Trần Minh Quân

 

 

TRÁI BÒN BON (LANSIUM DOMESTICUM)

Trần Minh Quân

1702487475231blob.jpg


Cây bòn bon - Lansium domesticum

                 
 

 
 
Một truyền thuyết tôn giáo tại Philippines kể rằng:

        "Quả lanzones (tên gọi của bòn bon Tại Phi) trước đây rất chua, không ăn được và còn có chất độc nhưng một ngày kia có một bà mẹ rất xinh đẹp bồng con đi ngang một vùng chỉ có cây này, bà không tìm được gì khác để ăn nên đành hái một quả và đưa cho con.. và ngay sau đó, lạ thay quả trở thành có vị ngon ngọt như ngày nay.. và bà mẹ này chính là Thánh Nữ Đồng Trinh Mary.. nhưng vì bà chưa chuyển biến quả hoàn toàn nên vẫn còn một số lanzones.. chưa được ngọt.."

        Bòn bon có nguồn gốc tại vùng Tây Mã lai, được trồng khá phổ biến trên khắp bán đảo Mã. Cây cũng được trồng rất nhiều tại đảo Luzon (Philippines) nơi đây quả rất được ưa chuộng và cây được trồng để bao phủ các vùng đồi trọc. Cây cũng gặp tại Thái Lan và Nam Việt Nam (từ Quảng Nam xuống đến Đồng bằng sông Cửu long, Bòn bon Lái thiêu được xem là loại ngon nhất). Ngoài ra, tại Ấn độ cây rất phổ biến trong vùng Nilgiris và  tại những vùng ẩm ướt phía Nam Ấn. Nơi đây quả được bán tại khắp các chợ. Bòn bon được đưa vào Hawaii khoảng năm 1930 và được trồng tại những vùng có cao độ tương đối thấp..

       Bòn bon ít được biết đến tại vùng nhiệt đới Mỹ châu ngoại trừ tại Surinam (tại đây chỉ có một số ít cây được trồng để khai thác thương mãi). Năm 1926, hạt giống bòn bon được gửi từ Java (Indonesia) sang Trung tâm Cây giống thực nghiệm ở Tela, Honduras. Cây phát triển tốt nhưng không cho quả! Trái lại tại các đảo khác như Trinidad, Puerto Rico, cây lại cho quả khá tốt..

       Tại vùng phía Nam Florida, tuy các điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng không thích hợp lắm nhưng nhà trồng cây chuyên môn William Whitman đã tìm cách trồng được 2 cây bòn bon tại một khu vực có đất pha trộn đặc biệt, cả 2 cây đều cho quả khá nhiều. Khí lạnh của mùa Đông làm cây rụng hết lá và gốc bị tróc vỏ nhưng cây vẫn hồi phục lại được. Các cây mẫu khác cũng sống được tại vùng xa nhất về phía Nam Keys..
 
Tên khoa học và các tên khác:

       - Lansium domesticum thuộc họ Thực vật Meliaceae.

       - Tên Anh-Mỹ: Lansat.

       - Pháp: Doukou, Lansiam.

       - Đức: Duku.

       - Tây ban Nha: Lanza.

       - Philippines: Lansones.

       - Thái Lan: longkong, lansa.

       - Indonesia: duku, kokosan.

Đặc tính thực vật:


        Cây thuộc loại thân mộc, mọc thẳng đứng, cao 15-20m. Cây phát triển chậm, mất đến 15 năm mới trưởng thành.

        Vỏ thân màu nâu-đỏ hay vàng-nâu.

 
         kép hình lông chim, lẻ, dái 22.5 đến 50cm: có từ 5-7 lá chét thuôn, cứng, không lông dài 8-13cm, rộng 7-12cm. Phiến lá có 12-14 cặp gân phụ. Cuống lá phụ dài đến 1cm.

 
1702488194319blob.jpg
 
1702488563759blob.jpg
 
                  Lá cây bòn bon - Lansium domesticum
 

 

 
        Hoa màu trắng hay vàng nhạt, mọc thành chùy ở ngọn nhánh. Hoa lưởng phái: đực và cái riêng biệt. Hoa nhỏ, có 5 lá đài.

