Mặc dầu sách “Những cây
thuốc và động vật làm thuốc
của Viện Dược liệu VN bảo
cây Cà tím là Solanum
melongena, nhưng tên Anh-Mỹ
“eggplant" và tên Pháp
“aubergine" gọi chung tất cả
các loại Cà, không phân biệt
màu sắc và hình dáng tròn
hay thuôn, to hay nhỏ..Chúng
tôi định dùng tên chung Cà
cho bài viết tuy nhiên vì
còn có các loại Cà riêng như
Cà pháo, cà bát, cà gai..
nên xin tạm dùng Cà (tím)
cho bài viết này..
● Vài hàng về cái tên :
Cà tím là một thực phẩm rất
thông dụng tại khắp nơi trên
thế giới kể cả Việt Nam, Tên
Cà tím có những ‘ rắc rối'
về tên khoa học (xin xem
‘Chuyện quả cà) nhưng không
đáng quan tâm khi xem Cà tím
như một món ăn vừa rẻ vừa
ngon
Tên Việt : Cà tím : Chữ
“tím” chưa hẳn là màu của
quả cà vì có quả cà tím màu
trắng ! Trong dân gian cà
tím có khi được gọi là cà
‘dái dê' để mô tả hình dạng
quả cà nhưng cũng có loại cà
tím .. tròn. (xin xem phần
mô tả bên dưới)
Tên Anh-Mỹ : Tên chung cho
tất cả các loại cà là Egg-plant
và
không phải tất cả đều có
dạng quả trứng, vì có thể
tròn hình cầu, thuôn đầu
nhỏ-đầu to , đủ màu..
John Gerarde trong Herball
(1597) dùng chữ eggplant để
tả loại cây đưa sang Mỹ châu
làm cây trang trí có ‘quả
hơi hơi to, hơi dài, thuôn
như trứng thiên nga..màu
trắng, hơi vàng hơi nâu.
Quả cà ‘ ăn được ‘ chỉ đến
Châu Mỹ sau 1600.
Tên Âu châu : Aubergine
(dùng tại Anh, Pháp, Đức,
Hoà lan) , theo Wikipedia
thì gốc từ chữ Ả rập
‘badinjan'. Tên Pháp
“Aubergine" được Wikipedia
giải thích : nhà sành ăn gốc
Pháp Catalan tên Sergius
Rosario Silvestri khi gặp
quả cà tím mà ông không biết
tên nên ghi là aubergine (
au Bergine ) có nghĩa là “
gặp thấy ở vùng Bergine..
(do DS Lê văn Nhân bổ xung)
Tác giả Marie-Christine
Daunay (Pháp) đã viết cả một
bài dài về tên và lịch sử Cà
tím “Petites
et grandes histoires de
l'aubergine" (http://www.jardinsdefrance.org)
Tên Ấn :
Brinjal thìlại do tiếng Phạn ! (Phạn
ngữ có đến 43 tên cho.. cà )
Tên Tàu :
Jia = Gia ,
những tên khác như
Jia gua =Gia qua (qua=dưa) ,
Ai gua =Ải qua (ải=ngắn;
qua=dưa)
● Tản mạn chuyện Cà tím :
Cà tím tuy ít được tiêu thụ
tại Âu châu và Bắc Mỹ nhưng
lại là loại rau rất thông
dụng tại Á châu, nơi sản
xuất và tiêu thụ đến 93%
tổng sản lượng cà trên thế
giới , số liệu của FAO là 51
triệu tấn năm 2016 (Tàu và
Ấn là hai quốc gia đứng đầu;
Tàu với 32 triệu tấn, Ấn 13
triệu). Tại Âu châu Tây ban
Nha đứng đầu với 206 ngàn
tấn..
Cà là một cây thực phẩm gốc
từ Phi châu và Đông Á, cây
hoang được thuần hóa từ thời
xa xưa : khác với cà pháo,
cà bát.. vẫn tồn tại trong
hoang dã, cà tím
S. melongena
là loài hiện nay được hoàn
toàn nuôi trồng..
