|
|
Trần Minh Quân
.png)
Lan
Kiều Diễm = Pleione
Chi Lan
Pleione
là một
chi lan
nhỏ chỉ
gồm
khoảng
trên 20
loài, đa
số thuộc
loại địa
lan,
nhưng
cũng có
loài
thuộc
phong
lan và
thạch
lan.
Pleione
phân bố
trong
những
khu vực
núi và
chân núi
Hy mã
lạp sơn,
Tây tạng,
Ấn độ,
Nepal,
Bhutan,
Bangladesh,
Miến
điện,
Trung
Hoa,
Thái,
Lào và
Việt
Nam.
Pleione
trước
đây
được
xếp
vào
tông
Coelogynae
rồi
trong
tông
phụ
Coelogyniae
và
tông
phụ
này
chia
thành
3
loài
Pholidota
(Tục
đoạn),
Coelogyne
(Thanh
đạm)
và
Dendrochitum.
Pleione
được
xem
là
Coelogyne,
nhưng
sau
đó
được
các
nhà
nghiên
cứu
về
lan
tách
riêng
thành
một
chi
lan
riêng
rẽ.
Pleione
được gọi
theo Anh
ngữ, là Peacock
orchid,
còn có
những
tên như
‘Glory
of the
East’,
Himalayan
crocus,
Indian
crocus,
Windowsill
orchid..
Tên
Indian
crocus
là do
cây trổ
hoa vào
những
mùa Thu
và Đông,
tương tự
như
những
cây
Crocus (Anh).
Nhà
nghiên
cứu Bùi
Xuân
Đáng
trong
‘Lan
rừng VN
: A-Z’
ghi nhận:
“Trên
thế
giới
có
16
giống,
Việt
Nam
có 5
giống,
và
cả 5
giống
này
đều
chưa
có
tên
Việt
(?).
Trong
5
loài
đuợc
liệt
kê
có
cả
loài
‘lai
tạo
tự
nhiên
’ (Pleione
X
barbarae)
và
loài
‘đặc
hữu’
của
Việt
Nam
(Pleione
vietnamensis).
TS
Võ
văn
Chi
trong
"Sách
Tra
cứu
tên
Cây
cỏ
Việt
Nam"
(trang
420)
ghi
tên
Pleione
là lan
kiều
diễm.
TS
Chi
chỉ
liệt
kê 2
loài
gồm
Pleione
bulbocodiodes
và
Pleione
praecox..
Pleione
vietnamensis
= Pleione
X
barbarae
Flora of
China
ghi nhận:
Thế giới
có
khoảng
26 loài,
trong đó
Tàu có
23 loài
(?) và
gọi
chung là
du-suan
lan =
Độc toán
lan (độc=
chỉ có
một;
toán= củ,
củ tỏi).
Tên
Pleione
phát
xuất từ
Truyện
thần
thoại Hy
lạp:
Pleione
là vợ
của thần
Atlas và
là mẹ
của
những
thần
Pleiades.
Việc
phân
loại lan
Pleione
về
phương
diện
thực vật
còn
nhiều
phức tạp
vì chưa
được các
nhà
nghiên
cứu đồng
thuận.
Tuy chi
lan
Pleione
rất dễ
phân
biệt với
những
chi lan
khác và
khó nhầm
nhưng
những
tiến
trình
tiến hóa
biến đổi
về gènes
lại chưa
rõ rệt (Pleione
được
trồng
phổ biến,
ngoài
những
loài lai
tạo tự
nhiên
còn có
trên 150
loài lai
tạo nhân
tạo).
Đến nay
đã có 4
đề nghị
phân
loại
Pleione:
-
Pfitzer
(1907)
chia
thành
2
nhóm:
-
Torelli
và
Riccaboni
(1998)
phân
biệt các
loài phụ:
Dictyopleine,
Saxicola,Scopulorum
và
Pleione.
Từ
Pleione
lại chia
tiếp
thành 3
nhóm:
Bulbocoiodes,
Hookerianae
và
Pleione.
- Zhu và
Chen
(1998)
chia
thành:
Humiles
và
Pleione.
-
Torelli
(2000)
đề nghị
4 loài
phụ:
Pleione,
Saxicolae,
Scopulorum
và
Humiles.