 
        Quả gần như tròn, tụ thành chùm từ 2 đến 30 quả, vỏ vàng nhạt hay hơi trắng hồng, mịn như nhung có chứa một chất nhựa-mủ. Quả thường có 5 múi, có vách ngăn mỏng. Múi chứa nhiều nước có mùi thơm. Vị ngọt và hơi chua. Quả có hạt trong, dính với thịt; hạt có áo mỏng.

 

                           1702490300254blob.jpg  1702490890638blob.jpg
 
                         Quả bòn bon - Lansium domesticum
 

 

 
        Hạt màu xanh lục dài 2-2.5cm, rộng 1.25-2cm có vị rất đắng (đôi khi nếu hạt dính chắc vào phần thịt trong múi của quả, có thể làm cho nước lây vị đắng).

 
                     1702490533938blob.jpg    1702491198124blob.jpg
 

 
                          Hạt quả bòn bon - Lansium domesticum
 

 
        Bòn bon tại Mã Lai thường cho mỗi năm hai mùa quả: Tháng 6-7 và Tháng 12-1, đôi khi kéo đến tháng 2. Tại Ấn độ, quẳ chín trong các tháng từ tháng 4 đến tháng 9.. Tại Việt Nam, cây cho quả trong các tháng 6-8.

        Tại Philippines, mỗi cây có thể cho đến 1000 quả/năm.

        Về phương diện thực vật, cây Bòn bon được chia thành 2 nhóm khác biệt:

       - Lansium domesticum var. pubescens: Tiêu biểu cho loài cây hoang, cây có dạng mỏng manh hơn, mọc thoáng, các nhánh nhỏ có lông. Quả gần như tròn, vỏ dày chứa nhiều nhựa.

       - Lansium domesticum var. domesticum: Còn gọi là duku, doekoe hay dookoo. Cây mạnh hơn, lá bao phủ thân, lá có gân nổi rất rõ. Quả hình thuôn, da mỏng màu nâu nhạt, không nhựa hay rất ít nhựa.

Vài chủng nổi tiếng:

       - Conception: Chủng cho quả ngọt, trồng tại Philippines.

       - Uttaradit: Chủng phổ biến tại Thái Lan.

       - Paete: Chủng chính tại Philippines.
 
Thành phần dinh dưỡng:

        100 gram phần ăn được chứa:

       - Chất đạm                               0.8g

       - Chất Carbohydrates               9.5g

       - Chất sơ                                   2.3g

       - Calcium                                  20mg

       - Phosphorus                             30mg

       - Carotene (Vit A)                     13IU

       - Thiamine                                0.089mg

       - Riboflavine                             0.124mg

       - Ascorbic acid                          1mg

        Về phương diện thực phẩm, quả bòn bon sau khi lột vỏ có thể ăn sống như một trái cây giải khát (bỏ hột). Với những chủng, vỏ chứa nhiều nhựa có thể nhúng quả vào nước sôi trước khi lột vỏ.

        Quả tươi có thể giữ khoảng 4 ngày ở nhiệt độ bình thường nhưng nếu giữ trong tủ lạnh ở 52-55°F (12-13°C), có thể tồn trữ đến 2 tuần. Vị ngọt gia tăng vì lượng đường trong quả được chuyển đến mức cao nhất trong vòng 7 ngày, rồi giảm xuống.

        Quả sau khi lột vỏ, bỏ hạt có thể đóng hộp, ngâm trong nước đường.
 
Thành phần hóa học:

        Ngoài thành phần dinh dưỡng trên của quả, các bộ phận khác của cây còn chứa một số hoạt chất:

       - Hạt: Chứa các triterpinoids và các tetranortriterpenoi ds: domesti culide A-E.; một hợp chất loại alkaloid và 2 hoạt chất đắng; nhựa tan trong alcohol (1%).

       - Vỏ quả: Vỏ tươi chứa tinh dầu dễ bay hơi (0.2%) màu vàng nhạt, một chất nhựa màu nâu, tannin và một số acid hữu cơ. Vỏ khô có thể trích ra một chất nhựa dẻo (oleoresin) gồm 0.17% tinh dầu và 22% nhựa. Trong vỏ quả cũng có các triterpen loại onoceranoid.
 
