|
TRÁI BÒN BON (LANSIUM
DOMESTICUM)
Trần Minh Quân
.png)
Cây bòn
bon - Lansium domesticum
Một truyền thuyết tôn giáo tại
Philippines kể rằng:
"Quả lanzones (tên gọi
của bòn bon Tại Phi) trước đây
rất chua, không ăn được và còn
có chất độc nhưng một ngày kia
có một bà mẹ rất xinh đẹp bồng
con đi ngang một vùng chỉ có cây
này, bà không tìm được gì khác
để ăn nên đành hái một quả và
đưa cho con.. và ngay sau đó, lạ
thay quả trở thành có vị ngon
ngọt như ngày nay.. và bà mẹ này
chính là Thánh Nữ Đồng Trinh
Mary.. nhưng vì bà chưa chuyển
biến quả hoàn toàn nên vẫn còn
một số lanzones.. chưa được
ngọt.."
Bòn bon có nguồn gốc tại
vùng Tây Mã lai, được trồng khá
phổ biến trên khắp bán đảo Mã.
Cây cũng được trồng rất nhiều
tại đảo Luzon (Philippines) nơi
đây quả rất được ưa chuộng và
cây được trồng để bao phủ các
vùng đồi trọc. Cây cũng gặp tại
Thái Lan và Nam Việt Nam (từ
Quảng Nam xuống đến Đồng bằng
sông Cửu long, Bòn bon Lái thiêu
được xem là loại ngon nhất).
Ngoài ra, tại Ấn độ cây rất phổ
biến trong vùng Nilgiris và tại
những vùng ẩm ướt phía Nam Ấn.
Nơi đây quả được bán tại khắp
các chợ. Bòn bon được đưa vào
Hawaii khoảng năm 1930 và được
trồng tại những vùng có cao độ
tương đối thấp..
Bòn bon ít được biết đến
tại vùng nhiệt đới Mỹ châu ngoại
trừ tại Surinam (tại đây chỉ có
một số ít cây được trồng để khai
thác thương mãi). Năm 1926, hạt
giống bòn bon được gửi từ Java
(Indonesia) sang Trung tâm Cây
giống thực nghiệm ở Tela,
Honduras. Cây phát triển tốt
nhưng không cho quả! Trái lại
tại các đảo khác như Trinidad,
Puerto Rico, cây lại cho quả khá
tốt..
Tại vùng phía Nam
Florida, tuy các điều kiện khí
hậu và thổ nhưỡng không thích
hợp lắm nhưng nhà trồng cây
chuyên môn William Whitman đã
tìm cách trồng được 2 cây bòn
bon tại một khu vực có đất pha
trộn đặc biệt, cả 2 cây đều cho
quả khá nhiều. Khí lạnh của mùa
Đông làm cây rụng hết lá và gốc
bị tróc vỏ nhưng cây vẫn hồi
phục lại được. Các cây mẫu khác
cũng sống được tại vùng xa nhất
về phía Nam Keys..
Tên khoa học và các tên khác:
- Lansium domesticum thuộc
họ Thực vật Meliaceae.
- Tên Anh-Mỹ: Lansat.
- Pháp: Doukou, Lansiam.
- Đức: Duku.
- Tây ban Nha: Lanza.
- Philippines: Lansones.
- Thái Lan: longkong,
lansa.
- Indonesia: duku,
kokosan.
Đặc tính thực vật:
Cây thuộc loại
thân mộc, mọc thẳng đứng, cao
15-20m. Cây phát triển chậm, mất
đến 15 năm mới trưởng thành.
Vỏ thân màu
nâu-đỏ hay vàng-nâu.
Lá kép hình
lông chim, lẻ, dái 22.5 đến
50cm: có từ 5-7 lá chét
thuôn, cứng, không lông dài
8-13cm, rộng 7-12cm. Phiến
lá có 12-14 cặp gân phụ.
Cuống lá phụ dài đến 1cm.
Lá
cây bòn bon - Lansium
domesticum
Hoa màu trắng hay
vàng nhạt, mọc thành chùy ở ngọn
nhánh. Hoa lưởng phái: đực và
cái riêng biệt. Hoa nhỏ, có 5 lá
đài.