Các nghiên cứu thực vật tại
New York Botanical Garden
(2012) cho thấy việc thuần
hóa Cà xuất phát từ hai khu
vực chính, một tại Trung Ấn
và một tại Nam Trung Hoa.
Tại Ấn Cà tím được ghi trong
sách Phạn từ thời Cổ đại, và
tại Tàu từ năm 59 trước Tây
lịch. Nhật có lẽ bắt đầu
trồng cà từ thế kỷ thứ 7. Cà
từ Ả rập đến các nước quanh
Địa trung hải vào thế kỷ thứ
9. Châu Âu biết ăn cà từ
khoảng thế kỷ 12. Ý gọi cà
là ‘melon giane =
melon=dưa..cho giane= người
điên'; Pháp gọi tên
pomme des fous ?
Mãi đến 1825, cà mới xuất
hiện tại các chợ Paris và
cho đến nay..người Pháp vẫn
chưa thích cà tím ! (lượng
tiêu thụ tính theo đầu người
chỉ 1 kg/người/năm so với 10
kg tại Trung Đông)..và tại
Bắc Âu đến nay nhiều người
chưa biết đến cà tím !
Việc nghiên cứu nuôi trồng
về Cà vẫn đang được xúc tiến
và các chủng loại đã được hệ
thống hóa trong phạm vi quốc
tế. (Xin xem tại Eggplant
Microsatellites Database
http://www.eggplantmicrosatellite.org/
)
Trong hơn 50 năm qua, các
nghiên cứu di truyền về cà
đã được ghi nhận và tập
trung tại Tàu (3000 chuyên
mục) và Ấn (1000), Âu châu
có 1122 ..
Sách Catalogue officiel des
espèces vegétales (2018)
Châu Âu liệt kê 341 loại Cà
tím trong đó Hà lan (108
loại), Ý (71), Tây ban Nha
(45), Pháp (40)..
Các chuyên viên trồng trọt
đã tìm nhiều phương thức cải
thiện cà tím bao gồm hình
dạng, màu sắc, trọng
lượng..thời gian thu hoạch,
khả năng thích ứng với thời
tiết, chống bệnh..cây cho
nhiều quả và ít lá.. (Nhật
có chủng
Ryoma
trồng được trong chậu và cả
trong mùa đông).
Các nghiên cứu hiện nay tập
trung vào hai chủ điểm gồm
cải thiện phẩm chất quả và
gia tăng giá trị dinh dưỡng
bằng tuyển giống, lai tạo và
cả đổi gen. Bản đồ gen của
cà đã được thiết lập vào
2015, tập trung tại Ý trong
Eggplant Genome Project (http://www.eggplantgenome.org/)
và tại Nhật trong Eggplant
Microsatellite Database. Các
tổ chức nghiên cứu cũng đã
xác định được các thứ tự sắp
xếp của các gen trong cà, và
từ kết quả này đã tìm được
các chuỗi gen có tác dụng
dùng ánh sáng để tổng hợp
các sắc tố anthocyane tạo
màu sắc ngoài da của vỏ cà
(2018)
Từ một giống cà địa phương,
Công ty Mahyco (chi nhánh
của Monsanto tại Ấn) đã tạo
được giống cà OGM (aubergine
Bt): ghép một gen từ
Bacillus thuringiensis = Bt
, (một vi khuẩn trong đất,
tiết ra một độc tố diệt sâu,
giúp cà chống được bệnh, hư
hại gây ra do côn trùng
Leucinodes orbonalis, đục
thân cây).
Việc phát triển giống cà
“ghép gen" này gây các tranh
cãi tại Ấn ( nơi Cà xếp hạng
nhì trong việc dùng nông
phẩm chỉ sau khoai), riêng
Tiểu bang Uttarakhand (Ấn)
đã cấm trồng loài Cà này
(2016). Tuy nhiên Cà này lại
được trồng rất thành công
tại Bangladesh và phát triển
rộng tại Quốc gia này từ
2018 .
