Trần Minh Quân

 

 

LAN KIỀU DIỄM  - PLEIONE
 

Trần Minh Quân

 

1699212648492blob.jpg

 

Lan Kiều Diễm = Pleione

        Chi Lan Pleione là một chi lan nhỏ chỉ gồm khoảng trên 20 loài, đa số thuộc loại địa lan, nhưng cũng có loài thuộc phong lan và thạch lan. Pleione phân bố trong những khu vực núi và chân núi Hy mã lạp sơn, Tây tạng, Ấn độ, Nepal, Bhutan, Bangladesh, Miến điện, Trung Hoa, Thái, Lào và Việt Nam.  
 

        Pleione trước đây được xếp vào tông Coelogynae rồi trong tông phụ Coelogyniae và tông phụ này chia thành 3 loài Pholidota (Tục đoạn), Coelogyne (Thanh đạm) và Dendrochitum. Pleione được xem là Coelogyne, nhưng sau đó được các nhà nghiên cứu về lan tách riêng thành một chi lan riêng rẽ.


        Pleione được gọi theo Anh ngữ, là Peacock orchid, còn có những tên như ‘Glory of the East’, Himalayan crocus, Indian crocus, Windowsill orchid.. Tên Indian crocus là do cây trổ hoa vào những mùa Thu và Đông, tương tự như những cây Crocus (Anh).  

        Nhà nghiên cứu Bùi Xuân Đáng trong ‘Lan rừng VN : A-Z’ ghi nhận:
 

       “Trên thế giới có 16 giống, Việt Nam có 5 giống, và cả 5 giống này đều chưa có tên Việt (?). Trong 5 loài đuợc liệt kê có cả loài ‘lai tạo tự nhiên ’ (Pleione X barbarae) và loài ‘đặc hữu’ của Việt Nam (Pleione vietnamensis). TS Võ văn Chi trong "Sách Tra cứu tên Cây cỏ Việt Nam" (trang 420) ghi tên Pleione là lan kiều diễm. TS Chi chỉ liệt kê 2 loài gồm Pleione bulbocodiodes và Pleione praecox..

 

                            1699213494846blob.jpg

                   Pleione vietnamensis = Pleione X barbarae

       Flora of China ghi nhận: Thế giới có khoảng 26 loài, trong đó Tàu có 23 loài (?) và gọi chung là du-suan lan = Độc toán lan  (độc= chỉ có một; toán= củ, củ tỏi).

       Tên Pleione phát xuất từ Truyện thần thoại Hy lạp: Pleione là vợ của thần Atlas và là mẹ của những thần Pleiades.

       Việc phân loại lan Pleione về phương diện thực vật còn nhiều phức tạp vì chưa được các nhà nghiên cứu đồng thuận. Tuy chi lan Pleione rất dễ phân biệt với những chi lan khác và khó nhầm nhưng những tiến trình tiến hóa biến đổi về gènes lại chưa rõ rệt (Pleione được trồng phổ biến, ngoài những loài lai tạo tự nhiên còn có trên 150 loài lai tạo nhân tạo).

       Đến nay đã có 4 đề nghị phân loại Pleione:
 

             - Pfitzer (1907) chia thành 2 nhóm: 

                          Pleione và Dictypleione.


             - Torelli và Riccaboni (1998) phân biệt các loài phụ:
                          Dictyopleine, Saxicola,Scopulorum và Pleione.

             Từ Pleione lại chia tiếp thành 3 nhóm:
                          Bulbocoiodes, Hookerianae và Pleione.

             - Zhu và Chen (1998) chia thành:
                           Humiles và Pleione.

             - Torelli (2000) đề nghị 4 loài phụ:
                            Pleione, Saxicolae, Scopulorum và Humiles.

             Trong loài phụ Humiles có 3 nhóm:  
                            Bulbocoides, Hookerianae và Humiles.

        Các sự phân chia trên dựa theo một số đặc điểm thực vật bên ngoài như thời gian hoa nở, hình dạng giả hành, số lá, kích thước của hoa, loại vảy.. và không dựa trên các yếu tố di truyền. Đa số lan Pleione có thể xác định rõ ràng, riêng Pleione bulbocodioides là loài gây rắc rối nhất, có khi tách riêng như B. delanyi, rồi lại nhập chung, xem như đồng danh. Năm loài lai tạo tự nhiên cũng chưa được xác nhận rõ rệt, nhất là những loài lai tạo từ Pleione bulbocodioides. Các nhà nghiên cứu hiện đang tìm hiểu thêm dựa trên các tiêu chuẩn di truyền học như DNA, các sắp xếp thứ tự của plastid trnT-trnL trong gènes..(Systematic Botany Số 29-2004).  

