|
|
LAN
HẠC ĐÍNH - PHAIUS
Trần Minh Quân
.png)
Lan Phaius
Chi lan Phaius được một số nhà nghiên cứu tại Việt Nam cho là một chi đặc hữu của Bán đảo Đông Dương, tuy nhiên trên thực tế chi Phaius là một chi lan lớn với khoảng trên 40 loài phân bố rộng tại nhiều vùng nhiệt đới trên thế giới như Phi châu (bao gồm Gabon, Congo, Uganda..), Á châu (Ấn, Tàu, Indonesia, Philippines, Đông Nam Á..), các hải đảo Thái bình dương, Úc và ngay tại Hoa Kỳ (Hawaii, Florida) có những loài đã thuần hóa để trở thành lan ‘địa phương’. Lan Phaius có nhiều liên hệ (về phương diện thực vật) với những loài lan Calanthe và Spathoglottis.
.png)
Phaius - Lan Hạc Đính
Trong chi Phaius, cây lan nổi tiếng nhất là Phaius tankervilleae được giới "chơi lan" trên thế giới xếp vào loại "xuất sắc" một trong những "ngôi sao" của các cây địa lan. Những nghiên cứu lai tạo của George Hausermann tại Deland (Florida, USA) đã đem lại những chủng trồng (cultivars) màu sắc rực rỡ, tuyệt đẹp.. pha trộn giữa những màu đỏ, cam và vàng.. Hausemann đã lai tạo Phaius X Calanthe để cho loài Phalocalanthe rất đẹp.. Ngoài ra loài lai tạo Gastrophaius giữa Gastrotriches X Phaius cũng rất được ưa chuộng..
Phaius tankervilleae / Phalocalanthe
"Lan rừng VN: A-Z" (Bùi Xuân Đáng) liệt kê 12 loài Phaius có tại VN. Trong "The Orchids of Viet Nam, Illustrated Survey, Part 4", Tiến sĩ Leonid Averyanov, nột nhà thảo mộc nguời Nga, chuyên nghiên cứu về lan rừng VN chỉ ghi có 7 loài. Sách "Tra cứu tên Cây cỏ Việt Nam" (Võ văn Chi) ghi 6 loài và trong "Tự điển cây thuốc VN" ông chỉ ghi một loài được dùng làm thuốc tại VN và Tàu là Phaius tankervilleae.
Flora of China ghi Tàu có 9 loài, trong đó 4 loài được xem là đặc hữu. Tên được đặt là he-ding lan . He=hạc (chim hạc); Ding=Đỉnh (ngọn). Tên VN có lẽ đã dùng tên Tàu của lan.
* Lan Hạc đính tại Việt Nam:
Việt Nam có 5 loài Phaius chính, được đặt tên theo màu sắc của hoa, trong đó loài Phaius tankervilleae là loài được xem là phổ biến hầu như khắp nơi trên thế giới..
Như đã ghi trên, một số loài được xem là ‘đặc hữu’ của VN, thật sự chưa được các nhà nghiên cứu xác định và đồng thuận như Phaius baolocnensis, Phaius wallichii..
- Phaius tankervilleae: Hạc đính nâu
Tên Anh-Mỹ: Nun’s orchid; Veiled orchid; Kunai Orchid (Hawaii); Greater Swamp-orchid (Úc).
Tên tương đương: Phaius grandifolius, Bletia tankervilleacea.
Thái: Ueang phrao; Nhật : Kaku-ran, Chiru-ran, Sanrunkwa-bana.
Phaius tankervilleae = Lan Hạc đính nâu
Năm 1778, John Fothergill đã đem cây từ Trung Hoa về Anh, Cây được trồng tại vườn lan của Công tước Emma Tankerville tại London và trổ hoa tại đây, do đó Joseph Banks đã dùng tên Tankerville để đặt cho loài lan này.
Mô tả (Trần Hợp-Phong lan VN): "Loài lan đất, củ giả lớn, dạng chóp, có nhiều bẹ. Thân cao 50-60cm. Lá lớn dài 30-50cm, rộng 4-10cm, có 7 gân, màu lục nhạt, dạng thuôn hình giáo, nhọn ở đỉnh, gốc có cuống. Cụm hoa thẳng, cao 30-70cm. Hoa lớn, cỡ 10cm, cánh hoa trắng ở mặt ngoài, nâu ở mặt trong. Cánh môi màu đỏ có vạch vàng, chia ba thùy: hai thùy bên cuộn lại, thùy giữa có 2 vạch dọc". Nơi mọc: Ninh Bình, Huế, Tây nguyên (Lâm đồng, Djarai, Kontum, Darlac)..