Trong
loài phụ
Humiles
có 3
nhóm:
Bulbocoides,
Hookerianae
và
Humiles.
Các
sự
phân
chia
trên
dựa
theo
một
số
đặc
điểm
thực
vật
bên
ngoài
như
thời
gian
hoa
nở,
hình
dạng
giả
hành,
số
lá,
kích
thước
của
hoa,
loại
vảy..
và
không
dựa
trên
các
yếu
tố
di
truyền.
Đa
số
lan
Pleione
có
thể
xác
định
rõ
ràng,
riêng Pleione
bulbocodioides là
loài
gây
rắc
rối
nhất,
có
khi
tách
riêng
như
B.
delanyi,
rồi
lại
nhập
chung,
xem
như
đồng
danh.
Năm
loài
lai
tạo
tự
nhiên
cũng
chưa
được
xác
nhận
rõ
rệt,
nhất
là
những
loài
lai
tạo
từ
Pleione
bulbocodioides.
Các
nhà
nghiên
cứu
hiện
đang
tìm
hiểu
thêm
dựa
trên
các
tiêu
chuẩn
di
truyền
học
như
DNA,
các
sắp
xếp
thứ
tự
của
plastid
trnT-trnL
trong
gènes..(Systematic
Botany
Số
29-2004).
.png)
Từ những
phân
loại
‘thu hẹp’
này, rất
có thể
Pleione
sẽ chỉ
còn lại
10 loài
chính và
sau đó
chia
thêm
thành
những
loại phụ
khác
nhau
(Dutch
Orchid
Society-Orchitheek).
*
Đặc điểm
chung:
Pleione
có
một
số
đặc
điểm
chung
như
đa
số
mọc
dưới
đất,
đôi
khi
cọng
sinh
hoặc
mọc
trên
đá,
thường
rụng
lá
và
có
các
giả
hành
phát
triển,
tròn
hoặc
hình
chóp
với
một
lá (có
khi
2)
nhỏ
hình
trái
soan,
có
nhiều
gân
dài
15-30cm
Chỉ
có
một
hoa
to,
nhưng
đôi
khi
cũng
có
hai
hoa
nhỏ
hơn
mọc
trên
một
cành
thon,
nhỏ
xuất
phát
từ
một
mầm
mới
phát
triển
khi
cây
còn
non.
Hoa
có
kích
thước
lớn
so
với
thân
cây
và
ít
thay
đổi
về
hình
dáng.
Thông
thường
hoa
có
những
đài
hoa
và
cánh
hoa
hẹp,
chiều
dài
cánh
gần
như
bằng
nhau;
cánh
môi
phát
triển
lớn
hơn,
có
mép
nhăn,
hình
dáng
loa
như
kèn.
Màu
sắc
thay
đổi
từ
trắng
tuyền
đến
màu
hồng
bóng
và
màu
hoa
cà
phớt
tím.
Rất
hiếm
khi
có
hoa
vàng
(có
thể
gặp
trong
nhóm
lai
tạo
với
P.forrestii).
Những
cây
lai
tạo
có
hoa
khá
lớn
đến
10cm.
.png)
Lan
Pleiones
được
chia
thành 2
nhóm tùy
thời
gian ra
hoa: Nhóm
ra hoa
vào mùa
Xuân (thường
là lan
rừng
vùng khí
hậu lạnh)
và nhóm
ra hoa
mùa Thu
(thường
lan tại
khu vực
ấm áp)..
Hoa chỉ
kéo dài
khoảng
10 ngày,
sau đó
rễ mới
xuất
hiện và
cây tiếp
tục tăng
trưởng
đến khi
các giả
hành
hoàn tất
(trong
suốt mùa
Hè), khi
gần vào
Thu, lá
chuyển
sang màu
vàng và
sau đó
sẽ rụng.
Giả hành
chỉ tồn
tại
trong 2
năm .
Pleiones
là loài
thích
hợp với
thời
tiết
lạnh,
chịu
được cả
tuyết
giá, mọc
trên môi
trường
khô,
thoáng
nước hay
đá có
rêu ở
cao độ
600-4200m.