Cà OGM cho năng suất quả cao
gấp 6.7 lần (so với cà
thường) giảm được việc dùng
thuốc trừ sâu đến 61%..
Giống OGM ‘Bt Brinjal" hiện
được trồng tại một số nơi ở
Hoa Kỳ và Nam Mỹ Một giống
cà tím lai tạo thành một
chủng phụ
S. melongena
subsp.ovigerum được trồng
thành cây cà cảnh tại
Philippines (trái tròn nhỏ,
chỉ có vỏ và hạt, hầu như
không thịt)
● Vài đặc điểm thực vật:
-
Mô tả:
Các sách và các trang mạng
về thực vật đều mô tả chi
tiết về cà, có thể tham khảo
trên các trang của Plants of
China, Plants of India,
Plants of Pakistan… Chúng
tôi xin ghi lại phần mô tả
trong
Cây thuốc và động vật làm
thuốc ở Việt Nam
của Viện Dược liệu VN : (Tập
1 trang 281)
“ Cây thảo, sống hàng
năm hay nhiều năm. Thân
hơi hóa gỗ, có lông hoặc
nhẵn. Lá mọc so le, hình
trái xoan hoặc thuôn ,
dài 8-15 cm, rộng 4-8
cm, gốc tròn, đầu nhọn,
có phân thùy nhiều hay
ít, hai mặt có lông tơ
rất mịn; cuống lá dài
2-4 cm .
Hoa và lá cây cà tím
Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành
xim; hoa màu trắng, tím xanh
hoặc tím nhạt; đài hình phễu,
có 5-9 thùy không bằng nhau,
hình mũi mác; tràng hình
bánh xe với số cánh hoa
không cố định và không đều;
nhị có số lượng bằng số cánh
hoa, chỉ nhị ngắn, bao phấn
xếp thành vòng quanh nhụy,
mở ở đầu; bầu hình cầu hoặc
hơi dẹt , có nhiều ô. Quả mọng,có hình dạng,kích thước, màu sắc tùy theo giống.."
-
Các chủng trồng :
Các chủng trồng khác nhau
cho các quả cà khác nhau về
hình dạng, màu sắc (có khi
trắng, vàng nhạt, xanh lá
cây..) tuy thường là màu tím.
Chủng kém thông dụng hơn cho
quả màu trắng đục gọi chung
là Easter white eggplants,
Casper white eggplant. Chủng
được trồng tại Âu châu và
Bắc Mỹ hiện nay là loại cho
trái hình ‘dái dê' dài 12-25
cm, ngang 6-9 cm, da vỏ màu
tím sậm. Chủng tại Ấn cho
quả lớn hơn, nặng đến 2.2
kg..Tàu thích chủng cho quả
thuôn, dài như quả dưa leo..

Factsheet-Solanum
melongena Eggplant
Zebrina (Solanum
melongena)
Elizabeth Schneider
trong
The Essential Reference
: Vegetables from
Amaranth to Zucchini
ghi một số chủng trồng
(65 loại) tại Hoa Kỳ bao
gồm : Black Egg( Black
magic , quả đen sậm,
nặng 450 g đến 1.5 kg )
, Japanese Early Purple,
Neon, Oriental White,
Pinky, Turkish Orange,
Thai Green, Louisiana
Long green (Vỏ xanh lục)
Violetta di Firenze (quả
thuôn hai màu) , Hmong
Red (đỏ nhạt) Pintong
Long (gốc Taiwan)
Central African
Plants
Long Purple Italian
Eggplant
Eggplant (Solanum
melongena 'Gretel')
● Giá trị dinh dưỡng :
Cà có thể ăn sống hoặc chín,
kể cả các chủng loại Á châu.