Quả gần như
tròn, tụ thành chùm từ 2 đến
30 quả, vỏ vàng nhạt hay hơi
trắng hồng, mịn như nhung có
chứa một chất nhựa-mủ. Quả
thường có 5 múi, có vách
ngăn mỏng. Múi chứa nhiều
nước có mùi thơm. Vị ngọt và
hơi chua. Quả có hạt trong,
dính với thịt; hạt có áo
mỏng.
Quả bòn
bon - Lansium
domesticum
Hạt màu xanh
lục dài 2-2.5cm, rộng
1.25-2cm có vị rất đắng (đôi
khi nếu hạt dính chắc vào
phần thịt trong múi của quả,
có thể làm cho nước lây vị
đắng).
Hạt quả bòn
bon - Lansium
domesticum
Bòn bon tại Mã
Lai thường cho mỗi năm hai mùa
quả: Tháng 6-7 và Tháng 12-1,
đôi khi kéo đến tháng 2. Tại Ấn
độ, quẳ chín trong các tháng từ
tháng 4 đến tháng 9.. Tại Việt
Nam, cây cho quả trong các tháng
6-8.
Tại Philippines, mỗi cây
có thể cho đến 1000 quả/năm.
Về phương diện thực
vật, cây Bòn bon được chia thành
2 nhóm khác biệt:
- Lansium domesticum
var. pubescens: Tiêu biểu
cho loài cây hoang, cây có dạng
mỏng manh hơn, mọc thoáng, các
nhánh nhỏ có lông. Quả gần như
tròn, vỏ dày chứa nhiều nhựa.
- Lansium domesticum
var. domesticum: Còn gọi là
duku, doekoe hay dookoo. Cây
mạnh hơn, lá bao phủ thân, lá có
gân nổi rất rõ. Quả hình thuôn,
da mỏng màu nâu nhạt, không nhựa
hay rất ít nhựa.
Vài chủng nổi tiếng:
- Conception: Chủng
cho quả ngọt, trồng tại
Philippines.
- Uttaradit: Chủng
phổ biến tại Thái Lan.
- Paete: Chủng
chính tại Philippines.
Thành phần dinh dưỡng:
100 gram phần ăn được
chứa:
- Chất đạm
0.8g
- Chất
Carbohydrates 9.5g
- Chất sơ
2.3g
-
Calcium
20mg
-
Phosphorus
30mg
- Carotene (Vit
A) 13IU
-
Thiamine
0.089mg
- Riboflavine
0.124mg
- Ascorbic
acid
1mg
Về phương diện thực phẩm,
quả bòn bon sau khi lột vỏ có
thể ăn sống như một trái cây
giải khát (bỏ hột). Với những
chủng, vỏ chứa nhiều nhựa có thể
nhúng quả vào nước sôi trước khi
lột vỏ.
Quả tươi có thể giữ
khoảng 4 ngày ở nhiệt độ bình
thường nhưng nếu giữ trong tủ
lạnh ở 52-55°F (12-13°C), có thể
tồn trữ đến 2 tuần. Vị ngọt gia
tăng vì lượng đường trong quả
được chuyển đến mức cao nhất
trong vòng 7 ngày, rồi giảm
xuống.
Quả sau khi lột vỏ, bỏ
hạt có thể đóng hộp, ngâm trong
nước đường.
Thành phần hóa học:
Ngoài thành phần dinh
dưỡng trên của quả, các bộ phận
khác của cây còn chứa một số
hoạt chất:
- Hạt: Chứa các
triterpinoids và các
tetranortriterpenoi ds: domesti
culide A-E.; một hợp chất loại
alkaloid và 2 hoạt chất đắng;
nhựa tan trong alcohol (1%).
- Vỏ quả: Vỏ tươi
chứa tinh dầu dễ bay hơi (0.2%)
màu vàng nhạt, một chất nhựa màu
nâu, tannin và một số acid hữu
cơ. Vỏ khô có thể trích ra một
chất nhựa dẻo (oleoresin) gồm
0.17% tinh dầu và 22% nhựa.
