|
Thuần Thực
Vật: La hán quả trị được bệnh ǵ?
( Trần Minh Quân - DS. Phan Đức B́nh)
Arhat fruit (luo han guo) is from Siraitia
grosvenorii, an herbaceous perennial vine. In
Buddhism, the term "arhat" refers to a spiritual
practitioner who has attained a certain level of
enlightenment. Arhat fruit is used in tea and soup.
Generally sold in dried form, this low-calorie natural
sweeterner is about 300 times sweeter than sugar. Due to
its cooling effects, the arhat fruit has been used for
heat stroke, sore throat, chronic cough, diabetes, and
constipation.
La hán quả trị được bệnh ǵ?
Trần Minh Quân - DS. Phan Đức B́nh
Để thay thế cho đường mía (sucrose) không thích hợp cho
người bị bệnh tiểu đường, một số chất tạo vị ngọt tổng
hợp (như aspartame, saccharin, sucralose) hay trích từ
cây Cỏ ngọt (Stevia rebaudiana)… đă được sử dụng, nhưng
chất ngọt từ La hán quả, vị ngọt cho người tiểu đường có
lẽ ít được người chú ư đến…
La hán quả là quả của cây Siraitia grosvernori, tên cũ
là Momordica grosvernori hay Thladiantha grosvenori,
thuộc họ Bầu bí (Cucurbitacea).
Tên “la hán quả” được giải thích là do những truyền
thuyết từ Trung Quốc: từ thời nhà Đường, Quế Lâm là một
trung tâm của Phật giáo, có rất nhiều ngôi chùa. Các tu
sĩ Phật giáo được cho là đă dùng quả của cây này làm
thực phẩm thường ngày nên đă giúp cơ thể dẻo dai, chống
bệnh và trường thọ cùng sự luyện tập vơ nghệ để pḥng
thân. Tên la hán quả cũng c̣n liên hệ đến những môn vơ
nghệ nổi tiếng như “Thập bát La hán quyền”, “Thập bát La
hán trận” của chùa Thiếu Lâm…
Đặc tính thực vật
Chi Siraitia c̣n có thêm 4 loài khác: Siraitia siamensis
phân bố tại Thái Lan, Siraitia sikkimensis và Siraitia
silomaradjea tại Ấn Độ, Siraitia taiwaniana tại Đài
Loan, cũng được gọi là La hán quả.
La hán quả thuộc loại dây leo, lưỡng niên, rụng lá theo
mùa, có thể dài từ 3 - 5 m, mọc phủ lên các cây khác
bằng tua cuốn. Lá hẹp, h́nh trái tim, đầu nhọn dài 10 -
20 cm, rộng 3,5 - 12 cm. Hoa mọc thành chùm 2 - 3 hoa,
hay 1 hoa, cuống hoa 3 - 5 cm. Cánh hoa mỏng, màu vàng
nhạt. Quả h́nh cầu, đường kính 5 - 7 cm, màu xanh lục sẽ
chuyển sang nâu khi khô. Thịt quả mọng nước, có vị ngọt
và mùi thơm, trong chứa nhiều hột cỡ hột khổ qua, dài
chừng 15 - 18 mm, ngang 10 - 12 mm.
Cây mọc hoang và được trồng tại vùng Tây Nam Trung Quốc,
phần lớn tại Quảng Đông, Quảng Tây, Quế Châu, Hồ Nam… đa
số thành phẩm thương măi là từ vùng cao nguyên Quế Lâm.
Các tài liệu ghi chép từ 1813 cho thấy cây đă được trồng
tại tỉnh Quảng Tây. Hiện nay tại vùng cao nguyên Quế Lâm
có những đồn điền trồng la hán quả rộng trên 16 km2,
cung cấp mỗi năm trên 10 ngàn quả. Thành phố Long Giang
(Longjiang) được xem là “Nhà của quả la hán” và đa số
các hăng dược phẩm sản xuất các thành phẩm từ la hán
chọn thành phố này làm nơi đặt trụ sở.
(Tại Việt Nam, có một loài tương cận: Momordica
tonkinensis hay Thladiantha tonkinensis gọi là cây khố
áo, mọc tại miền Bắc, quả chưa được nghiên cứu nhiều).
Thành phần hóa học
Quả chứa:
·
Các đường hữu cơ như fructose, glucose...
·
Các terpen glycosid gọi chung là mogrosid, trong đó một
số chất đă xác định được công thức như siomenosid I, neo
mogrosid, mogrosid từ 1 đến 6 (mogrosid 5 chiếm từ 0,81
đến 1,29%), iso-mogrosid-5, oxo-mogrosid-5.
·
Các 28-norcucurbitacins như siraitic acid A, B, C, D và
E.
·
Hợp chất protein monogrosvin có hoạt tính gây ngưng hoạt
động của các ribosome. (Life Science Số 68-2001).