 

                              1699281221343blob.jpg
 

                                             Pleione bulbocodioides
 

        Từ những phân loại ‘thu hẹp’ này, rất có thể Pleione  sẽ chỉ còn lại 10 loài chính và sau đó chia thêm thành những loại phụ khác nhau (Dutch Orchid Society-Orchitheek).

    * Đặc điểm chung:
 

        Pleione có một số đặc điểm chung như đa số mọc dưới đất, đôi khi cọng sinh hoặc mọc trên đá, thường rụng lá và có các giả hành phát triển, tròn hoặc hình chóp với một lá (có khi 2) nhỏ hình trái soan, có nhiều gân dài 15-30cm Chỉ có một hoa to, nhưng đôi khi cũng có hai hoa nhỏ hơn mọc trên một cành thon, nhỏ xuất phát từ một mầm mới phát triển khi cây còn non. Hoa có kích thước lớn so với thân cây và ít thay đổi về hình dáng. Thông thường hoa có những đài hoa và cánh hoa hẹp, chiều dài cánh gần như bằng nhau; cánh môi phát triển lớn hơn, có mép nhăn, hình dáng loa như kèn. Màu sắc thay đổi từ trắng tuyền đến màu hồng bóng và màu hoa cà phớt tím. Rất hiếm khi có hoa vàng (có thể gặp trong nhóm lai tạo với P.forrestii). Những cây lai tạo có hoa khá lớn đến 10cm.

                                            1699286054980blob.jpg
 

                                                Pleione Shantung

       Lan Pleiones được chia thành 2 nhóm tùy thời gian ra hoa: Nhóm ra hoa vào mùa Xuân (thường là lan rừng vùng khí hậu lạnh) và nhóm ra hoa mùa Thu (thường lan tại khu vực ấm áp).. Hoa chỉ kéo dài khoảng 10 ngày, sau đó rễ mới xuất hiện và cây tiếp tục tăng trưởng đến khi các giả hành hoàn tất (trong suốt mùa Hè), khi gần vào Thu, lá chuyển sang màu vàng và sau đó sẽ rụng. Giả hành chỉ tồn tại trong 2 năm .  

       Pleiones là loài thích hợp với thời tiết lạnh, chịu được cả tuyết giá, mọc trên môi trường khô, thoáng nước hay đá có rêu ở cao độ 600-4200m.

       Lan Pleione được xếp vào loài dễ trồng, dễ nhân giống, lai tạo và khá được ưa chuộng. Lan được lai tạo rất nhiều. Một số loài lai tạo nổi tiếng, được giải thuởng của Royal Horticulture Society như:

              - Pleione Shantung grex "Muriel Harberd"

              -  Pleione Versailles grex "Bucklebury"

 

1699214328873blob.jpg  1699214402642blob.jpg
 

Pleione Shantung grex "Muriel Harberd"/ Pleione Versailles grex "Bucklebury"

 

       Một vài loài nổi tiếng được giới sưu tầm ưa thích như:
 

              - Pleione formosana với những chủng trồng như Pleione formosana var. alba, hoa trắng nở vào đầu mùa Xuân.

 

   1699220110797blob.jpg  1699220250347blob.jpg
 

     Pleione formosana   -   Pleione formosana var. alba

              - Pleione speciosa gốc từ Trung Hoa. Hoa màu hoa cà có những khoang vàng ở giữa cánh môi ngang chừng 5cm, cành hoa không cao hon 15cm.

 * Pleione tại Việt Nam:


        Theo Lan Rừng VN: A-Z, Việt Nam có những loài:
 

             - Pleione x barbarae: lai tạo tự nhiên giữa Pleione bulbocodioides x Pleione grandiflora.

 

                                             1699282173841blob.jpg
 

                                              Pleione Natural Hybrids

        Lan rất nhỏ, củ cao 2-3cm. Hoa 1 chiếc, cuống ngắn 3-4cm, nở vào mùa Xuân.

            - Pleione grandiflora: (đồng danh: Coelogyne grandiflora)
 

        Thạch lan, củ màu xanh cao 3-4.5cm, ngang 1.2-1.5cm. Hoa 1 chiếc màu hồng tím hay trắng to 10cm, nở vào mùa Xuân.

 

                                  1699281788017blob.jpg
 

                                                  Pleione grandiflora
 

           - Pleione maculata: (đồng danh Coelogyne maculata..)

        Địa lan hay thạch lan, củ to 1-3cm. Lá 2 chiếc. Hoa 1 chiếc, to 4-5cm, nở vào Thu.

