Trần Minh Quân

 

 

  (tím) - Solanum melongena
 

                                                                                           Trần Minh Quân

 

   



 

 Mặc dầu sách “Những cây thuốc và động vật làm thuốc của Viện Dược liệu VN bảo cây Cà tím là Solanum melongena, nhưng tên Anh-Mỹ “eggplant" và tên Pháp “aubergine" gọi chung tất cả các loại Cà, không phân biệt màu sắc và hình dáng tròn hay thuôn, to hay nhỏ..Chúng tôi định dùng tên chung Cà cho bài viết tuy nhiên vì còn có các loại Cà riêng như Cà pháo, cà bát, cà gai.. nên xin tạm dùng Cà (tím) cho bài viết này.. 

● Vài hàng về cái tên : 

tím là một thực phẩm rất thông dụng tại khắp nơi trên thế giới kể cả Việt Nam, Tên Cà tím có những ‘ rắc rối' về tên khoa học (xin xem ‘Chuyện quả cà) nhưng không đáng quan tâm khi xem Cà tím như một món ăn vừa rẻ vừa ngon 

Tên Việt : Cà tím : Chữ “tím” chưa hẳn là màu của quả cà vì có quả cà tím màu trắng ! Trong dân gian cà tím có khi được gọi là cà ‘dái dê' để mô tả hình dạng quả cà nhưng cũng có loại cà tím .. tròn. (xin xem phần mô tả bên dưới) 

Tên Anh-Mỹ : Tên chung cho tất cả các loại cà là Egg-plant và không phải tất cả đều có dạng quả trứng, vì có thể tròn hình cầu, thuôn đầu nhỏ-đầu to , đủ màu.. John Gerarde trong Herball (1597) dùng chữ eggplant để tả loại cây đưa sang Mỹ châu làm cây trang trí có ‘quả hơi hơi to, hơi dài, thuôn như trứng thiên nga..màu trắng, hơi vàng hơi nâu. Quả cà ‘ ăn được ‘ chỉ đến Châu Mỹ sau 1600. 

Tên Âu châu : Aubergine (dùng tại Anh, Pháp, Đức, Hoà lan) , theo Wikipedia thì gốc từ chữ Ả rập ‘badinjan'. Tên Pháp “Aubergine" được Wikipedia giải thích : nhà sành ăn gốc Pháp Catalan tên Sergius Rosario Silvestri khi gặp quả cà tím mà ông không biết tên nên ghi là aubergine ( au Bergine ) có nghĩa là “ gặp thấy ở vùng Bergine.. (do DS Lê văn Nhân bổ xung) 

Tác giả Marie-Christine Daunay (Pháp) đã viết cả một bài dài về tên và lịch sử Cà tím “Petites et grandes histoires de l'aubergine" (http://www.jardinsdefrance.org) Tên Ấn : Brinjal tlại do tiếng Phạn ! (Phạn ngữ có đến 43 tên cho.. cà ) Tên Tàu : Jia = Gia , những tên khác như Jia gua =Gia qua (qua=dưa) , Ai gua =Ải qua (ải=ngắn; qua=dưa) 

● Tản mạn chuyện Cà tím : 

tím tuy ít được tiêu thụ tại Âu châu và Bắc Mỹ nhưng lại là loại rau rất thông dụng tại Á châu, nơi sản xuất và tiêu thụ đến 93% tổng sản lượng cà trên thế giới , số liệu của FAO là 51 triệu tấn năm 2016 (Tàu và Ấn là hai quốc gia đứng đầu; Tàu với 32 triệu tấn, Ấn 13 triệu). Tại Âu châu Tây ban Nha đứng đầu với 206 ngàn tấn.. 

là một cây thực phẩm gốc từ Phi châu và Đông Á, cây hoang được thuần hóa từ thời xa xưa : khác với cà pháo, cà bát.. vẫn tồn tại trong hoang dã, cà tím S. melongena loài hiện nay được hoàn toàn nuôi trồng..

Các nghiên cứu thực vật tại New York Botanical Garden (2012) cho thấy việc thuần hóa Cà xuất phát từ hai khu vực chính, một tại Trung Ấn và một tại Nam Trung Hoa. Tại Ấn Cà tím được ghi trong sách Phạn từ thời Cổ đại, và tại Tàu từ năm 59 trước Tây lịch. Nhật có lẽ bắt đầu trồng cà từ thế kỷ thứ 7. Cà từ Ả rập đến các nước quanh Địa trung hải vào thế kỷ thứ 9. Châu Âu biết ăn cà từ khoảng thế kỷ 12. Ý gọi cà là ‘melon giane = melon=dưa..cho giane= người điên'; Pháp gọi tên pomme des fous ? 