Tuy cà ít được dùng tại Mỹ
và Âu châu nhưng khi bàn về
giá trị dinh dưỡng các bài
viết đều dùng tài liệu của
Bộ Canh nông Hoa Kỳ USDA
Xin xem : USDA Nutrient
Database (
http://ndb.nal.usda.gov/ndb/search/list)
(USDA report 11209)
Vài điểm tóm lược cần chú ý
:
Cà chỉ cung cấp một lượng
calories rất thấp (24
calories / mỗi 100 gram),
90% Nước, chứa rất ít chất
béo, giàu chất sơ dễ tan,
chứa nhiều khoáng chất nhiều
nhất là potassium,
manganese, đồng và selenium.
Cà có nhiều vitamin nhóm B
như B1, B5 =pantothenic
acid, B6=pyridoxine,
B9=folic acid). Cà được xếp
vào loại thực phẩm nên dùng
chống béo phì nhất là ăn
dạng nấu, không chiên xào…
Lượng chất béo tổng cộng
(total lipid) : 0.18 g/100 g
cà
- Acid béo bão hòa
(saturated) : 0.034g/100 g
loại monounsaturated : 0.016
g
polyunsaturated 0.076 g
Các tài liệu dinh dưỡng Âu
châu về cà (aubergine) dùng
các kết quả phân chất ghi
trong
“Food Composition and
Nutrition Tables" của
Souci-Fachmann-Kraut (MedPharm
Scientific Publishers)
●
Chuyện ..lạ về Cà
:
Dianne Onstad trong Whole
Foods Companion kể lại một
‘truyền thuyết' về Cà : .. “
trong lúc người Anh nghi ngờ
về khả năng làm tăng khả
năng tình dục của Cà, thì
chuyện Ả rập kể :..Bà vợ nhỏ
Rada-Hera đã dùng Cà tím để
chế biến thành một món ăn
khích dục cho ông chồng
người Thổ nhĩ kỳ Bey
Mustapha Mehere- ông này
nặng 400 pounds có đến 170
bà vợ và vô số nhân tình đến
nỗi không đếm nổi.. thọ 123
tuổi (1488-1611). Rada-Hera,
bà thứ nhì, đã làm một món
ăn tuyệt vời đến mức
Mustapha không thể quên.. và
không thể xa nàng.. Các bà
vợ khác đều bị bỏ khi chưa
đến 20, Rada được giữ mãi
đến khi chết vào năm 1571
Tất cả theo Mustapha thì đều
do.. Cà , giúp ông có khả
năng tình dục . rất mạnh...”
● Dược tính :
Ngoài thành phần dinh dưỡng
Cà tím còn chứa một số hoạt
chất sinh học đáng lưu ý.
Các hoạt chất này có thể xếp
thành 3 nhóm :
-
1- Các hợp chất
Phenolics :
Nhóm phenolics này có thể
tạm xếp thành 3 nhóm phụ :
Cà tím được xem là nguồn
cung cấp tốt nhất về các
phenolics trong số các cây
nuôi trồng họ
Solanaceae
.
Hàm lượng phenolics tổng
cộng trong khoảng từ 23
mg/100 g trọng lượng khô (DW)
đến 1,168 g/100 g DW tùy
chủng cà, tùy mùa thu hoạch
(Mùa Xuân cao nhất, Hè thấp
nhất), cách hái..
1a-Thành phần phenolics thay
đổi : chất trong
quả
khác chất trong
lá
:
Kaempferol quercetin,
apigenin và isorhamnetin
ít thấy trong
quả,
nhưng kaempferol lại có
nhiều trong lá. Lượng
Tannins trong Cà tím cao gấp
2 lần hơn trong cà chua.
1b- Một trong những
phenolics dạng kết nối
(conjugated) chính trong Cà
tím là
Hydroxycinnamic acid (HCA) .