·
Chất ngọt từ quả La hán: mogrosid
Quả la hán được thu hoạch lúc c̣n xanh và chuyển sang
màu đen sau khi được phơi khô. Vị ngọt của quả là do một
nhóm glycosid loại terpen, gọi chung là mogrosid, chiếm
khoảng 1% phần thịt của quả, tính theo trọng lượng. Cả
quả khô lẫn quả tươi đều được dùng để chiết, và cho một
chất bột có thể chứa ít nhất là 80% mogrosid. Các
mogrosid đă được phân biệt và định danh từ 1 đến 5, chất
chính là mogrosid-5 (trước đây được gọi là esgosid). Một
số hợp chất tương tự trong quả La hán được gọi là
siamenosid, neomogrosid...
Hỗn hợp mogrosid trong quả la hán cho vị ngọt cao hơn
đường mía khoảng 300 lần (tính theo trọng lượng), như
thế bột chiết 80% sẽ ngọt hơn đường mía gấp 250 lần.
Trong khi đó mogrosid nguyên chất có thể ngọt gấp 400
lần đường mía. Iso-mogrosid-5 ngọt hơn đường khoảng 500
lần...
Mặt khác quả la hán rất ít khi được sử dụng dưới dạng
quả tươi do các khó khăn trong việc tồn trữ, đồng thời
vị của quả tươi cũng không hấp dẫn lắm, khi lên men c̣n
tạo thêm các vị lạ và chất pectin trong quả lại chuyển
sang dạng nhớt. Do đó quả thường phải phơi khô và đây là
dạng được bán tại các tiệm thuốc bắc...
Các hoạt tính dược lực của glycosid trong quả la hán
Ngoài vai tṛ dùng làm chất tạo vị ngọt, các glycosid
trích từ quả La hán c̣n có một số dược tính khác như:
·
Làm hạ đường trong máu...
·
Hoạt tính chống oxy hóa...
·
Khả năng chống ung thư...
·
Dịch chiết bằng alcol từ quả có hoạt tính ức chế sự khởi
hoạt của siêu vi Epstein-barr, mạnh hơn hoạt tính của
beta-caroten (Cancer Letter Số 198-2003)...
·
Hoạt tính chống dị ứng, kháng histamin...
Các phương thức sử dụng và thành phẩm từ quả la hán
Dược học cổ truyền Trung Quốc không ghi chép ǵ về vị
thuốc la hán quả, có lẽ do ở sự kiện kém phổ biến của
quả, chỉ tập trung tại vài địa phương giới hạn ở phía
đông nam Trung Quốc. La hán quả chỉ trở thành phổ biến
vào đầu thế kỷ 20. Dược điển Trung Quốc in 1995 th́ có
ghi: La hán quả (Luohanguo) là quả phơi khô của dây
Momordica grosvenori có tính giải nhiệt, mát phổi và tư
giăn đại tràng. Dùng trị ho khan, viêm họng, viêm thanh
quản do nhiệt phổi và táo bón.
Những tài liệu đầu tiên về la hán quả bằng Anh ngữ được
công bố vào năm 1938, ghi nhận la hán quả được dùng làm
một thành phần trong các loại “nước mát” giúp trị các
triệu chứng “nóng nhiệt” trong người…
La hán quả được đưa vào Hoa Kỳ từ đầu thế kỷ 20. Bộ canh
nông Hoa Kỳ ghi nhận sự có mặt của quả la hán vào năm
1917 và các nghiên cứu về chất ngọt từ quả La hán chỉ
được bắt đầu từ 1975 từ các bài viết của C.H. Lee và của
Tsunematsu Takemoto…
Trong tập sách “Fruits as Medicine”, trang 104 các tác
giả Dai Yin-Fang và Liu Cheng-Jun đă ghi lại các phương
thức sử dụng trong dân gian như sau:
·
Trị “cảm nóng” và khát: lấy 1 quả la hán, bổ đôi, quậy
đều trong nước sôi. Uống thay trà.
·
Viêm cổ họng cấp tính hay kinh niên, mất tiếng: lấy nửa
quả la hán và 3 - 5 quả lười ươi (Sterculia lychnophora
Hance). Nấu vừa đủ với nước, và ngậm nuốt từ từ.
·
Ho kinh niên: nấu chín la hán quả với nước vừa đủ, uống
mỗi ngày 2 lần.
·
Táo bón nơi người cao niên: dùng 2 quả la hán, lấy phần
thịt và hạt, nấu chín từ từ và uống trước khi đi ngủ.
Buổi tối nên ăn 1 muỗng canh dầu mè (chan vào cơm).
·
Tiểu đường và dùng thay cho đường: uống nước nấu la hán
quả hay thêm vào thức ăn khi cần đến đường.
Trên thị trường “thuốc bắc” có nhiều thành phẩm chế tạo
từ quả La hán như:
+ Luo Han Guo Chong Ji, trích tinh từ quả, cô đặc thành
khối, thường dùng làm thuốc ho, khan tiếng; hoặc pha
thành nước giải khát.
+ La hán quả dùng chung với bạch quả trị ho.
+ La hán quả chung với cúc hoa trị “nóng nhiệt”, nhức
đầu.
http://www.khoahocphothong.com.vn/news/detail/9063/la-han-qua-tri-duoc-benh-gi%20?.html
|