Lan
Pleione
được xếp
vào loài
dễ trồng,
dễ nhân
giống,
lai tạo
và khá
được ưa
chuộng.
Lan được
lai tạo
rất
nhiều.
Một số
loài lai
tạo nổi
tiếng,
được
giải
thuởng
của
Royal
Horticulture
Society
như:
-
Pleione
Shantung
grex
"Muriel
Harberd"
-
Pleione
Versailles grex
"Bucklebury"
Pleione
Shantung
grex
"Muriel
Harberd"/ Pleione
Versailles grex
"Bucklebury"
Một vài
loài nổi
tiếng
được
giới sưu
tầm ưa
thích
như:
-
Pleione
formosana với
những
chủng
trồng
như
Pleione
formosana
var.
alba,
hoa
trắng
nở
vào
đầu
mùa
Xuân.
.png)
Pleione
formosana
- Pleione
formosana var.
alba
-
Pleione
speciosa gốc
từ Trung
Hoa. Hoa
màu hoa
cà có
những
khoang
vàng ở
giữa
cánh môi
ngang
chừng
5cm,
cành hoa
không
cao hon
15cm.
*
Pleione
tại Việt
Nam:
Theo Lan
Rừng VN:
A-Z,
Việt Nam
có những
loài:
-
Pleione
x
barbarae: lai
tạo
tự
nhiên
giữa
Pleione
bulbocodioides
x
Pleione
grandiflora.
Lan rất
nhỏ, củ
cao
2-3cm.
Hoa 1
chiếc,
cuống
ngắn
3-4cm,
nở vào
mùa Xuân.
-
Pleione
grandiflora: (đồng
danh:
Coelogyne
grandiflora)
Thạch
lan,
củ
màu
xanh
cao
3-4.5cm,
ngang
1.2-1.5cm.
Hoa
1
chiếc
màu
hồng
tím
hay
trắng
to
10cm,
nở
vào
mùa
Xuân.
-
Pleione
maculata: (đồng
danh
Coelogyne
maculata..)
Địa
lan
hay
thạch
lan,
củ
to
1-3cm.
Lá 2
chiếc.
Hoa
1
chiếc,
to
4-5cm,
nở
vào
Thu.
-
Pleione
praecox: Lan
kiều
diễm sớm
(VvChi)
Tên Tàu:
You qiao
du suan
lan (Vưu
sáo độc
toán lan
= Vuu =
có mụt,
mụn; sáo
= vỏ).
Phong
lan
hay
thạch
lan.
Lá 2
chiếc.
Hoa
1
chiếc
to
7-10cm,
nở
vào
mùa
Xuân.
Flora
of China
mô tả
thêm: Giả
hành màu
xanh, có
những
đốm tím
nhạt
1.5-4 x
1-2.3cm.
Lá 1,
đôi khi
2, hình
mũi giáo
thuôn
9-20 x
1.7-6.7cm.
Chồi hoa
mọc ra
sau khi
cây rụng
lá,
thẳng
5-10cm.
Hoa đơn
độc, rất
hiếm khi
có 2 hoa.
Hoa to
màu hồng
đến đỏ
tím,
hiếm khi
màu
trắng.
Môi có
đốm tím.
Ngoài
ra
còn
một
loài
đặc
hữu,
tìm
được
tại
vùng
núi
Ngọc
Linh,
giáp
giới
Kontum
và
Quảng
Nam
(cao
độ
2500m)
được
đặt
tên
là Pleione
ngoclinhensis =
Pleione
vietnamensis.
.png)
Pleione
ngoclinhensis =
Pleione
vietnamensis
*
Pleione
có dược
tính tại
những
nơi khác:
Một số
loài
Pleione
có dược
tính,
không
gặp tại
Việt
Nam.
Pleione
bulbocodioides
là loài
được
nghiên
cứu
nhiều
nhất tại
Trung
Hoa.
-
Pleione
bulbocodioides:
Những
tên
tương
đương: Pleione
limprichtii,
Pleione
formosana,
Pleione
pricei..
Pleione
delavayi..
(Các
nhà
nghiên
cứu chưa
hoàn
toàn
đồng
thuận,
tách
riêng
từng
loài do
đó
Pleione
limprichtii
còn có
tên là
Hardy
Chinese
Orchid;
Pleione
formosana
=Taiwan
Pleione..)