Hàm lượng
Chlorogenic acid (CGA)
, một ester của HCA lên đến
4240-9610 mg/kg. Lượng
Caffeoylquinic acid (CQA)
cũng khá cao. Đây là các
chất có hoạt tính chống oxy-hóa
mạnh.
1c-
Anthocyanins
là các sắc tố tự nhiên, có
khá nhiều trong Cà tím, tập
trung trong phần vỏ quả, hàm
lượng từ 80 đến 850 mg/kg vỏ,
số lượng thay đổi tùy chủng,
yếu tố di truyền, ánh sáng
chiếu vào cây, nhiệt độ và
cách tồn trữ..
Delphinidin glucosides
(các chất chuyển hóa từ
delphinidin anthocyanidin)
là một yếu tố quan trọng
trong việc tạo màu tím cho
vỏ quả. Các chủng Cà tím
Nhật có các
Acylglycosides
như nasunin
(Delphinidin-3-p-coumaroyl-gluco-glucoside)
Tuy các hợp chất phenolics
rất hữu ích cho người tiêu
thụ và cả cho cây nhưng
lương cao lại làm quả dễ bị
thâm nâu do bị tác dụng
oxy-hóa của các men như
polyphenol-oxydase,
peroxydase.
-
2- Các
Carotenoids
:
Carotenoids là những phân tử
có ái lực với dầu béo
(lipophilic) thường gặp
trong các rau-quả có màu
vàng và màu cam.
Cà tím tuy không chứa nhiều
carotenoids nhưng cũng có
chứa
lutein và zeaxanthin.
Hàm lượng cao nhất khi cà
bắt đầu chín và giảm nhiều
khi chín quá mức, đun nấu
cũng làm mất đi các
carotenoids
-
3- Các
Glycoalkaloids :
Glycoalkaloid là những
glycoside nhân steroid, chứa
nitrogen có trong các cây
Solanum. Các chất này có vai
trò giúp cây chống bệnh và
côn trùng gây hại. Hai
glycoalkaloid steroidal
(SGA) chính trong Cà là
alpha-solamargine và alpha
solasonine.
Các SGA này có tiềm năng trị
liệu ung thư khá cao, và
diệt các ký sinh trùng gây
bệnh.
Các glycoalkaloids có độc
tính nên cần lưu ý : hàm
lượng trong Cà tím rất thấp
không gây nguy hại, nhưng
trong Cà pháo lượng này cao
gấp 4-5 lần nên cần thận
trọng (xin xem bài Cà pháo)
Nồng độ Glycoalkaloids thay
đổi theo bộ phận của cây và
tùy giai đoạn tăng trưởng :
Nồng độ Solasodine cao nhất
trong nụ hoa, rồi đến lá,
quả xanh, quả chín chứa ít
nhất
* Khả năng
Chống oxy-hóa :
Nisha, Nazar & Jayamurthy (
Food
and Chemical Toxicology Số
47-2019)
xếp Cà vào hàng đầu trong số
120 loại rau về khả năng
chống oxy-hóa. Vỏ cà có hoạt
tính thu nhặt gốc tự
do(Superoxide-scavenging)
rất mạnh, ngăn chặn sự tạo
các gốc hydroxyl.
Anthocyanin có hoạt tính khử
và hoạt tính SOS , còn các
phenolics có thêm tác dụng
loại thải các kim loại nặng
bằng phức (chelat) -hóa.
(SOS = Superoxide-Scavenging
activity)
Chumyan, Whangchai
(Science Asia Số 39-2013)
ghi nhận khả năng chống oxy-hóa
của Cà tùy thuộc vào hàm
lượng các hợp chất phenolic
trong cà, và đi đôi với màu
của vỏ quả và trọng lượng
quả.
Quả nhỏ màu tím sậm có lượng
phenolics và anthocyanins
cao nhất nên có tác dụng
chống oxy-hóa tốt nhất.
