.png)
Cremastra appendiculata = Lan Tả văn
Cũng như
Lan
Bạch
cập
(Bletilla),
chi
Lan
Cremastra
là
một
chi
lan
rất
nhỏ,
chỉ
gồm
có 4
loài,
có
nguồn
gốc
và
phân
bố
trong
vùng
rừng
núi
có
khí
hậu
ẩm
ướt
tại
Nam
Á,
từ
Himalaya
sang
Trung
Hoa,
đến
vùng
Viễn
Đông
Nga,
Nhật,
Hàn
quốc,
Taiwan,Thái
Lan
và
Bắc
Việt
Nam.
Cremastra
tuy
không
thuộc
loài
lan
có
hoa
đẹp,
trồng
để
trưng
bày
nhưng
lại
là
loài
lan
có
những
đặc
tính
dược
học
đáng
chú
ý..
Theo
“Lan
Rừng
VN :
A-Z"
(Bùi
Xuân
Đáng)
thì
tại
VN chỉ
có
một
loài
duy
nhất
là Cremastra
appendiculata.
(Cremastra,
tiếng
Hy
lạp
=
Cuống
(pedicel); appendiculata,
tiếng
latin
= có
phần
phụ).
Cremastra được
TS
Trần
Hợp
đặt
tên
là Tả
văn. GS
Võ
văn
Chi
trong
“Sách
tra
cứu
tên
cây
cỏ
Việt
Nam"
gọi
là lan
Đỗ
quyên.
Flora
of
China
ghi
tên
Tàu
là
du-juan-lan
(Hán-Việt
là
đỗ
quyên
lan).
Tên
Tàu
của
các
cây
lan
Cremastra,
khi
chuyển
sang
Hán-Việt,
có
những
tên
lạ
như:
Theo “Lan
rừng
VN"
: “ Địa
lan
trung
bình,
lá 1
chiếc,
dài
30-40cm.
Chùm
hoa
dài
40-50cm.
Hoa
20-30
chiếc,
dài
6cm.
Nở
vào
mùa
Xuân.
Nơi
mọc
:
Lai
châu,
Sơn
la,
Lào
cai..
Flora
of
China ghi
thêm
nhiều
chi
tiết:
“Địa
lan
cao
20-70cm.Giả
hành
hình
trứng
hay
thuôn
bầu
1.5-3cm
x
1-3cm,
có
vài
nốt
u.
Lá 1
chiếc,
hiếm
khi
có
2.
Phiến
lá
hình
mũi
giáo
thuôn,
hẹp
18-34
x
4-8cm,
có 3
gân
chính.
Cần
hoa
dài
25-70cm
mang
5-22
hoa.
Hoa
thơm
nhẹ,
không
nở
hoàn
toàn,
màu
từ
tím
nhạt
đến
nâu-cam;
Cánh
đài
và
cánh
hoa
có
đốm
sậm,
có
cuống.
Các
lá
đài
bên
nghiêng.
Cánh
hoa
thuôn
3cm
x
0.3cm,
nhọn
về
phía
đỉnh.
Môi
hoa
thẳng,
đỉnh
chia
thành
3
thùy.
Quả
nang
hình
trứng
25-30
x
8-13mm.”
Cũng
theo
Flora
of
China,
có 2
chủng:
.png)
Cremastra appendiculata var. appendiculata (Cremastra unguiculata)
Cremastra appendiculata var. variables
Hai
chủng
đều có
mặt tại
VN; phân
biệt
bằng nốt
sần trên
môi hoa
và cột
cánh.
.png)
A review of Cremastra appendiculata (D.Don) Makino as a traditional herbal medicine and its main components.
Trong
cây
có
những
hợp
chất:
militarine,
loroglossin;
protocatechuic
acid,
succinic
acid,
gastrodin
và
daucosterol;
beta-sitosterol,sucrose,
adenosine
cùng
những
phenanthrenes..
Ngoài
ra
còn
có
cirrhopetalanthin,
flavanthrinin
và
một
alkaloid
loại
pyrrolizidine
cremastrine
(Journal
of
Natural
Products
Số
68-2005
và
69-2006).
Củ
(giả
hành)
cremastra
có
chứa
một homo-isoflavanone (H-iso-f)
(5,7-dihydroxy-3-(3-hydroxy-4-4-methoxybenzyl)- chroman-4-one).
