Trần Minh Quân

 

BỤP BẮP (ĐẬU BẮP)

 Bùi Huyền Trân 

                                   

    Sau 4 bài về “Bụp”, Nhỏ GL nhắc BHT về một cây Bụp, có tên lạ ‘Bụp bắp’, cây trồng khoảng 1973 tại Miền Nam Việt Nam và mãi đến sau 1975, người miền Bắc mới biết cây này và đặt các tên lạ như “Bắp còi”? Bài này viết tiếp tặng Nhỏ, nhớ lại ‘món canh chua đậu bắp’ của xứ Gò công ..(hay Canh chua đậu tây?)

1- Vài điều tản mạn về cái tên:

* Các nước nói tiếng Anh gọi Đậu bắp là okra.  Tên okra có lẽ phát xuất từ Thổ ngữ Twi (nhóm thổ dân cư trú trong vùng Gold Coast- Phi Châu) “nktuman = nkrumun (?) hay từ thổ ngữ Igbo (khu vực Nigeria): “ò-kù-rù”?

    (Tên Anh-Mỹ hiện nay là Lady’s finger; Okro; Ochro..)

* Các nước nói tiếng Pháp, Tây ban Nha .. gọi đậu bắp là Gumbo, có thể do ngôn ngữ Bantu (Angola)  “ki-ngombo’.

  (Tên gumbo được sử dụng trong vùng Nam Hoa Kỳ, Caribbean, Nam Mỹ, và Phi châu..)

Nguồn gốc:

    Okra hay Đậu bắp có nguồn gốc tại Phi châu, có lẽ được trồng đầu tiên trong vùng Ethiopia và dọc theo bờ sông Nile; tại khu vực này, cây hiện nay vẫn còn đang mọc trong tình trạng hoang dại. Người Ai cập trồng đậu-bắp từ thế kỷ 12 trước Tây lịch.

  Các nền văn hóa Cổ như Ai cập đã từng biết dùng chất nhày của Đậu bắp, từ hàng ngàn năm trước, để trị các chứng khó chịu về bao tử và tiêu hóa.

    Okra được người Moore đưa sang Âu châu..

   Sau đó cây được đưa sang Tân Thế giới, trong thời buôn bán nô lệ từ Phi châu, Cây đến Brazil năm 1658, và Guyana (Surinam) năm 1686; và có lẽ đến Mỹ vào đầu Thế kỷ 18 và được trồng tại Virginia, Philadelphia; Riêng tại Louisiana, Okra rất được ưa chuộng trong các món ăn ‘lai’ Pháp (creole), đặc biệt là tại New Orleans..

  Okra được đưa từ Phi châu sang Ấn Độ, và chỉ xuất hiện tại Đông-Nam Á vào Thế kỷ 19, rồi sang đến Tàu..

     Tại VN, trước 1975, Đậu bắp chỉ  được trồng tại các Tỉnh miền Tây Nam bộ và chỉ  ra miền Bắc sau 1975!

2- Tóm tắt về thực vật

   Tên khoa học: Hibiscus esculenta, từ thế kỷ 18 chuyển thành Abelmoschus esculentus; thuộc gia đình thực vật Malvaceae (esculentus = ăn được).

   Chi Abelmoschus có khoảng 15 loài, gốc Phi châu (‘moschus = hạt có mùi thơm xạ hương’), trước đây được xếp chung vào chi Hibiscus.

Mô tả (sơ lược):

     Cây thuộc loại thân thảo lớn, mọc đứng, có thể cao 1.8 – 2.5m, Thân có lông ở phần trên. Lá rộng, chia thùy hình chân vịt, thường từ 5 đến 7 thùy; mép lá có răng thô, không đều; kích thước thay đổi. Lá có cuống dài. Hoa mọc ở nách lá, có cuống dài 1 – 3cm. Cánh hoa màu vàng, hay vàng nhạt, có chấm màu đỏ tía ở gốc. Cây trổ bông vào những tháng 5 đến 9.