Concellon, Zaro, Chaves
(Postharvest Biology and
Technology Số 66-2012)
theo dõi cách
tồn trữ và nấu nướng Cà
ghi : lượng các chất chống
oxy hóa tăng trong thời gian
3 ngày đầu tồn trữ ở 0 độ
sau đó giảm xuống, nhưng nếu
giữ ở 10 độ lượng hoạt chất
tiếp tục tăng..
Ramirez-Anaya, Samaniego-Sanchez
(Food Chemistry Số 188-2015)
theo dõi sự thay đổi hàm
lượng phenolics khi nấu
nướng cà ghi nhận : Cà nấu
chín có nhiều phenolics hơn
cà sống. Uchida, Tomita
(Journal of Food Science Số
82-2017)
ghi : khả năng chống oxy-hóa
giảm khi
nướng
cà dưới 65 độ C nhưng lại
tăng khi nướng cà ở nhiệt độ
cao đến 95 độ C (?). Kalkan
& Yucecan lại cho rằng chiên
cà sẽ làm mất 50% khả năng
chống oxy-hóa của cà !
Xin đọc bài tổng hợp về khả
năng chống oxy-hóa của Cà
tím trong Science Direct
(https//:sciencedirect.com/science/article/pii/S0027510718300265)
* Vài khả năng trị liệu đã
được nghiên cứu :
Khả năng trị một số trường
hợp bệnh lý của Cà đã nghiên
cứu từ lâu, nhất là tại
Á châu, nơi Cà được xếp vào
loại rau rất thông dụng.
Tập san
Economic Botany Số 68 -tháng
5- 2014 có bài “Comparing
Medicinal Uses of Eggplant
and Related Solanaceae
“ liệt kê các tác dụng trị
liệu của Cà tại Trung Hoa,
Ấn độ và Philippines. Xin
đọc tại (https ://www.researchgate.net/
publication/266740584)
Chúng tôi xin tóm lược một
số nghiên cứu “mới" :
- Im K. & Lee J
(Food and Agricultural
Immunology Số 27-2016)
ghi một số khả năng trị bệnh
của cà như trị mụn cóc,
phỏng, các chứng viêm sưng,
sưng Khớp, sưng bao tử..Nhóm
nghiên cứu đã thử nghiệm
dịch chiết cà (in vitro)
bằng ethanol về khả năng
chống sưng và chống oxy hóa
trên các tế bào ma crophage
(đại thực bào) RAW 264.7
- Prohens và Csv
(Annals of Applied Biology
Số 162-2013)
ghi nhận hợp chất phenolics
chlorogenic acid =CGA
trong Cà có các khả năng
chống sưng, chống béo phì và
chống tiểu đường.
- Tajik, Mack & Enck
(European Journal of
Nutrition Số 56-2017)
ghi nhận CGA có hoạt tính
gây tế bào ung thư tự hủy
(apoptosis) nơi các tế bào
ung thư loại leukemia, ung
thư phổi
- Shen K & Hung J
( Chemico-Biological
Interaction Số 268-2017)
ghi nhận hoạt tính diệt bào
của các
glycoalkaloids (Solasodine)
trong Cà : Solasodine ngăn
chặn sự xâm nhập của các tế
bào ung thư phổi bằng tác
động trên diễn tiến
tái lập tế bào miR-21 và
MMP. Sun L & Yao Y (
Cancer
Chemotherapy and
Pharmacology Số 67-2011)
ghi Solamargine diệt được
các tế bào ung thư máu loại
K562 và tế bào ung thư KB.
- Ahmed & Mushabara
(Jahangirnagar University
Journal of Biological Scien
ces Số 5-2016 )
: dịch chiết Cà bằng
methanol có tác dụng diệt
các vi khuẩn
S. aureus, Vibrio cholera,
B. subtilis, E. coli và
Pseudomonas..