.png)
Phaius tankervilleae, rất phổ biến, nên được mô tả với nhiều chi tiết trong các bài viết về lan tại nhiều nơi khác trên thế giới:
"Địa lan lớn, tăng trưởng tại những vùng nóng ẩm cao độ đến 1300m nơi lục địa Ấn, Trung Hoa, Đông Nam Á, hải đảo Thái bình dương, Thái, Mã lai, Indonesia, Philippines, Úc.. được du nhập và phát triển rộng ở Hawaii, Florida. Giả hành hình trứng hay hình nón, xanh nhạt, bao bọc bởi nhiều lớp lá bẹ mỏng. Lá hình ellip-mũi mác nhọn và quăn lại. Hoa nở vào mùa Xuân. Chùm hoa thẳng, cao đến 120cm, có khi đến 2m. Cây có thể cho nhiều cành hoa một lượt, mỗi cành có đến 16 hoa. Hoa 4 cánh, màu trắng bên ngoài và màu nâu bên trong.. Họng màu trắng bạc bên trong, vàng và đỏ nhạt bên ngoài.."
Tại Florida, cây trở thành loài..địa phương với giả hành hình củ 5-7cm, có 6-7 lá bóng, dài 1m x ngang 8cm. Cần hoa khi nhô lên vượt lá, có hình dạng giống như một chồi măng tây, có thể từ 1-2m, mang nhiều hoa (có khi đền 20) màu nâu-đỏ nhạt, môi màu hồng có mùi thơm. Hoa to chừng 7.5cm, lâu tàn..(Floridata:Phaius tankervilleae).
- Phaius longicornus: Hạc đính tím, Hạc đính sừng dài (VvC).
Tên Anh-Mỹ: Long-horned phaius.
Mô tả (T.H): "Lan đất, củ giả lớn, cao 8-10cm, rộng 3-5cm, thuôn tròn, xếp sát nhau. Thân cao 0.5-0.8cm. Lá 3-8 chiếc, dài 20-25cm, xếp nếp theo gân,màu xanh đậm. Cụm hoa cao 50-60cm; cuống chung, mập thường có 4-7 hoa. Hoa lớn cỡ 5cm, màu hồng nhạt khi mới nở, cánh môi màu hồng tươi, khi già chuyển sang màu vàng cam, cựa dài 3cm . Nơi mọc: vùng Tam đảo, Hòa Bình, Cúc Phương, Lâm Đồng.
Trong ‘Lan rừng VN: A-Z’ (BXĐ) có ghi Phaius wallichi có tên đồng danh là Phaius longicornu. Gặp tại Sơn la, Lai châu, Bắc Kạn.Trong khi đó Flora of China ghi Phaius wallichii, tên đồng danh Phaius magnofolia có tại VN.
- Phaius mishmensis: Hạc đính hồng, Hạc đính Ấn độ (VvC).
Tên Anh-Mỹ: Mishmi Hills Phaius (Tên một vùng đồi núi tại Bắc Ấn độ);
Phaius mishmensis = Hạc đính hồng
Mô tả: (Flora of China): Cây cao 40-140cm. Giả hành hình trụ 30-80cm x 0.6-1cm. Lá 4-7, hình lưỡi dao, thuôn hoặc thuôn-ellip 10-30 x 4-8cm, đỉnh nhọn. Phiến xanh lục, nhám. Cần hoa phát xuất từ nốt giữa của thân củ hay từ nách của lá ở phần trên của thân; cần hoa có thể vươn dài 30-45cm, mang 2-10 hoa thưa. Hoa không nở toàn vẹn, đường kính 5-6cm: lá đai và cánh hoa màu từ hồng nhạt đến đỏ sậm hay nâu-tím. Cánh hoa thuôn, đỉnh tù; cánh môi màu từ trắng đến hồng, có nhiều đốm nâu-đỏ. Trổ hoa trong các tháng 10-Giêng. Phân bố tại Ấn, Bhutan, Nhật (Đảo Ryukyu), Lào, Myanmar, Phi, Thái, VN. Tại Trung Hoa gặp ờ những khu rừng nhiều bóng mát, ẩm, cao độ 800-1400m tại Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam..