                                              1699282529061blob.jpg
 

                                                     Pleione maculata
 

          - Pleione praecox: Lan kiều diễm sớm (VvChi)

       Tên Tàu: You qiao du suan lan (Vưu sáo độc toán lan = Vuu = có mụt, mụn; sáo = vỏ).

       Phong lan hay thạch lan. Lá 2 chiếc. Hoa 1 chiếc to 7-10cm, nở vào mùa Xuân.
 

                                            1699282793068blob.jpg
 

                                                           Pleione praecox  

 

        Flora of China mô tả thêm: Giả hành màu xanh, có những đốm tím nhạt 1.5-4 x 1-2.3cm. Lá 1, đôi khi 2, hình mũi giáo thuôn 9-20 x 1.7-6.7cm. Chồi hoa mọc ra sau khi cây rụng lá, thẳng 5-10cm. Hoa đơn độc, rất hiếm khi có 2 hoa. Hoa to màu hồng đến đỏ tím, hiếm khi màu trắng. Môi có đốm tím.

        Ngoài ra còn một loài đặc hữu, tìm được tại vùng núi Ngọc Linh, giáp giới Kontum và Quảng Nam (cao độ 2500m) được đặt tên là Pleione ngoclinhensis = Pleione vietnamensis.

 

                               1699283404616blob.jpg
 

              Pleione ngoclinhensis = Pleione vietnamensis        
 

* Pleione có dược tính tại những nơi khác:

        Một số loài Pleione có dược tính, không gặp tại Việt Nam. Pleione bulbocodioides là loài được nghiên cứu nhiều nhất tại Trung Hoa.

     - Pleione bulbocodioides:

       Những tên tương đương: Pleione limprichtii, Pleione formosana, Pleione pricei.. Pleione delavayi..

       (Các nhà nghiên cứu chưa hoàn toàn đồng thuận, tách riêng từng loài do đó Pleione limprichtii còn có tên là Hardy Chinese Orchid; Pleione formosana =Taiwan Pleione..)

        Mô tả (Flora of Chiana): Địa lan hay thạch lan.

            - Giả hành hình trứng hay trứng-nón, có cổ thuôn rõ 1-2.5cm x 1-2cm.

            - Lá: 1, phát triển sau khi ra hoa, hình mũi giáo thuôn, hẹp 10-25 x 2-5.8cm.

            - Hoa đơn độc, rất hiếm khi có 2 hoa;  màu hồng, tím nhạt có những đốm tím sậm trên môi.

            - Phân  bố tại Bắc Trung Hoa (An Huy, Phúc Kiến..) xuống đến Tứ Xuyên,Vân Nam.  

       Dược học dân gian Tàu dùng rễ và giả hành phơi khô làm thuốc sắc trị ho lao, suyễn. Cây tươi giã nát đắp trị ung nhọt và rắn cắn.

                                               1699284599325blob.jpg
 

                                                    Pleione bulbocodioides

 

Pleiones khác:

       - Pleione humilis và Pleione praecox:
 

         Giả hành phơi khô, tán thành bột dùng làm thuốc bổ. Củ tươi giã nát đắp vết thương khi bị đứt tay, té ngã..

 

    1699284789941blob.jpg 1699284980873blob.jpg
 

                               Pleione humilis và Pleione praecox      
 

       - Pleione maculata: Rễ dùng trị bệnh gan và bao tử.

* Duợc tính và Nghiên cứu khoa học:

       - Thành phần hóa học của Pleione bulbocodioides:

       * Củ (căn hành) chứa:  

            - những hợp chất phenolic

            - những phenanthrofurans như shanciol G, shanciol H  

            - những stilbenoids.

       * Rễ:

            - Khi trích bằng ethyl acetate cho 9 hợp chất gồm: amentoflavone, kayaflavone, gymco nopin D, methyl (4-OH) phenyl acetate, p-hydroxy-benzaldehyde, p-hydroxybenzoic acid, 4-oxopentanoic acid, p-dihydroxy benzene, gastro dine..

           - Trích bằng thanol 95% , sau đó dùng sắc ký trong phần ethylated ly trích được những phenanthrenes, dihydrophenanthrenes, biphenyls, lignans và sterol.

Thành phần trong Pleione yunnanensis:

          - Củ chứa 9 chất chuyển hoá loại bibenzyl nhu shancigusins A đến D, E đến I.  
             (shancigusins E đến I là những glycosides)  

          - Theo Christopher Wiart (Medicinal Plants of China, Korea and Japan): Lusianthridin và coelonin trong cây có tác dụng ức chế sự tạo nitric oxide của đại thực bào RAW264.7 (xin xem bài lan Coelogyne).