Các tác giả trên, trong
Scientific Reports Số 9-2019
cũng ghi nhận các glyco
alkaloids từ vỏ Cà tím có
thể diệt các tế bào ung thư
gan loại carcinoma - Casati,
Pagani & Sibilia
(Journal of Functional Foods
Số 23-2016)
ghi nhận
Nasunin
(anthocyanin của Cà tím) có
khả năng ngăn chặn phản ứng
pero xyd hóa lipid chống tồn
đọng ROS, bảo vệ các nguyên
bào xương=osteoblast
(ROS = Reactive oxygen
species, có những gốc tự do
gây tác hại cho các phân tử
ở gần chúng)
- Do chứa nhiều chất sơ dinh
dưỡng, Cà giúp tiêu hóa giúp
cơ thể loại bỏ độc chất tích
tụ trong ruột, ngừa ung thư
ruột già và ung thư bao tử
(Procee dings of INCEDI
2016)
Hàm lượng chất sơ cao và
chất carbohydrate thấp giúp
Cà tím thành một thực phẩm
lý tưởng cho người bệnh tiểu
đường
(Func tional Foods in Health
and Disease Số 6-2016). Hiệp
hội Tiểu đường Mỹ (ADA) đã
đề nghị một thực đơn dùng Cà
để giúp trị tiểu đường loại
2.
-
Journal of Food Biochemistry
tháng 5-2019
ghi nhận Cà tím có thể làm
giảm sự suy thoái của các tế
bào não bộ (thử trên chuột
Winstar) do tác động trên
ectonucleoside triphosphate
diphosphohydrolase
(ENTPdase), monoamine
oxydase (MAO) và
cholinesterases (AChE /BChE)
nên rất có triển vọng trong
việc điều trị bệnh
Alzheimer's
* Cà trong Đông dược :
-
Dược học cổ Trung Hoa :
Sách “Thuốc Nam trên đất Mỹ"
(Trần việt Hưng) tập 2 trang
69 ghi
“.. Cà đã được ghi chép
trong Chứng lý bản thảo (Cheng
lei pen tsao)
dưới tên Gia tử=Qie-zi. Rễ
Cà tím cũng là vị thuốc tên
Gia căn=Qie-gen.
Lý thời Trân, trong Bản thảo
Cương mục, chép lại các dược
tính của Cà gọi vị thuốc là
Lạc tô =Lo-su; Côn luân
qua..
Theo dược học cổ truyền Tàu
thì : “ Cà có vị ngọt/chát;
tính hàn; có các tác dụng
‘đả thông Khí-huyết, tán
Nhiệt hỏa" làm thông các nơi
đau nhức, tan máu ứ đọng,
giúp lợi tiểu. Không dùng
quả non và ăn nhiều vì có
thể gây đau bụng, tiêu chảy"
Dùng trị ung nhọt, ho kinh
niên, trĩ..
- Dược học Ayurvedic:
Sách
“Thuốc Nam trên đất Mỹ “
cũng ghi :
Dược học Ấn độ dùng Cà tím
trị các bệnh thông thường :
Rễ cây trị hen suyễn; kích
thích cơ thể suy nhược. Lá
dùng trị ho, sưng phổi, lợi
tiểu . Quả giúp tiêu hóa,
trị bệnh gan-mật..
- Thuốc Nam :
-
Trang mạng
thuocnam.vn
liệt kê nhiều khả năng trị
bệnh của Cà tím cùng các
cách sử dụng trong dân gian.
Theo trang mạng này Cà tím
trị được viêm gan vàng da,
viêm phế quản cấp, táo bón,
cao huyết áp, đi tiêu, đi
tiểu ra máu..
- Bài Cà tím của KS Hồ đình
Hải ghi một số bài thuốc của
Lương Y Hoài Vũ dùng Cà Tím
trị các bệnh như : viêm gan,
táo bón, giảm mỡ, hạ huyết
áp, thông tiểu, tăng thải
urê và cả ngừa..ung thư (?)
Trần Minh Quân
(xin xem tiếp bài Cà pháo,
Cà bát và Các món ăn từ Cà
trên thế giới)