Mãi đến 1825, cà mới xuất hiện tại các chợ Paris và cho đến nay..người Pháp vẫn chưa thích cà tím ! (lượng tiêu thụ tính theo đầu người chỉ 1 kg/người/năm so với 10 kg tại Trung Đông)..và tại Bắc Âu đến nay nhiều người chưa biết đến cà tím ! 

Việc nghiên cứu nuôi trồng về Cà vẫn đang được xúc tiến và các chủng loại đã được hệ thống hóa trong phạm vi quốc tế. (Xin xem tại Eggplant Microsatellites Database http://www.eggplantmicrosatellite.org/

Trong hơn 50 năm qua, các nghiên cứu di truyền về cà đã được ghi nhận và tập trung tại Tàu (3000 chuyên mục) và Ấn (1000), Âu châu có 1122 .. 

Sách Catalogue officiel des espèces vegétales (2018) Châu Âu liệt kê 341 loại Cà tím trong đó Hà lan (108 loại), Ý (71), Tây ban Nha (45), Pháp (40).. 

Các chuyên viên trồng trọt đã tìm nhiều phương thức cải thiện cà tím bao gồm hình dạng, màu sắc, trọng lượng..thời gian thu hoạch, khả năng thích ứng với thời tiết, chống bệnh..cây cho nhiều quả và ít lá.. (Nhật có chủng Ryoma trồng được trong chậu và cả trong mùa đông). 

Các nghiên cứu hiện nay tập trung vào hai chủ điểm gồm cải thiện phẩm chất quả và gia tăng giá trị dinh dưỡng bằng tuyển giống, lai tạo và cả đổi gen. Bản đồ gen của cà đã được thiết lập vào 2015, tập trung tại Ý trong 

Eggplant Genome Project (http://www.eggplantgenome.org/

tại Nhật trong Eggplant Microsatellite Database. Các tổ chức nghiên cứu cũng đã xác định được các thứ tự sắp xếp của các gen trong cà, và từ kết quả này đã tìm được các chuỗi gen có tác dụng dùng ánh sáng để tổng hợp các sắc tố anthocyane tạo màu sắc ngoài da của vỏ cà (2018) 

Từ một giống cà địa phương, Công ty Mahyco (chi nhánh của Monsanto tại Ấn) đã tạo được giống cà OGM (aubergine Bt): ghép một gen từ Bacillus thuringiensis = Bt , (một vi khuẩn trong đất, tiết ra một độc tố diệt sâu, giúp cà chống được bệnh, hư hại gây ra do côn trùng Leucinodes orbonalis, đục thân cây). Việc phát triển giống cà “ghép gen" này gây các tranh cãi tại Ấn ( nơi Cà xếp hạng nhì trong việc dùng nông phẩm chỉ sau khoai), riêng Tiểu bang Uttarakhand (Ấn) đã cấm trồng loài Cà này (2016). Tuy nhiên Cà này lại được trồng rất thành công tại Bangladesh và phát triển rộng tại Quốc gia này từ 2018 . 

OGM cho năng suất quả cao gấp 6.7 lần (so với cà thường) giảm được việc dùng thuốc trừ sâu đến 61%.. 

Giống OGM ‘Bt Brinjal" hiện được trồng tại một số nơi ở Hoa Kỳ và Nam Mỹ Một giống cà tím lai tạo thành một chủng phụ S. melongena subsp.ovigerum được trồng thành cây cà cảnh tại Philippines (trái tròn nhỏ, chỉ có vỏ và hạt, hầu như không thịt) ● Vài đặc điểm thực vật: 

- tả:

Các sách và các trang mạng về thực vật đều mô tả chi tiết về cà, có thể tham khảo trên các trang của Plants of China, Plants of India, Plants of Pakistan… Chúng tôi xin ghi lại phần mô tả trong Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam của Viện Dược liệu VN : (Tập 1 trang 281) 

“ Cây thảo, sống hàng năm hay nhiều năm. Thân hơi hóa gỗ, có lông hoặc nhẵn. Lá mọc so le, hình trái xoan hoặc thuôn , dài 8-15 cm, rộng 4-8 cm, gốc tròn, đầu nhọn, có phân thùy nhiều hay ít, hai mặt có lông tơ rất mịn; cuống lá dài 2-4 cm .

