Trần Minh Quân

 



LAN TẢ VĂN - CREMASTRA

Trần Minh Quân
 


 

1699544225007blob.jpg
 

Cremastra appendiculata = Lan Tả văn
 

 

             Cũng như Lan Bạch cập (Bletilla), chi Lan Cremastra là một chi lan rất nhỏ, chỉ gồm có 4 loài, có nguồn gốc và phân bố trong vùng rừng núi có khí hậu ẩm ướt tại Nam Á, từ Himalaya sang Trung Hoa, đến vùng Viễn Đông Nga, Nhật, Hàn quốc, Taiwan,Thái Lan và Bắc Việt Nam. Cremastra tuy không thuộc loài lan có hoa đẹp, trồng để trưng bày nhưng lại là loài lan có những đặc tính dược học đáng chú ý..


 

                 Theo “Lan Rừng VN : A-Z" (Bùi Xuân Đáng) thì tại VN chỉ có một loài duy nhất là Cremastra appendiculata. 
 

                    

  (Cremastra, tiếng Hy lạp = Cuống (pedicel); appendiculata, tiếng latin = có phần phụ).


 

                   Cremastra được TS Trần Hợp đặt tên là Tả văn. GS Võ văn Chi trong “Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam" gọi là lan Đỗ quyên.


 

                      Flora of China ghi tên Tàu là du-juan-lan (Hán-Việt là đỗ quyên lan).


 

                   Tên Tàu của các cây lan Cremastra, khi chuyển sang Hán-Việt, có những tên lạ như:


 
  • Cremastra malipoensis = Lan Đỗ quyên “Mã lật pha"?


 

                                    1699547202664blob.jpg                                               
 

                               Cremastra malipoensis


 

 

  • Mô tả  về Cremastra appendiculata


 

                    Theo “Lan rừng VN" :  Địa lan trung bình, lá 1 chiếc, dài 30-40cm. Chùm hoa dài 40-50cm. Hoa 20-30 chiếc, dài 6cm. Nở vào mùa Xuân. Nơi mọc : Lai châu, Sơn la, Lào cai..


 

                     Flora of China ghi thêm nhiều chi tiết:


 

                   “Địa lan cao 20-70cm.Giả hành hình trứng hay thuôn bầu 1.5-3cm x 1-3cm, có vài nốt u. Lá 1 chiếc, hiếm khi có 2. Phiến lá hình mũi giáo thuôn, hẹp 18-34 x 4-8cm, có 3 gân chính. Cần hoa dài 25-70cm mang 5-22 hoa. Hoa thơm nhẹ, không nở hoàn toàn, màu từ tím nhạt đến nâu-cam; Cánh đài và cánh hoa có đốm sậm, có cuống. Các lá đài bên nghiêng. Cánh hoa thuôn 3cm x 0.3cm, nhọn về phía đỉnh. Môi hoa thẳng, đỉnh chia thành 3 thùy. Quả nang hình trứng 25-30 x 8-13mm.”


 

                       Cũng theo Flora of China, có 2 chủng:


 
  • Cremastra appendiculata var. appendiculata (Cremastra unguiculata) , tên Tàu  du-juan lan bien zhong (Đỗ quyên lan nguyên-biến-chủng).


 

          1699549731478blob.jpg   1699549819296blob.jpg
 

Cremastra appendiculata var. appendiculata (Cremastra unguiculata)
 


 
  • Cremastra appendiculata var. variableschi-zhu hu-juan lan = Chi trụ Đỗ quyên lan.


 

            1699544789985blob.jpg  1699551962112blob.jpg
 

                
 

              1699552101042blob.jpg 
 

                  Cremastra appendiculata var. variables
 


 

    Hai chủng đều có mặt tại VN; phân biệt bằng nốt sần trên môi hoa và cột cánh. 

 

  • Thành phần hóa học và Nghiên cứu dược học:

                      1699551031936blob.jpg

 

 

 


 

     A review of Cremastra appendiculata (D.Don) Makino as a traditional herbal medicine and its main components.                           
 

 

         Trong cây có những hợp chất: militarine, loroglossin; protocatechuic acid, succinic acid, gastrodin và daucosterol; beta-sitosterol,sucrose, adenosine cùng những phenanthrenes.. Ngoài ra còn có cirrhopetalanthin, flavanthrinin và một alkaloid loại pyrrolizidine cremastrine (Journal of Natural Products Số 68-2005 và 69-2006).
 


 

    Củ (giả hành) cremastra có chứa một homo-isoflavanone (H-iso-f)

(5,7-dihydroxy-3-(3-hydroxy-4-4-methoxybenzyl)- chroman-4-one).


 

Chất này có hoạt tính:
 


 
  • Làm chậm sự phát triển của mạch máu, khi thử trong ống nghiệm (in vitro) và cả khi thử trên thú vật và người bệnh (in vivo).


 
  • Ngăn chặn phản ứng gây viêm-sưng da, gây ra do tia UVB (cực tím) bằng tác động làm giảm hoạt động của men cyclooxygenase -2 (COX-2).

 

1- Cremastra và Ung thư:


 

         Khả năng chống angiogenesis (anti-angiogenesis) của cremastra đã được thử nghiệm để điều trị ung thư và suy thoái mạch máu mắt.