Những chi tiết thêm: Giả hành hình thoi hay trụ hẹp, bao bọc bởi nhiều lớp lá bẹ mỏng. Hoa nở vào mùa Thu, Cành hoa mọc từ nách lá 30-60cm, hoa nở thành chùm thưa. Hoa không nở trọn vẹn.
- Phaius flavus; Hạc đính vàng.
Tên tương đương: Phaius indigoferus, Phaiu maculates.
Mô tả (Lan rừng VN: A-Z): " Địa lan cao 50-60cm, lá 5-6 chiếc. Dò hoa mọc từ dưới gốc cao 60-90cm. Hoa 15-20 chiếc, lâu tàn, có hương thơm, nở vào Đông-Xuân. Nơi mọc Hà Giang, Lai châu, Lâm đồng.."
.png)
Phaius flavus = Hạc đính vàng
Cũng trong "Lan rừng VN:A-Z" Phaius flavus được ghi có tên tương đương là Phaius indigoferus nhưng Tác giả lại ghi thêm Phaius indigoferus như một loài riêng, để gọi tên Việt là Hạc đính chàm (?) theo mô tả: "Địa lan cao 60-80cm, lá 3-4 chiếc. Giò hoa cao tới 1.50m. Hoa 15-20 chiếc, to 7-5cm. Nở vào Xuân-Hạ. Nơi mọc Tam Đảo, Kontum, Đồng Nai".
Phaius flavus = huang-hue he-ding lan (Hoàng hoa Hạc đỉnh lan): Cây cao 40-100cm. Giả hành hình nón-thoi 5-10 x 1.5-4cm. Lá 4-8: phiến hình lưỡi dao, dạng mũi giáo xanh lục với những đốm vàng hay trắng 25-60 x 5-20cm. Cần hoa dài 50-90cm mang 8-25 hoa. Hoa nở không trọn vẹn, đường kính 4-7cm. Hoa màu từ vàng nhạt đến vàng tươi. Cánh đài có đỉnh xanh, khi khô chuyển sang màu chàm. Cánh môi màu vàng có những điểm cam hay nâu. Mọc tại vùng rừng ẩm, bóng mát, cao độ 300-2000m. Phân bố tại Ấn, Nhật.Thái, Đông Nam Á (VN), Phi, Indonesia, Trung Hoa (Phúc Kiến, Quảng đông,, Hải Nam..).
(TS Leonid Averyanov chỉ ghi nhận Phaius flavus, không liệt kê Phaius indigoferus).
Những cây lai tạo từ Phaius flavus cho các loài lai như Gastrophaius có lá xanh, đốm trắng.
Gastrophaius có lá xanh, đốm trắng.
Tại Úc loài Phaius australis được xem là loài đặc hữu, được gọi là Lesser Swamp-orchid, Swamp Lily, Southern Swamp-orchid. Loài này được Ferdinand von Mueller ghi nhận từ 1858.
Tên Swamp-orchid được dùng để gọi bao gồm cả Phaius tankervilleae, Phaius grandifolius và Phaius bernaysii (=Yellow Swamp-orchid). Cây thường gặp trong vùng Nam Queensland và Bắc NSW.
Địa lan, có 4-8 lá to, xếp nếp. Lá dài 70cm, rộng 3-10cm. Cây mang 1-2 cần hoa vươn cao 70-110cm. Hoa từ 10-20, mọc trên đỉnh cần, màu nâu đỏ, có những gân màu vàng ở mặt bên trong; hoa to 10-15cm, có mùi thơm. Được giới ‘chơi lan’ tại Úc rất ưa chuộng.
(Department of the Environtment-Australia, 2013)
.png)
- Cây lai tạo nổi tiếng nhất là Gastrophaius "Dan Rosenberg", do Phaius tankervilleae X Gastrorchis tuberculosa: Cây cao đến 1.2m. Hoa màu vàng-cam (màu đồng), lá môi màu hồng-đỏ rượu chát, mọc trên cần hoa thẳng đứng. Cây đã đoạt được nhiều giải thưởng của American Orchid Society.