Hoa và lá cây cà tím

 

Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành xim; hoa màu trắng, tím xanh hoặc tím nhạt; đài hình phễu, có 5-9 thùy không bằng nhau, hình mũi mác; tràng hình bánh xe với số cánh hoa không cố định và không đều; nhị có số lượng bằng số cánh hoa, chỉ nhị ngắn, bao phấn xếp thành vòng quanh nhụy, mở ở đầu; bầu hình cầu hoặc hơi dẹt , có nhiều ô. Quả mọng,có hình dạng,kích thước, màu sắc tùy theo giống.."

- Các chủng trồng :  

Các chủng trồng khác nhau cho các quả cà khác nhau về hình dạng, màu sắc (có khi trắng, vàng nhạt, xanh lá cây..) tuy thường là màu tím. Chủng kém thông dụng hơn cho quả màu trắng đục gọi chung là Easter white eggplants, Casper white eggplant. Chủng được trồng tại Âu châu và Bắc Mỹ hiện nay là loại cho trái hình ‘dái dê' dài 12-25 cm, ngang 6-9 cm, da vỏ màu tím sậm. Chủng tại Ấn cho quả lớn hơn, nặng đến 2.2 kg..Tàu thích chủng cho quả thuôn, dài như quả dưa leo.. 

Wikipedia (tiếng Anh) :Eggplant có liệt kê một số chủng trồng nổi tiếng ( https://en.wikipedia.org/wiki/Eggplant


Factsheet-Solanum melongena Eggplant Zebrina (Solanum melongena) 
 

 
Elizabeth Schneider trong The Essential Reference : Vegetables from Amaranth to Zucchini ghi một số chủng trồng (65 loại) tại Hoa Kỳ bao gồm : Black Egg( Black magic , quả đen sậm, nặng 450 g đến 1.5 kg ) , Japanese Early Purple, Neon, Oriental White, Pinky, Turkish Orange, Thai Green, Louisiana Long green (Vỏ xanh lục) Violetta di Firenze (quả thuôn hai màu) , Hmong Red (đỏ nhạt) Pintong Long (gốc Taiwan)  



Central African Plants              Long Purple Italian Eggplant 


 

Eggplant (Solanum melongena 'Gretel')


 

● Giá trị dinh dưỡng : 

Cà có thể ăn sống hoặc chín, kể cả các chủng loại Á châu. 

Tuy cà ít được dùng tại Mỹ và Âu châu nhưng khi bàn về giá trị dinh dưỡng các bài viết đều dùng tài liệu của Bộ Canh nông Hoa Kỳ USDA 

Xin xem : USDA Nutrient Database ( http://ndb.nal.usda.gov/ndb/search/list) (USDA report 11209) 

Vài điểm tóm lược cần chú ý : 

Cà chỉ cung cấp một lượng calories rất thấp (24 calories / mỗi 100 gram), 90% Nước, chứa rất ít chất béo, giàu chất sơ dễ tan, chứa nhiều khoáng chất nhiều nhất là potassium, manganese, đồng và selenium. Cà có nhiều vitamin nhóm B 

như B1, B5 =pantothenic acid, B6=pyridoxine, B9=folic acid). Cà được xếp vào loại thực phẩm nên dùng chống béo phì nhất là ăn dạng nấu, không chiên xào… Lượng chất béo tổng cộng (total lipid) : 0.18 g/100 g cà

- Acid béo bão hòa (saturated) : 0.034g/100 g 

loại monounsaturated : 0.016 g 

polyunsaturated 0.076 g 

Các tài liệu dinh dưỡng Âu châu về cà (aubergine) dùng các kết quả phân chất ghi trong “Food Composition and Nutrition Tables" của Souci-Fachmann-Kraut (MedPharm Scientific Publishers) 

Chuyện ..lạ về Cà

Dianne Onstad trong Whole Foods Companion kể lại một ‘truyền thuyết' về Cà : .. “ trong lúc người Anh nghi ngờ về khả năng làm tăng khả năng tình dục của Cà, thì chuyện Ả rập kể :..Bà vợ nhỏ Rada-Hera đã dùng Cà tím để chế biến thành một món ăn khích dục cho ông chồng người Thổ nhĩ kỳ Bey Mustapha Mehere- ông này nặng 400 pounds có đến 170 bà vợ và vô số nhân tình đến nỗi không đếm nổi.. thọ 123 tuổi (1488-1611). Rada-Hera, bà thứ nhì, đã làm một món ăn tuyệt vời đến mức Mustapha không thể quên.. và không thể xa nàng.. Các bà vợ khác đều bị bỏ khi chưa đến 20, Rada được giữ mãi đến khi chết vào năm 1571 Tất cả theo Mustapha thì đều do.. Cà , giúp ông có khả năng tình dục . rất mạnh...” 