 

                  Angiogenesis là diễn tiến của cơ thể  tạo ra các vi mạch để nuôi dưỡng tế bào.

 

                Tế bào ung thư muốn tăng trưởng và bội sinh cần được nuôi dưỡng qua các vi mạch, chống angiogenesis là cắt đứt nguồn nuôi tế bào này.


 

              Hoạt tính anti-angiogenesis của cremastra đã được thử nghiệm trên màng phôi gà (chorioallantoic membrane).


 
  • Chromane của cremastra cũng có tác động ức chế hoạt động của Yếu tố tăng trưởng NF-kappa B nơi nhân tế bào.


 
  • Các hợp chất terpenoids như cadinane sesquiterpene; ent-kaurane diterpene -diglycoside và một hơp chát triterpen phức tạp có đến 32 C, khi thử nghiệm in vitro, có khả năng làm chậm sự tăng trưởng của tế bào ung thư vú loại adenocarcinoma MCF-7. Nồng độ IC50 được xác định là 3.18 microM (Journal of Asian Natural Products Research Số 10-2008).


 
  • Dịch chiết từ củ cremastra appendiculata, bằng ethanol có chứa những phenanthrenes, có khả năng diệt các tế bào ung thư phổi (A549), ruột (HCT-116), gan (HepG2), vú (MCF-7 và MDA-MB-231) , khi thử in vitro (Chinese Chemical Letters 08-2013).


 

2- Cremastra và Suy thoái võng mạc mắt.    


 

               Chromane trong cremastra có hoạt tính thu ngắn sự tái tạo vi mạch nơi võng mạc mắt bằng cách làm ngưng chu trình sinh hoạt của tế bào, do gây giảm hoạt động của cdc2 (Biochemistry Physiology Research Communication Số 362-2007).


 

                Nghiên cứu tại Nam Hàn đã thử ứng dụng hoạt tính trên vào việc điều trị bệnh suy thoái võng mạc mắt do tuổi già (age-related macular degeneration=ADM):


 
  • Khi chích nomo-isoflavanone cho chuột bị gây tiến trình AMD bằng laser-photocoagulation: Sự suy thoái chậm lại.


 
  • Ngoài ra flavanone này còn ngăn chặn sự hình thành và s di chuyển của tế bào HUVECs (Human Umbilical Vein Endothelial Cells).


 

                 Dựa theo các kết quả thí nghiệm trên, một nhóm nghiên cứu tại ĐH Y khoa Indiana (Indianapolis) đã tổng hợp một hợp chất, có cấu trúc tương tự như flavanone của cremastra, đặt ký hiệu SH-11052, và thử nghiệm về khả năng giúp làm giảm tiến trình suy thoái tế bào mắt nơi người tiểu đường, và người cao niên (International Retinal Research Foundation April 2014).

 

  • Lan Tả văn làm thuốc dân gian: 
     

  • Tại Ấn độ: Lan Tả văn dược xem là loại lan hiếm, mọc tại những vùng cao đô từ 1800 đến 2400m trong vùng Himalaya. Rễ được giã nát, trộn thành khối nhão dùng đắp trị đau răng. Củ dùng trị sưng-đau, da nứt và trị rắn cắn (International Journal of Pharmacy and Natural Medicines. Số 1-2013.)


 
  • Tại Nhật: dùng trị đau răng.


 
  • Tại Tàu: Dược học cổ truyền dùng Củ (giả hành) làm thuốc. Cho là tác động vào Kinh-Mạch thuộc các tạng Can, Tỳ và Vị. Dùng trị ung bướu (?), bệnh tử cung; Dùng ngoài trị vết thương ung-loét.


 
  • Cremastra và Vĩ thuốc Shan-ci-gu (Sơn-từ-cô)

                  (Xin xen phản về Sơn tử cô trong bài Lan Pleione)


 
  • Theo Dược Điển Việt Nam III; Vị thuốc Sơn từ cô (từ Clemastra) đã bị dùng lẫn lộn (hay giả mạo) với vị Bối mẫu (Fritillaria).


 
  • Theo James Duke (Medicinal Plants of China, trang 466)  Cremastra variabilis hay Shan-ci-gu dìng trị sưng, vết chích sâu bọ; Căn hành trị ung thư (?)


 
  • Theo Subhuti Dharmanada (Institute of Traditional Medicine, Portland Oregon):


 

   ‘Prognosis after Diagnosis of Liver Cancer, The influence of Chinese Herbs).


 

              Dược học ‘mới' của Tàu dùng  Shan-ci-gu trong một số thang thuốc để trị ung thư gan, trong đó shan-ci-gu được dùng để hạ nhiệt, giải độc, phá ứ và chống sưng.


 

               Một loại cao dán (plaster), có cremastra trong công thức dùng để đắp vào vùng gan sưng, để làm giảm đau.


 

              Cremastra cũng được dùng phối hợp với thanh hao, bạch thược.. để "thông Khí", "tán Ứ" trong thang thuốc trị "ung thư máu" ?


 

                                    Trần Minh Quân  5/2014 

 

 

 

 

Trở Về Trang Chính