   Quả thuộc loại nang có góc, kích thước thay đổi tùy chủng, hình dạng có thể từ hình trứng đến hình trụ, hình ngọn giáo nhọn ở đầu. Bên trong, ‘quả đậu’ chia thành những ngăn chứa nhiều hạt nhỏ màu nâu hay xanh có thể ăn được.
 

                    Quả đậu okra 

     Hình dạng các lá (tùy chủng)

     Có nhiều chủng Okra cung cấp ‘quả đậu = pod’ có chiều dài thay đổi từ nhỏ hơn 5cm đến lớn hơn 20cm; Màu sắc của pod cũng thay đổi từ xanh lục nhạt đến lục sẫm và có khi đỏ tươi (có chủng, pod giữ nguyên màu đỏ dù đã nấu chín), Pod có thể mịn hay nhám và có độ nhày rất khác biệt. Quả đậu được thu hoạch lúc chưa chín hoàn toàn, vì khi chín hẳn trở thành sơ và rất dai.

    Tại Hoa Kỳ, loại được ưa chuộng nhất là loại cho pod nhám, dài 16 – 18 cm, có độ nhớt cao.

    Dựa theo hình dạng của ‘quả đậu’, Okra được chia thành 2 nhóm:

* Đậu bắp quả dài (Long-fruited green Okra = Gombo à fruit long). Cây có chồi ngắn, ít khi cao hơn 50cm; lá xẻ thùy sâu. Quả đậu dài 3 – 4cm, thuôn dài có mũi nhọn, đường kính chừng 2.5cm. Đây là nhóm được trồng phổ biến nhất, quả đậu có khi mọc chỉa lên nhưng cũng có loài cho quà đậu mọc thòng xuống..

* Đậu bắp quả tròn (Round-fruited Okra = Gombo à fruit rond). Quả đậu ngắn và dày, kích thước chừng 5cm, đầu tù . Cây thuộc loại lùn.
 

                    Thực vật

– Cultivars đáng chú ý tại Mỹ:

– “Cow horn”: Cây sống dai và khỏe, có thể cao 2 – 3m; rất sai quả; Quả đậu dài chứng 25cm, có khía và gai nhỏ, xoắn như sừng bò. Quả vẫn giữ được độ mềm dù đã đạt đủ chiều dài..
 



Cow horn” Okra

– “Louisiana Green Velvet”: có thể mọc cao hơn 1.8m. Quả đậu xanh lục nhạt, mảnh mai, không gai; dài chừng 7.5cm, giữ được màu xanh sau khi chế biến thành món ăn. Cây khá sai quả.
 

Louisiana Green Velvet”

– “Red Okra”: Cây mọc thành bụi 1 – 1.2m. Lá và cành có đốm đỏ. Quả đậu cỡ 12cm, chuyển từ màu hồng khi còn non, sang màu đỏ tươi khi chín. Cây chịu được nhiệt và khô hạn. Quả đậu chỉ ngon khi còn non; Cây có thể trồng làm cây cảnh do dáng khá đẹp.
 



Okra quả đỏ (“Red Okra”)

– “Star of David”: Cultivar được đưa từ Israel vào Mỹ, cây không phân cành, mọc cao đến 1.8m. Lá có màu tím nơi cuống và gân chính cũng có khi màu tím. Quả đậu dài 7,5-8cm. Mùi vị khá nồng..

“Star of David” Okra

3- Dinh dưỡng và Thành phần hóa học

* Bảng dinh dưỡng (theo American Botanical Council = ABC)

                           Bảng theo ABC

   Cũng theo ABC, OKra có chứa phần lớn là Nước, Carbohydrate; Protein; rất ít chất béo và có một số lượng ‘vừa phải’ về chất xơ dinh dưỡng..

  Okra là nguồn cung cấp  tốt Vitamin C và nhiều chất dinh dưỡng vi lượng khác (micronutrients)  như calcium, phosphorus, sắt, beta-carotene và các vitamin nhóm B.