● Dược tính : 

Ngoài thành phần dinh dưỡng Cà tím còn chứa một số hoạt chất sinh học đáng lưu ý. Các hoạt chất này có thể xếp thành 3 nhóm : 

- 1- Các hợp chất Phenolics :  

Nhóm phenolics này có thể tạm xếp thành 3 nhóm phụ : 

Cà tím được xem là nguồn cung cấp tốt nhất về các phenolics trong số các cây nuôi trồng họ Solanaceae . Hàm lượng phenolics tổng cộng trong khoảng từ 23 mg/100 g trọng lượng khô (DW) đến 1,168 g/100 g DW tùy chủng cà, tùy mùa thu hoạch (Mùa Xuân cao nhất, Hè thấp nhất), cách hái.. 

1a-Thành phần phenolics thay đổi : chất trong quả khác chất trong : Kaempferol quercetin, apigenin và isorhamnetin ít thấy trong quả, nhưng kaempferol lại có nhiều trong lá. Lượng Tannins trong Cà tím cao gấp 2 lần hơn trong cà chua. 

1b- Một trong những phenolics dạng kết nối (conjugated) chính trong Cà tím là Hydroxycinnamic acid (HCA) . Hàm lượng Chlorogenic acid (CGA) , một ester của HCA lên đến 4240-9610 mg/kg. Lượng Caffeoylquinic acid (CQA) cũng khá cao. Đây là các chất có hoạt tính chống oxy-hóa mạnh. 

1c- Anthocyanins là các sắc tố tự nhiên, có khá nhiều trong Cà tím, tập trung trong phần vỏ quả, hàm lượng từ 80 đến 850 mg/kg vỏ, số lượng thay đổi tùy chủng, yếu tố di truyền, ánh sáng chiếu vào cây, nhiệt độ và cách tồn trữ.. Delphinidin glucosides (các chất chuyển hóa từ delphinidin anthocyanidin) là một yếu tố quan trọng trong việc tạo màu tím cho vỏ quả. Các chủng Cà tím Nhật có các Acylglycosides như nasunin (Delphinidin-3-p-coumaroyl-gluco-glucoside) 

Tuy các hợp chất phenolics rất hữu ích cho người tiêu thụ và cả cho cây nhưng lương cao lại làm quả dễ bị thâm nâu do bị tác dụng oxy-hóa của các men như polyphenol-oxydase, peroxydase.

- 2- Các Carotenoids

Carotenoids là những phân tử có ái lực với dầu béo (lipophilic) thường gặp trong các rau-quả có màu vàng và màu cam. 

Cà tím tuy không chứa nhiều carotenoids nhưng cũng có chứa lutein và zeaxanthin. Hàm lượng cao nhất khi cà bắt đầu chín và giảm nhiều khi chín quá mức, đun nấu cũng làm mất đi các carotenoids 

- 3- Các Glycoalkaloids : 

Glycoalkaloid là những glycoside nhân steroid, chứa nitrogen có trong các cây Solanum. Các chất này có vai trò giúp cây chống bệnh và côn trùng gây hại. Hai glycoalkaloid steroidal (SGA) chính trong Cà là alpha-solamargine và alpha solasonine. Các SGA này có tiềm năng trị liệu ung thư khá cao, và diệt các ký sinh trùng gây bệnh. 