         -  Coelonin đang được nghiên cứu về khả năng làm chậm sự lão hóa của tế bào da và tác động ngăn chặn sự tăng trưởng của các mycobacterium (kể cả vi trùng lao).

* Shan-ci-gu?

          Dược học cổ truyền Tàu có ghi vị thuốc Shan-ci-gu = Sơn từ cô (Santsigu).

          Vị thuốc được ghi chép từ lâu đời trong Thái bảo bản thảo, tên Sơn từ cô do hình dạng của củ giống như một ‘ni cô nhân từ‘)

          Shan-ci-gu có thể từ những cây lan khác nhau:

            - Pleione bulbocoiodes.

            - Pleione yunnanensis.

            - Cremastra appendiculata.

         Điểm cần lưu ý là Pleione và Cremastra là 2 chi lan khác biệt, đồng thời có thành phần hoạt chất khác nhau. (xin xem bài viết riêng về lan Cremastra).


         Tên Ci-gu (Từ cô) theo TCM Assistant được dùng để gọi những cây:

               - Shan ci-gu = Pleione  bulbocodioides

               - Mao ci-gu (Mao-từ cô) = Cremastra

               - Guang ci-gu = (Quang từ cô) Tulipa edulis , họ Liliacea.

        Ngoài ra một cây khác: Iphigenia indica (Cao bei mu = Thảo bối mẫu), họ Liliaceae) cũng được xem như Ci-gu!


 

                                1699285485595blob.jpg

        Vị thuốc được thu hái vào thời gian từ cuối mùa Hè đến đầu mùa Thu, bỏ phần khí sinh, nhúng nước sôi và sau đó phơi khô. Vị thuốc được xem là ngọt/ hơi cay; tính Hàn có độc, tác động vào những kinh mạch thuộc Can, Tỳ, Vị và Thận.

        Do các tác động: Hạ Nhiệt, Thải độc, phá ứ, tan viêm, thuốc được dùng trị các chứng ung nhọt, trừ độc và rắn cắn.

        Các sách viết về Dược liệu của Trung Hoa (hiện đại) như:

             - Oriental Materia Medica (Hong-Yen Hsu)

             - Medicinal Plants of China (J. Duke & Ed, Ayensu)

         Đã liệt kê thành phần hóa học của Shan-ci-gu không phân biệt từng cây, tuy mỗi cây có những thành phần hóa học khác hẳn nhau: Tulipine, colchicines (gồm những chất chuyển hóa khác như isocolchicine, beta-lumicolchicine..)  chỉ có trong Tulipa edulis, Iphigenia indica. Pleione hoàn toàn không có những chất này..

         Do đó những thử nghiệm trị liệu dùng colchicines trong Shan-ci-gu..không thể được xem là hoạt tính của Pleiones! (Clinical Chinese Materia medica (Weng Weiliang).

         (Colchicine amide ly trích từ Iphigenia indica và Tulipa edulis có một số hoạt tính diệt tế bào ung thư khi thử trong ống nghiệm, trên các dòng tế bào S-130, 537, tế bào ung thư gan, SAK, ung thư lymph sarcoma nơi chuột và W256.  Từ 1970, colchicines amide đã được dùng làm thuốc tiền trị cho những bệnh nhân ung thư vú, sẽ đuợc tiếp tục trị liệu sau đó bằng hóa chất tại BV Tianjin (Trung Hoa). Các chế phẩm dùng colchicines cho thấy có ảnh hưởng tốt trên các dạng ung thư vú loại adenofibroma và dạng desmoids, làm thu hẹp các mô tế bào sợi, làm teo bướu..) (Medicinal Plants of China- J. Duke).

        Những phương thuốc trong thành phần có Shan-ci-gu dùng để trị những bệnh về gan có lẽ cũng dùng dược liệu từ Tulipa và Iphigenia.  

        Fu fang Shan-ci-gu Pian (Phụ phương Sơn từ cô phiến) gồm Sơn từ cô, Đỗ trọng, Xuyên Sơn giáp..) được dùng tại những Bệnh viện Trung Hoa để trị sưng gan, ung thư gan.. dựa trên khả năng trị liệu của colchicines).

                                                

Trần Minh Quân  7/2014

 
 
Tài liệu sử dụng:

          - Lan rừng VN: A-Z (Bùi Xuân Đáng)

          - Flora of China: Pleione

          - Oriental Materia Medica (Hong-Yen Hsu)

          - Medicinal Plants of China, Korea and Japan (Christopher Wiart)

 

 

 

 

Trở Về Trang Chính