    Trong số các khoáng chất, oxalate là yếu tố cần lưu ý cho những người có khuynh hướng mắc bệnh sạn thận; tuy nhiên về phương diện sinh-khả-dụng (bioavailability) thì oxalate trong okra thấp hơn oxalate trong đậu phộng và hạt nhân  (almond); sự hấp thu oxalate tùy thuộc vào cân bằng của calcium/magnesium.

Lợi ích cho sức khỏe: (Bảng tóm lược)
 

                   Lợi ích về sức khỏe            

(1-Ngừa thiếu máu; 2-Hỗ trợ sức khỏe khi có thai; 3-Có nhiều acid-amin; 4- Giúp xuống cân; 5-Điều hòa mức đường trong máu; 6-Giúp sức khỏe cho da; 7-Cải thiện sức khỏe Tim-mạch; 8-Bảo vệ bao tử chống ung-loét; 9-Hỗ trợ các rối loạn hô hấp; 10- Bổ ích toàn diện cơ thể.)

Thành phần hóa học:

A- Quả đậu:

Carbohydrate trong Okra, phần chính dưới dạng chất nhầy, các phân tử polysaccha – ride có chuỗi carbon dài, gồm các đơn vị đường (trong chất nhầy cũng có protein). Chất nhầy tan trong nước, tạo cho okta độ nhớt, trơn, có thể là tác nhân chính làm cho okra hữu hiệu trong các chứng khó chịu về bao tử.

  Phân chất bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng (thin-layer chromatography) cho thấy polysaccharide trong gôm okra gồm galactose, galacturonic acid, rhamnose và glucose.

    Các nghiên cứu về Phytonutrients ghi nhận trong quả đậu có các flavonoids (chát chính là quercetin), tannins, sterol và triterpenes.

B- Hoa: Có các sắc tố loại flavonol, gossypetin, quercetin..

C- Hạt: Có dầu béo (20-40%), vàng nhạt, ăn được gồm các acid béo palmitic và stearic.

* Thành phần chất béo (trong 100g hạt thô):

      Chất béo tổng cộng (0.1g); Acid béo Omega-3 (0.001g); Omega-6 (0.026g).

D- Lá: Có thể ăn được, theo International Journal of Pharmacy and Biological Sciences (Vol.4-2014), 100g lá chứa: Nước 83.5g); Calories (56); protein (4.40); chất béo (o.60); carbohydrate (11.3); chất xơ (2.10g); khoáng chất và vitamine.
 

Đậu bắp

4- Nghiên cứu khoa học và Dược tính

    Các nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm ghi nhận là okra và các chất trích từ okra có thể hữu ích trong việc trị liệu một số chứng bệnh:

-Thử nghiệm invitro cho thấy Lectin từ Abelmoschus esculentus (AEL), một protein trích từ okra có khả năng kết bám với carbohydrates trên bề mặt của các tế bào ung thư, tạo ra tiến trình tế bào tự hủy (apoptosis), đặc biệt là có thể ngăn chặn sự bội sinh của các tế bào ung thư vú. (Biotechnology Letter; 36-2014).

– Nghiên cứu tại UNiversity of Applied Sciences, Wadens (Thụy Sĩ) cho rằng hoạt tính của okra trên các chứng khó chịu tiêu hóa có thể do trong okra có các polysaccharides loại rhamnogalacturonan, gây trở ngại cho sự kết bám của các vi khuẩn Helicobacter pylori vào các mô tế bào bên trong bao tử (các vi khuẩn này được xem là có thể gây lở loét bao tử) (Journal of Agricultural & Food Chemistry 24-2004).