Các glycoalkaloids có độc tính nên cần lưu ý : hàm lượng trong Cà tím rất thấp không gây nguy hại, nhưng trong Cà pháo lượng này cao gấp 4-5 lần nên cần thận trọng (xin xem bài Cà pháo) 

Nồng độ Glycoalkaloids thay đổi theo bộ phận của cây và tùy giai đoạn tăng trưởng : Nồng độ Solasodine cao nhất trong nụ hoa, rồi đến lá, quả xanh, quả chín chứa ít nhất 

* Khả năng Chống oxy-hóa : 

Nisha, Nazar & Jayamurthy ( Food and Chemical Toxicology Số 47-2019) xếp Cà vào hàng đầu trong số 120 loại rau về khả năng chống oxy-hóa. Vỏ cà có hoạt tính thu nhặt gốc tự do(Superoxide-scavenging) rất mạnh, ngăn chặn sự tạo các gốc hydroxyl. Anthocyanin có hoạt tính khử và hoạt tính SOS , còn các phenolics có thêm tác dụng loại thải các kim loại nặng bằng phức (chelat) -hóa. (SOS = Superoxide-Scavenging activity) 

Chumyan, Whangchai (Science Asia Số 39-2013) ghi nhận khả năng chống oxy-hóa của Cà tùy thuộc vào hàm lượng các hợp chất phenolic trong cà, và đi đôi với màu của vỏ quả và trọng lượng quả. Quả nhỏ màu tím sậm có lượng phenolics và anthocyanins cao nhất nên có tác dụng chống oxy-hóa tốt nhất. 

Concellon, Zaro, Chaves (Postharvest Biology and Technology Số 66-2012) theo dõi cách tồn trữ và nấu nướng Cà ghi : lượng các chất chống oxy hóa tăng trong thời gian 3 ngày đầu tồn trữ ở 0 độ sau đó giảm xuống, nhưng nếu giữ ở 10 độ lượng hoạt chất tiếp tục tăng.. 

Ramirez-Anaya, Samaniego-Sanchez (Food Chemistry Số 188-2015) theo dõi sự thay đổi hàm lượng phenolics khi nấu nướng cà ghi nhận : Cà nấu chín có nhiều phenolics hơn cà sống. Uchida, Tomita (Journal of Food Science Số 82-2017) ghi : khả năng chống oxy-hóa giảm khi nướng cà dưới 65 độ C nhưng lại tăng khi nướng cà ở nhiệt độ cao đến 95 độ C (?). Kalkan & Yucecan lại cho rằng chiên cà sẽ làm mất 50% khả năng chống oxy-hóa của cà ! 

Xin đọc bài tổng hợp về khả năng chống oxy-hóa của Cà tím trong Science Direct (https//:sciencedirect.com/science/article/pii/S0027510718300265) * Vài khả năng trị liệu đã được nghiên cứu : 

Khả năng trị một số trường hợp bệnh lý của Cà đã nghiên cứu từ lâu, nhất là tại

Á châu, nơi Cà được xếp vào loại rau rất thông dụng. 

Tập san Economic Botany Số 68 -tháng 5- 2014 có bài “Comparing Medicinal Uses of Eggplant and Related Solanaceae “ liệt kê các tác dụng trị liệu của Cà tại Trung Hoa, Ấn độ và Philippines. Xin đọc tại (https ://www.researchgate.net/ publication/266740584) 

Chúng tôi xin tóm lược một số nghiên cứu “mới" : 

- Im K. & Lee J (Food and Agricultural Immunology Số 27-2016) ghi một số khả năng trị bệnh của cà như trị mụn cóc, phỏng, các chứng viêm sưng, sưng Khớp, sưng bao tử..Nhóm nghiên cứu đã thử nghiệm dịch chiết cà (in vitro) bằng ethanol về khả năng chống sưng và chống oxy hóa trên các tế bào ma crophage (đại thực bào) RAW 264.7 

- Prohens và Csv (Annals of Applied Biology Số 162-2013) ghi nhận hợp chất phenolics chlorogenic acid =CGA trong Cà có các khả năng chống sưng, chống béo phì và chống tiểu đường. 

- Tajik, Mack & Enck (European Journal of Nutrition Số 56-2017) ghi nhận CGA có hoạt tính gây tế bào ung thư tự hủy (apoptosis) nơi các tế bào ung thư loại leukemia, ung thư phổi 

- Shen K & Hung J ( Chemico-Biological Interaction Số 268-2017) ghi nhận hoạt tính diệt bào của các glycoalkaloids (Solasodine) trong Cà : Solasodine ngăn chặn sự xâm nhập của các tế bào ung thư phổi bằng tác động trên diễn tiến 

tái lập tế bào miR-21 và MMP. Sun L & Yao Y ( Cancer Chemotherapy and Pharmacology Số 67-2011) ghi Solamargine diệt được các tế bào ung thư máu loại K562 và tế bào ung thư KB. 