Mô tả (Flora
of
Chiana):
Địa lan
hay
thạch
lan.
- Giả
hành
hình
trứng
hay
trứng-nón,
có cổ
thuôn rõ
1-2.5cm
x 1-2cm.
- Lá: 1,
phát
triển
sau khi
ra hoa,
hình mũi
giáo
thuôn,
hẹp
10-25 x
2-5.8cm.
- Hoa
đơn độc,
rất hiếm
khi có 2
hoa;
màu hồng,
tím nhạt
có những
đốm tím
sậm trên
môi.
- Phân
bố tại
Bắc
Trung
Hoa (An
Huy,
Phúc
Kiến..)
xuống
đến Tứ
Xuyên,Vân
Nam.
Dược
học
dân
gian
Tàu
dùng
rễ
và
giả
hành
phơi
khô
làm
thuốc
sắc
trị
ho
lao,
suyễn.
Cây
tươi
giã
nát
đắp
trị
ung
nhọt
và
rắn
cắn.
.png)
Pleiones
khác:
-
Pleione
humilis
và
Pleione
praecox:
Giả
hành
phơi
khô,
tán
thành
bột
dùng
làm
thuốc
bổ.
Củ
tươi
giã
nát
đắp
vết
thương
khi
bị
đứt
tay,
té
ngã..
.png)
Pleione
humilis
và
Pleione
praecox
-
Pleione
maculata: Rễ
dùng trị
bệnh gan
và bao
tử.
*
Duợc
tính và
Nghiên
cứu khoa
học:
-
Thành
phần hóa
học của
Pleione
bulbocodioides:
* Củ (căn
hành)
chứa:
- những
hợp chất
phenolic
- những
phenanthrofurans
như
shanciol
G,
shanciol
H
- những
stilbenoids.
*
Rễ:
- Khi
trích
bằng
ethyl
acetate
cho 9
hợp chất
gồm:
amentoflavone,
kayaflavone,
gymco
nopin D,
methyl
(4-OH)
phenyl
acetate,
p-hydroxy-benzaldehyde,
p-hydroxybenzoic
acid,
4-oxopentanoic
acid, p-dihydroxy
benzene,
gastro
dine..
- Trích
bằng
thanol
95% ,
sau đó
dùng sắc
ký trong
phần
ethylated
ly trích
được
những
phenanthrenes,
dihydrophenanthrenes,
biphenyls,
lignans
và
sterol.
Thành
phần
trong
Pleione
yunnanensis:
- Củ
chứa 9
chất
chuyển
hoá loại
bibenzyl
nhu
shancigusins
A đến D,
E đến I.
(shancigusins
E đến I
là những
glycosides)
- Theo
Christopher
Wiart
(Medicinal
Plants
of
China,
Korea
and
Japan):
Lusianthridin
và
coelonin
trong
cây có
tác dụng
ức chế
sự tạo
nitric
oxide
của đại
thực bào
RAW264.7
(xin xem
bài lan
Coelogyne).
-
Coelonin
đang
được
nghiên
cứu về
khả năng
làm chậm
sự lão
hóa của
tế bào
da và
tác động
ngăn
chặn sự
tăng
trưởng
của các
mycobacterium
(kể cả
vi trùng
lao).
*
Shan-ci-gu?
Dược học
cổ
truyền
Tàu có
ghi vị
thuốc
Shan-ci-gu
= Sơn từ
cô (Santsigu).
Vị thuốc
được ghi
chép từ
lâu đời
trong
Thái bảo
bản thảo,
tên Sơn
từ cô do
hình
dạng của
củ giống
như một
‘ni cô
nhân từ‘)
Shan-ci-gu
có thể
từ những
cây lan
khác
nhau:
-
Pleione
bulbocoiodes.
-
Pleione
yunnanensis.
-
Cremastra
appendiculata.
Điểm
cần
lưu
ý là
Pleione
và
Cremastra
là 2
chi
lan
khác
biệt,
đồng
thời
có
thành
phần
hoạt
chất
khác
nhau.
(xin
xem
bài
viết
riêng
về
lan
Cremastra).