    Các hợp chất polysaccharide nối kết, không chuyên biệt, vào những chủng Hélicobacter pylori khác nhau, ngăn cản sự kết bám của vi khuẩn vào tế bào bao tử và rhamnogalacturonan tương tác với các protein bề mặt của Hélicobacter pylori, nên có thể ngăn cản hoạt động gây hại của Hélicobacter pylori. Chất nhầy của Okra cũng có thể ngăn ngừa được sự tái phát bệnh lý do Hélicobacter pylori gây ra, bằng cách ngăn cản sự tập hợp, quần tụ vi khuẩn, xảy ra sau khi dùng thuốc kháng sinh (phối hợp)  để diệt Hélicobacter pylori. (PLos ONE; 9-2014).

– Một Nghiên cứu in-vitro (2007) do USDA Agricultural Research Service công bố, so sánh tác dụng củachất bám – từ acid mật, (bile acid binding), giúp hạ cholesterol, cholestyramine, với các chất gốc thiên nhiên có khả năng bile acid-binding, trích từ các cây cỏ như okra, beets (củ cải đỏ), asparagus, eggplants (cà tím) cho thấy Okra xếp hạng đầu trong các loại rau-cỏ và có hoạt tính trị liệu, lên đến 34% so với cholestyramine.

–  Nghiên cứu nơi thú vật (2011) ghi nhận vỏ quả đậu (okta peel) và bột tán từ hột okra khô, có khả năng điều hòa các mức đường và lipid trong máu. Dùng okra theo đường tiêu hóa giúp làm hạ một cách khả quan, các mức cholesterol tổng cộng, triglycerides, LDL (low-density lipoproteins), VLDL (very-low) và cả hemoglobin A1C, đồng thời làm tăng mức HDL (High-density) và tăng lượng hồng huyết cầu (hemoglobin). Trong khi tất cả các bộ phận của cây đều có hoạt tính tùy theo lượng sử dụng, thì hạt có hoạt tính mạnh hơn vỏ rất rõ rệt trong tác động trên mức đường trong máu..

–  Nghiên cứu in vitro về ’okra gum extract’ (okra gum = ngâm okra trong nước lạnh), ghi nhận khả năng kháng sinh trên nhiều chủng vi khuẩn như S. aureus, Mycobacterium spp, Xanthobacter, Pseudomonas aeruginosa…Okra gum, chiết thêm lấy phần lipid fractions (chứa 34% palmitic acid và 26% stearic acid) đều có các hoạt tính kháng sinh..

(Biotechnology and Bioprocess Engineering; 16-2011).

5- Thuốc dân gian

       Dược học dân gian khắp thế giới dùng đậu bắp trị một số bệnh thông thường:

* Tại Việt Nam: Đậu bắp được xem là thuốc ‘nam’ có tác dụng làm dịu mát (do chất nhớt); giúp lợi tiểu. Hạt đậu trợ tim, chống co thắt gây tức ngực: Hạt rang khô, xay thành bột,  nấu thành trà có tác dụng gây thoát mồ hôi (có thể trộn với cà phê); Lá giã nát đắp trị mụn nhọt và trị da đầu bị nhờn..

* Tại Á châu, Đông Nam Á: Thái Lan dùng quả đậu phơi phô, tán bột uống trị bệnh bao tử; Malaysia dùng trị bí tiểu, giúp giảm đau; Ấn Độ (gọi okra là ‘baeamkalia’: Quả đậu non sắc làm thuốc trị đau do xuất huyết; bí tiểu, đau lậu; Rễ sắc làm thuốc trị bất lực..

6- Đậu bắp .. Món ăn

      Okra có vị hơi chua, có thể tạm so sánh được với gooseberry;

   Vài lời khuyên của ‘Đầu bếp’:

– Chỉ nên rửa sạch và cắt bỏ cuống quả đậu, ngay trước khi chế biến,vì quả đậu sẽ tiết ra chất nhầy ngay khi bị cắt.

– Đừng nấu quả đậu quá chín, vì sẽ kém ngon (thêm okra vào canh lúc sắp hoàn tất).

– Không nấu okra bằng các nồi, dụng cụ bằng đồng, sắt hay thiếc vì okra sẽ chuyển sang màu đen.

