
loài
Calanthe
dùng
làm
thuốc
khác
Ngoài
3
loài
Calanthe
kể
trên,
còn
có
những
loài
được
nghiên
cứu
về
hoạt
tính
trị
liệu
và
những
loài
được
dùng
trong
thuốc
dân
gian.
Calanthe
được
nghiên
cứu
khoa
học:
Calanthe arisanensis: (đặc hữu của Taiwan).
.png)
Những
hợp
chất
ly
trích
từ
cây
bằng
ethanol
như
Calaquinone
A, B
và C
(thuộc
loại
phenanthrenequinone);
Calanhydroquinones
A-C,
calanphenanthrenes
có
những
hoạt
tính
diệt
tế
bào
ung
thư
khi
thử
trong
ống
nghiệm
(in
vitro)
trên
các
dòng
tế
bào
ung
thư
phổi
(A
549),
ung
thư
nhiếp
hộ
tuyến
(PC-3
và
DU
145),
ruột
(HCT-8),
vú
(MCF7),
thanh
quản
(KB),
ung
thư
thanh
quản
đã
kháng
vincristine
(KB-VIN)
Liều
IC50
được
ghi
nhận
là <
0.5
microg/mL).
Điểm
đáng
chú
ý là
các
hợp
chất
trên
có
thể
giúp
cải
thiện
sự
kháng
thuốc
của
tế
bào
ung
thư
đối
với
thuốc
trị
ung
thư
paclitaxel
(Bioorganics
&
Medicinal
Chemistry
Letters
Số
18-2008).
Calanthe
dùng
làm
thuốc
tại
Ấn
độ:
.png)
Calanthe puberula = Kiều lan lá liềm, lan đất lá liềm, lan bầu rượu lông mềm.
.png)
Calanthe puberula
Rễ phơi khô, tán thành bột, uống với sữa để làm thuốc bổ và tráng dương.
Calanthe sylvatica = Kiều hoa rừng. Chang ju xia-ji lan (chang-du=trường cự).
Nước
chưng
cất
từ
hoa
dùng
đắp
và
nhỏ
mũi
trị
chảy
máu
cam.
.png)
Lá,
giả
nát
dùng
đắp
trị
lở
loét,
ezema
ngoài
da.
Củ
và
lá
sắc
làm
thuốc
bổ,
tráng
dương.
Calanthe
tại
Nhật:
Tại những vùng rừng có khí hậu ấm áp tại Nhật, một số loài Calanthe đã được tìm gặp và sau đó nuôi trồng, phát triển và lai tạo thành những cây trưng bầy rất được ưa chuộng. Hai cây quan trọng nhất là Calanthe discolor và Calanthe sieboldii, một cây thứ ba, loại lai tạo Calanthe x bicolor cũng được sưu tầm đến mức gần như bị tuyệt giống.
Calanthe discolor, thuộc loại không rụng lá. Giả hành thường mang 2 lá (có khi 4 lá) cỡ 10-30 X 5-10cm. Giả hành nhỏ nằm dưới đất, tròn và có nếp, mọc thành chuỗi liên tục, trông giống như lưng tôm (tên tại Nhật là ebine = rễ dạng tôm). Cần hoa cao 15-35cm, mang từ 5-20 hoa lớn chừng 3cm, hoa hai màu, môi thường trắng có những đốm tím.
.png)
Calanthe discolor thường gặp trong khu vực từ Kyushu xuống đến vùng Nam Hokkaido.
(Calanthe discolor cũng phân bố tại Trung Hoa và Korea. Một số dược tính được nghiên cứu chung với Calanthe liukinensis).
Calanthe sieboldii lớn hơn Calanthe discolor. Lá có hình dạng tương tự, to hơn có thể 15-40cm x 8-12cm. Cần hoa cao đến trên 45cm, mang 5 đến 25 hoa màu vàng cỡ 3-5cm., màu có thể vàng toàn diện đến vàng-chanh. Đài hoa và cánh hoa nhọn hơn Calanthe discolor; môi chia 3 thùy, thùy bên rộng, thùy giữa hơi có nếp xếp. Hoa có mùi thơm dịu. Cây thường gặp tại vùng Tây Nhật, trong khu vực Kyushu đến Honshu và tại Korea. Được xem là loài lan "tuyệt đẹp" tại Nhật, thích hợp với tên "Kiều hoa". Tên Tàu là da-huang hua xia-ji lan (đại hoàng hoa).
Calanthe bicolor là cây lai tạo tự nhiên giữa Calanthe sieboldii và Calanthe discolor, hình dạng rất giống với các cây "cha-mẹ", chỉ hơi khác biệt ở màu hoa. Hoa thường màu vàng nhạt và nâu-đỏ. Đài và cánh nâu đỏ, môi vàng nhạt và có khi gần như trắng hay có khi vàng sậm.
Tại Nhật, còn có loài Calanthe reflexa, nở hoa vào mùa Hè, cây được gọi là natsuebine (lan rễ lưng tôm mùa hè). Giả hành có 2-3 lá cỡ 15-25cm x 5-8cm. Giò hoa cao 35cm mang 6-25 hoa trắng có môi tím từ nhạt đến sậm.
.png)
Calanthe reflexa = Natsuebine
Trần Minh Quân
Tài liệu sử dụng:
- Lan Rừng VN: Từ A-Z (Bùi Xuân Đáng)
- Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ văn Chi)
- Flora of China: Calanthe
- Ethnopharmacology of Medicinal Plants Asia and the Pacific (Christophe Wiart).
- Medicinal Orchids (Ethnobotanical Leaflets)
- Medicinal orchids and their uses (Academic Journal)
- Plant Encyclopedia (botanyboy.org)
|