- Ahmed & Mushabara (Jahangirnagar University Journal of Biological Scien ces Số 5-2016 ) : dịch chiết Cà bằng methanol có tác dụng diệt các vi khuẩn S. aureus, Vibrio cholera, B. subtilis, E. coli và Pseudomonas.. Các tác giả trên, trong Scientific Reports Số 9-2019 cũng ghi nhận các glyco alkaloids từ vỏ Cà tím có thể diệt các tế bào ung thư gan loại carcinoma - Casati, Pagani & Sibilia (Journal of Functional Foods Số 23-2016) ghi nhận Nasunin (anthocyanin của Cà tím) có khả năng ngăn chặn phản ứng pero xyd hóa lipid chống tồn đọng ROS, bảo vệ các nguyên bào xương=osteoblast (ROS = Reactive oxygen species, có những gốc tự do gây tác hại cho các phân tử ở gần chúng) 

- Do chứa nhiều chất sơ dinh dưỡng, Cà giúp tiêu hóa giúp cơ thể loại bỏ độc chất tích tụ trong ruột, ngừa ung thư ruột già và ung thư bao tử (Procee dings of INCEDI 2016) Hàm lượng chất sơ cao và chất carbohydrate thấp giúp Cà tím thành một thực phẩm lý tưởng cho người bệnh tiểu đường (Func tional Foods in Health and Disease Số 6-2016). Hiệp hội Tiểu đường Mỹ (ADA) đã đề nghị một thực đơn dùng Cà để giúp trị tiểu đường loại 2. 

- Journal of Food Biochemistry tháng 5-2019 ghi nhận Cà tím có thể làm giảm sự suy thoái của các tế bào não bộ (thử trên chuột Winstar) do tác động trên ectonucleoside triphosphate diphosphohydrolase (ENTPdase), monoamine oxydase (MAO) và cholinesterases (AChE /BChE) nên rất có triển vọng trong

việc điều trị bệnh Alzheimer's 

* Cà trong Đông dược : 

- Dược học cổ Trung Hoa : 

Sách “Thuốc Nam trên đất Mỹ" (Trần việt Hưng) tập 2 trang 69 ghi 

“.. Cà đã được ghi chép trong Chứng lý bản thảo (Cheng lei pen tsao) dưới tên Gia tử=Qie-zi. Rễ Cà tím cũng là vị thuốc tên Gia căn=Qie-gen. 

Lý thời Trân, trong Bản thảo Cương mục, chép lại các dược tính của Cà gọi vị thuốc là Lạc tô =Lo-su; Côn luân qua.. 

Theo dược học cổ truyền Tàu thì : “ Cà có vị ngọt/chát; tính hàn; có các tác dụng ‘đả thông Khí-huyết, tán Nhiệt hỏa" làm thông các nơi đau nhức, tan máu ứ đọng, giúp lợi tiểu. Không dùng quả non và ăn nhiều vì có thể gây đau bụng, tiêu chảy" Dùng trị ung nhọt, ho kinh niên, trĩ.. 

- Dược học Ayurvedic: 

Sách “Thuốc Nam trên đất Mỹ “ cũng ghi : 

Dược học Ấn độ dùng Cà tím trị các bệnh thông thường : Rễ cây trị hen suyễn; kích thích cơ thể suy nhược. Lá dùng trị ho, sưng phổi, lợi tiểu . Quả giúp tiêu hóa, trị bệnh gan-mật.. 

- Thuốc Nam : 

- Trang mạng thuocnam.vn liệt kê nhiều khả năng trị bệnh của Cà tím cùng các cách sử dụng trong dân gian. Theo trang mạng này Cà tím trị được viêm gan vàng da, viêm phế quản cấp, táo bón, cao huyết áp, đi tiêu, đi tiểu ra máu.. 

- Bài Cà tím của KS Hồ đình Hải ghi một số bài thuốc của Lương Y Hoài Vũ dùng Cà Tím trị các bệnh như : viêm gan, táo bón, giảm mỡ, hạ huyết áp, thông tiểu, tăng thải urê và cả ngừa..ung thư (?) 

Trần Minh Quân 

(xin xem tiếp bài Cà pháo, Cà bát và Các món ăn từ Cà trên thế giới)

 

 

 

 

Trở Về Trang Chính