Công dụng sinh học của Bòn bon:

        Bòn bon và một số cây khác trong gia đình thực vật Meliaceae như vong nem (Azadirachta indica), Cedar (Cedrela odorata) đã được trong dược học dân gian tại nhiều nơi (Indonesia, Philippines..) để làm thuốc trị sốt rét.

        Nghiên cứu tại ĐH Ottawa (Canada) ghi nhận các triterpinoids loại lansiolides ly trích từ vỏ thân cây bòn bon có hoạt tính trong các thử nghiệm sinh học (in vitro) chống lại ký sinh trùng gây sốt rét Plasmodium falciparum  và trên chuột bị gây nhiễm P. berghei (Current Topics in Medicinal Chemistry Số 3-2003).

        Nghiên cứu tại ĐH Walailak, Thasala (Thái Lan) ghi nhận các terpenoids ly trích từ hạt bòn bon có hoạt tính diệt được Plasmodium falciparum ở nồng độ IC50 = 2.4-9.7 microg/ml (Phytochemistry Số 67-2006).

        Nghiên cứu tại ĐH Malaysia, Sarawak (Mã lai) ghi nhận: Nước chiết từ vỏ quả và lá Bòn bon có tác dụng làm giảm hạ số lượng P. falciparum thuộc các chủng đã kháng chloroquine (T9) và chưa kháng chloroquine (3D7). Dịch chiết từ vỏ quả gây trở ngại, làm ngưng chu kỳ phát triển của ký sinh trùng. (Journal of Ethnopharma cology Số 85-2003).

 
        Nghiên cứu tại ĐH Philippines, Manila ghi nhận dịch chiết từ lá bòn bon có tác dụng diệt được ấu trùng (lăng quăng) của các loài muỗi Aedes aegypti (tác nhân chuyển bệnh Sốt xuất huyết) và Culex quin quefasciatus. Hoạt tính diệt lăng quăng này xẩy ra trong vòng 48 giờ sau khi thêm dịch chiết vào môi trường thử nghiệm ở các nồng độ 100g % đến 1,565g % (SouthEast Asian Journal of Tropical Medici ne and Public Health Số 25-1994).
                                    
 
                                       1702489080104blob.jpg
 

 
Giá trị dinh dưỡng của trái bòn bon - Lansium domesticum

 
                                      
 
Vài phương thức sử dụng khác:

       - Vỏ: Tại Java (Indonesia), vỏ quả được phơi khô, và đốt. Khói có mùi thơm dùng đuổi muỗi và làm nhang xông tại các phòng người bệnh.

       - Gỗ: Gỗ thân màu nâu nhạt, độ cứng trung bình, có hạt mịn, dai khá bền. Tại Java được dùng làm cột nhà, thuyền bè, cán dụng cụ và cán đồ nhà bếp. Nhựa than lấy được bằng chưng cất, dùng để nhuộm răng.

       - Thuốc dân tộc: Hạt, phơi khô, được tán thành bột dùng trị nóng sốt và sán lải (Indonesia). Vỏ thân dùng trị vết cắn của bọ cạp (Malaisia). Nước sắc từ vỏ thân và lá dùng trị tiêu chảy và sốt rét. Nước nấu từ lá dùng làm thuốc nhỏ, trị sưng mắt.

       - Thổ dân tại Indonesia, Philippines dùng vỏ quả và vỏ cây để chế tạo một loại thuốc độc tẩm vào mũi tên. Trong vỏ quả và vỏ cây có một lượng nhỏ lansium acid một độc chất khi chích vào ếch, gây tim ngưng đập.
                                           
                                     
Trần Minh Quân 01/2008
 
Tài liệu sử dụng:

- Fruits : A Connoisseur' s Guide ( Alan Davidson).
- Fruits of Warm Climates (Julia Morton).
- Từ Điển Cây Thuốc Việt Nam (Võ văn Chi).

 

 

 

 

Trở Về Trang Chính