Khả
năng
chống
angiogenesis (anti-angiogenesis)
của
cremastra đã
được
thử
nghiệm
để
điều
trị
ung
thư
và
suy
thoái
mạch
máu
mắt.
Angiogenesis
là
diễn
tiến
của
cơ
thể
tạo
ra
các
vi
mạch
để
nuôi
dưỡng
tế
bào.
Tế
bào
ung
thư
muốn
tăng
trưởng
và
bội
sinh
cần
được
nuôi
dưỡng
qua
các
vi
mạch,
chống
angiogenesis
là
cắt
đứt
nguồn
nuôi
tế
bào
này.
Hoạt
tính
anti-angiogenesis
của
cremastra
đã
được
thử
nghiệm
trên
màng
phôi
gà
(chorioallantoic
membrane).
-
Các
hợp
chất terpenoids
như
cadinane
sesquiterpene;
ent-kaurane
diterpene
-diglycoside
và
một
hơp
chát
triterpen
phức
tạp
có
đến
32
C,
khi
thử
nghiệm
in
vitro,
có
khả
năng
làm
chậm
sự
tăng
trưởng
của
tế
bào
ung
thư
vú
loại
adenocarcinoma
MCF-7.
Nồng
độ
IC50 được
xác
định
là
3.18
microM
(Journal
of
Asian
Natural
Products
Research
Số
10-2008).
-
Dịch
chiết
từ
củ
cremastra
appendiculata,
bằng
ethanol
có
chứa
những
phenanthrenes,
có
khả
năng
diệt
các
tế
bào
ung
thư
phổi
(A549),
ruột
(HCT-116),
gan
(HepG2),
vú
(MCF-7
và
MDA-MB-231)
,
khi
thử
in
vitro
(Chinese
Chemical
Letters
08-2013).
2-
Cremastra
và
Suy
thoái
võng
mạc
mắt.
Chromane trong
cremastra
có
hoạt
tính
thu
ngắn
sự
tái
tạo
vi
mạch
nơi
võng
mạc
mắt
bằng
cách
làm
ngưng
chu
trình
sinh
hoạt
của
tế
bào,
do
gây
giảm
hoạt
động
của
cdc2
(Biochemistry
Physiology
Research
Communication
Số
362-2007).
Nghiên
cứu
tại
Nam
Hàn
đã
thử
ứng
dụng
hoạt
tính
trên
vào
việc
điều
trị
bệnh
suy
thoái
võng
mạc
mắt
do
tuổi
già
(age-related
macular
degeneration=ADM):
Dựa
theo các
kết quả
thí
nghiệm
trên,
một nhóm
nghiên
cứu tại
ĐH Y
khoa
Indiana
(Indianapolis)
đã tổng
hợp một
hợp
chất, có
cấu trúc
tương tự
như
flavanone
của
cremastra,
đặt ký
hiệu SH-11052, và
thử
nghiệm
về khả
năng
giúp làm
giảm
tiến
trình
suy
thoái tế
bào mắt
nơi
người
tiểu
đường,
và người
cao
niên (International
Retinal
Research
Foundation
April
2014).
-
Tại Ấn
độ:
Lan
Tả
văn
dược
xem
là
loại
lan
hiếm,
mọc
tại
những
vùng
cao
đô
từ
1800
đến
2400m
trong
vùng
Himalaya.
Rễ
được
giã
nát,
trộn
thành
khối
nhão
dùng
đắp
trị
đau
răng.
Củ
dùng
trị
sưng-đau,
da
nứt
và
trị
rắn
cắn
(International
Journal
of
Pharmacy
and
Natural
Medicines.
Số
1-2013.)
(Xin
xen
phản
về
Sơn
tử
cô
trong
bài
Lan
Pleione)
‘Prognosis
after
Diagnosis
of
Liver
Cancer,
The
influence
of
Chinese
Herbs).
Dược
học
‘mới'
của
Tàu
dùng
Shan-ci-gu
trong
một
số
thang
thuốc
để
trị ung thư
gan,
trong
đó
shan-ci-gu
được
dùng
để
hạ
nhiệt,
giải
độc,
phá
ứ và
chống
sưng.
Một
loại
cao
dán
(plaster),
có
cremastra
trong
công
thức
dùng
để
đắp
vào
vùng
gan
sưng,
để
làm
giảm
đau.
Cremastra
cũng
được
dùng
phối
hợp
với
thanh
hao,
bạch
thược..
để "thông
Khí",
"tán
Ứ"
trong
thang
thuốc
trị
"ung
thư
máu"
?