Tên
Ci-gu (Từ
cô) theo
TCM
Assistant
được
dùng để
gọi
những
cây:
- Shan
ci-gu =
Pleione
bulbocodioides
- Mao
ci-gu
(Mao-từ
cô) =
Cremastra
- Guang
ci-gu =
(Quang
từ cô)
Tulipa
edulis ,
họ
Liliacea.
Ngoài
ra
một
cây
khác: Iphigenia
indica (Cao
bei
mu =
Thảo
bối
mẫu),
họ
Liliaceae)
cũng
được
xem
như
Ci-gu!
.png)
Vị thuốc
được thu
hái vào
thời
gian từ
cuối mùa
Hè đến
đầu mùa
Thu, bỏ
phần khí
sinh,
nhúng
nước sôi
và sau
đó phơi
khô. Vị
thuốc
được xem
là ngọt/
hơi cay;
tính Hàn
có độc,
tác động
vào
những
kinh
mạch
thuộc
Can, Tỳ,
Vị và
Thận.
Do các
tác động:
Hạ Nhiệt,
Thải độc,
phá ứ,
tan viêm,
thuốc
được
dùng trị
các
chứng
ung nhọt,
trừ độc
và rắn
cắn.
Các sách
viết về
Dược
liệu của
Trung
Hoa (hiện
đại) như:
-
Oriental
Materia
Medica
(Hong-Yen
Hsu)
-
Medicinal
Plants
of China
(J. Duke
& Ed,
Ayensu)
Đã liệt
kê thành
phần hóa
học của
Shan-ci-gu
không
phân
biệt
từng cây,
tuy mỗi
cây có
những
thành
phần hóa
học khác
hẳn nhau:
Tulipine,
colchicines
(gồm
những
chất
chuyển
hóa khác
như
isocolchicine,
beta-lumicolchicine..)
chỉ có
trong
Tulipa
edulis,
Iphigenia
indica.
Pleione
hoàn
toàn
không có
những
chất này..
Do đó
những
thử
nghiệm
trị liệu
dùng
colchicines
trong
Shan-ci-gu..không
thể được
xem là
hoạt
tính của
Pleiones!
(Clinical
Chinese
Materia
medica (Weng
Weiliang).
(Colchicine
amide ly
trích từ
Iphigenia
indica
và
Tulipa
edulis
có một
số hoạt
tính
diệt tế
bào ung
thư khi
thử
trong
ống
nghiệm,
trên các
dòng tế
bào
S-130,
537, tế
bào ung
thư gan,
SAK, ung
thư
lymph
sarcoma
nơi
chuột và
W256.
Từ 1970,
colchicines
amide đã
được
dùng làm
thuốc
tiền trị
cho
những
bệnh
nhân ung
thư vú,
sẽ đuợc
tiếp tục
trị liệu
sau đó
bằng hóa
chất tại
BV
Tianjin
(Trung
Hoa).
Các chế
phẩm
dùng
colchicines
cho thấy
có ảnh
hưởng
tốt trên
các dạng
ung thư
vú loại
adenofibroma
và dạng
desmoids,
làm thu
hẹp các
mô tế
bào sợi,
làm teo
bướu..)
(Medicinal
Plants
of
China-
J.
Duke).
Những
phương
thuốc
trong
thành
phần có
Shan-ci-gu
dùng để
trị
những
bệnh về
gan có
lẽ cũng
dùng
dược
liệu từ
Tulipa
và
Iphigenia.
Fu fang
Shan-ci-gu
Pian (Phụ
phương
Sơn từ
cô phiến)
gồm Sơn
từ cô,
Đỗ trọng,
Xuyên
Sơn giáp..)
được
dùng tại
những
Bệnh
viện
Trung
Hoa để
trị sưng
gan, ung
thư gan..
dựa trên
khả năng
trị liệu
của
colchicines).
Trần Minh Quân 7/2014
Tài
liệu sử
dụng:
- Lan
rừng VN:
A-Z (Bùi
Xuân
Đáng)
- Flora
of
China:
Pleione
-
Oriental
Materia
Medica
(Hong-Yen
Hsu)
-
Medicinal
Plants
of
China,
Korea
and
Japan
(Christopher
Wiart)
|
|
|