.png)
- Gastrophaius "Micro Burst" lai tạo do Phaius tankervilleae X Gastrorchis pulchra. Cây tuy nhỏ hơn, chỉ cao chừng 60cm, nhưng cho hoa pha trộn màu sắc của ‘bố-mẹ‘ như vàng, caramel có ánh đỏ rượu chát; lá môi màu hồng sậm, mauve.. cũng rất được ưa chuộng tại Hoa Kỳ.
.png)
Gastrophaius "Micro Burst"
- Gastrophaius "Kitty Crocker" (Phaius flavus X Gastrorchis schlechteri) cho hoa lớn đến 8cm màu vàng kim loại, lá xanh có đốm trắng (từ Phaius flavus).
Seed Parent: Gastrorchis schlechteri (syn Calanthe humblotii)
.png)
Pollen Parent: Phaius flavus (syn Calanthe woodfordii)
Species Ancestors (2)Calanthe woodfordii
Calanthe woodfordii / Cal. woodfordii 50.0%
.png)
Species Ancestors (2)Calanthe woodfordii
Calanthe humblotii / Cal. humblotii 50.0%
Cây được ưa thích nhất là Phaiocalanthe "Kryptonite" lai tạo giữa Calanthe Rozel X Phaius tankervilleae. Hoa màu sắc thay đổi từ trắng, vàng đến hồng, mauve và đỏ rượu đậm.
Phaiocalanthe "Kryptonite"
Những cây lai tạo phổ biến tại các nhà vườn Mỹ:
- Phaiocalanthe "Schroderiana" (Calanthe gigas X Phaius wallichii): Hoa màu lilac, cánh môi đỏ claret.
.png)
Phaiocalanthe "Schroderiana"
- Phaiucalanthe "Sedeniana" (Calanthe Vetchii x Phaius grandifolius): Hoa màu hồng ‘primrose’, đáy màu hồng sen; cánh môi hồng nhạt pha lẫn vàng tươi.
.png)
* Thành phần hóa học và Công dụng:
Dịch chiết bằng methanol từ giả hành Phaius mishmensis chứa những hợp chất indoloquinazoli nones: Tryptanthrin, Phaitanthrins A đến E, Methylisatoid…
Phaitanthrin A và Tryptanthrin có những hoạt tính diệt tế bào ung thư các loại MCF-7, NCI-H460 và SF 268 (Journal of Natural Products Số 71-2008).
Tryptanthrin có hoạt tính ngăn chặn sự tạo Leukotrienes (LTs) trong tế bào neutrophils (người) ở IC50= 0.6 microM). Tuy nhiên tryptanthrin lại không phải là một hợp chất oxyd-khử (redox) và không can thiệp trực tiếp vào hoạt động của 5-LO khi thử nghiệm trên tế bào tự do; trypthanthrin cung không ngăn chặn sự phóng thích acid arachidonicvà sự kích khởi MAPKs. (British Journal of Pharmacology Số 165-2012).
(LTs là chất trung chuyển quan trọng trong các tiến trình sung-viêm)
- Công dụng trong dân gian:
- Tại Papua Tân Guinea: Hoa sau khi hun khói than củi, được dùng trộn trong thực phẩm làm thuốc tránh thai. (Flora of Ponape Bulletin Số 209-1952).
- Tại Ấn độ: Giả hành tươi dùng trị gẫy xương và kiết lỵ (trộn chung với gừng tươi). Giả hành, rễ và lá được nghiền nát, dùng trị mụn nhọt, vết thương làm mủ (International Journal of Pharmacy and Natural Medicines Số 1-2013). Gỉả hành cũng dùng làm thuốc bổ.
Lá và Hoa Phaius tankervillaea dùng để nhuộm màu tím-chàm (indigo).
- Tại Nam Mỹ: Cánh hoa nghiền nát dùng trị bệnh ngoài da, nứt da, ngứa..
- Tại Trung Hoa: theo thuốc cổ truyền thì củ được xem là có vị hơi cay, tính ấm, có tác dụng thanh nhiệt, trừ ho, trục đờm, hoạt huyết và chỉ huyết; dùng để trị ho có nhiều đờm, chấn thương, ngã, sưng tuyến vú, cầm máu.
Tài liệu sử dụng:
- Lan rừng VN: A-Z (Bùi Xuân Đáng)
- Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ văn Chi)
- Flora of China: Phaius
- The Orchids of Viet Nam Illustrated Survey (Leonid Averyanov)
|
|
|