Trong vỏ quả cũng có các
triterpen loại onoceranoid.
Công dụng sinh học của Bòn
bon:
Bòn bon và một số cây
khác trong gia đình thực vật
Meliaceae như vong nem
(Azadirachta indica), Cedar
(Cedrela odorata) đã được trong
dược học dân gian tại nhiều nơi
(Indonesia, Philippines..) để
làm thuốc trị sốt rét.
Nghiên cứu tại ĐH
Ottawa (Canada) ghi nhận các
triterpinoids loại lansiolides
ly trích từ vỏ thân cây bòn bon
có hoạt tính trong các thử
nghiệm sinh học (in vitro) chống
lại ký sinh trùng gây sốt rét
Plasmodium falciparum và trên
chuột bị gây nhiễm P. berghei
(Current Topics in Medicinal
Chemistry Số 3-2003).
Nghiên cứu tại ĐH
Walailak, Thasala (Thái Lan) ghi
nhận các terpenoids ly trích từ
hạt bòn bon có hoạt tính diệt
được Plasmodium falciparum ở
nồng độ IC50 = 2.4-9.7 microg/ml
(Phytochemistry Số 67-2006).
Nghiên cứu tại ĐH
Malaysia, Sarawak (Mã lai) ghi
nhận: Nước chiết từ vỏ quả và lá
Bòn bon có tác dụng làm giảm hạ
số lượng P. falciparum thuộc các
chủng đã kháng chloroquine (T9)
và chưa kháng chloroquine (3D7).
Dịch chiết từ vỏ quả gây trở
ngại, làm ngưng chu kỳ phát
triển của ký sinh trùng.
(Journal of Ethnopharma cology
Số 85-2003).
Nghiên cứu tại ĐH
Philippines, Manila ghi
nhận dịch chiết từ lá bòn
bon có tác dụng diệt được ấu
trùng (lăng quăng) của các
loài muỗi Aedes aegypti (tác
nhân chuyển bệnh Sốt xuất
huyết) và Culex quin
quefasciatus. Hoạt tính diệt
lăng quăng này xẩy ra trong
vòng 48 giờ sau khi thêm
dịch chiết vào môi trường
thử nghiệm ở các nồng độ
100g % đến 1,565g %
(SouthEast Asian Journal of
Tropical Medici ne and
Public Health Số 25-1994).
Giá
trị dinh dưỡng của trái
bòn bon - Lansium
domesticum
Vài phương thức sử dụng khác:
- Vỏ: Tại Java
(Indonesia), vỏ quả được phơi
khô, và đốt. Khói có mùi thơm
dùng đuổi muỗi và làm nhang xông
tại các phòng người bệnh.
- Gỗ: Gỗ thân màu
nâu nhạt, độ cứng trung bình, có
hạt mịn, dai khá bền. Tại Java
được dùng làm cột nhà, thuyền bè,
cán dụng cụ và cán đồ nhà bếp.
Nhựa than lấy được bằng chưng
cất, dùng để nhuộm răng.
- Thuốc dân tộc: Hạt,
phơi khô, được tán thành bột
dùng trị nóng sốt và sán lải
(Indonesia). Vỏ thân dùng trị
vết cắn của bọ cạp (Malaisia).
Nước sắc từ vỏ thân và lá dùng
trị tiêu chảy và sốt rét. Nước
nấu từ lá dùng làm thuốc nhỏ,
trị sưng mắt.
- Thổ dân tại
Indonesia, Philippines dùng
vỏ quả và vỏ cây để chế tạo một
loại thuốc độc tẩm vào mũi tên.
Trong vỏ quả và vỏ cây có một
lượng nhỏ lansium acid một độc
chất khi chích vào ếch, gây tim
ngưng đập.
Trần Minh Quân 01/2008
Tài liệu sử dụng:
- Fruits : A Connoisseur' s
Guide ( Alan Davidson).
- Fruits of Warm Climates (Julia
Morton).
- Từ Điển Cây Thuốc Việt Nam (Võ
văn Chi).
|