– Nên chọn các quả đậu nhỏ, cứng khi bấm và dẻo khi bóp; màu xanh tươi, dài dưới 5 – 6cm, các quả lớn thường dai, chỉ dùng phơi khô và nghiền thành bột.

– Okra rất mau hư, chỉ giữ tươi được 1-2 ngày; có thể giữ trong bao giấy và để trong tủ lạnh ở ngăn ít lạnh nhất; đậu sẽ hư khi ở độ lạnh <50°F
 

Cách nấu đậu bắp

– Tại Việt Nam: Đậu bắp thường được dùng trong các món xào, nấu canh, nhất là canh chua. Các món xào như xào tôm, xào sả ớt, xào nấm, xào tỏi, xào chao.. Chiên như chiên giòn; hấp như hấp xì dầu, sốt dầu hào, sốt gừng..; nấu trong các loại cháo.
 

Đậu bắp chiên giòn


Đậu bắp
 nhồi thịt

– Tại Louisiana (Hoa Kỷ), okra là thành phần ‘không thể thiếu’ của các món ăn ‘creole’ như Gumbo.. Gumbo theo định nghĩa là món  ‘canh, nấu kiểu hầm nhẹ, nấu chung các thành phần gồm nhiều thực phẩm phối hợp; căn bản là nước súp có hương vị đậm đà, thịt hay hải sản, một chất làm đặc và bộ ba rau củ đặc trưng ‘creole’: cần tây, ớt chuông và hành tây. Gumbo được xếp thành 2 loại, tùy theo chất tạo độ sệt, có thể là okra hay bột filé (lá sassafras phơi khô, tán thành bột).. Cũng có loại gumbo không dùng 2 chất làm sệt trên.
 

Gumbo (creole okra)

Okra à la tomate

– Ẩm thực Ấn độ, dùng đậu bắp trong các món chiên-đảo (sautée) và thêm vào các loại sốt đặc..Bhindi masala, món Ấn dùng đậu bắp ‘áp chảo’ rang giòn sau đó ướp thêm hỗn hợp gia vị như cà-ri, ớt, ngò gai và hành tây. Gujara bhinda ni kadhi (tại Nam Ấn) là súp kem nóng, trộn yaourt và đậu bắp chiên áp chảo..

Veg Indian Cooking: Stuffed Bhindi Masala

                   Ẩm thực Ấn độ        

– Nhật (tên gọi là okura, kiku-kimo) có một số món ăn dùng đậu bắp;  đậu bắp ăn như rau chấm nước tương (soy sauce); trong katsuobushi, tempura.

 Yamitsuki Shio Okra (Addictive Salted Okra)

– Brazil có món Frango com quiabo (Gà nấu okra).

 Frango com quiabo (Gà nấu okra)

7- Vài công dụng khác..

* Công nghiệp Dược: Kỹ thuật bào chế.

     Đặc tính tạo kết dính của bột Okra được nghiên cứu tại nhiều bộ môn kỹ thuật bào chế của nhiều trường ĐH Dược.. Bột okra được thử nghiệm làm tá dược kết dính, cho các viên nén (tablet= comprimé) và các viên bao đường (dragées = sugar coated tablet).

Theo PubMed (PMID 14677275) : Hỗn hợp Carbopol 914 và Okra Gum trong quy trình sản xuất Viên indomethacin (tỷ lệ 1/1); có độ tan rã của viên đáp ứng được các chỉ số sinh học cần thiết.

* Công dụng của bột okra: 

   – Bột okra (tại Ý) được thử nghiệm pha trộn với bột mì, làm bánh cho những kết quả thuận lợi về mùi vị và kết cấu của bánh thành phẩm (International Journal of Food Sciences and Nutrition 53-2002).

   – Bột okra được dùng pha trộn với các bột hạt thực vật khác, giúp tăng giá trị dinh dưỡng như trộn với bột bắp (tại Ai cập, tăng độ dẻo cho khối bột nhồi).

–  Các công nghiệp khác:

– Nước chiết okra (okra gum), dùng làm chất bôi trơn công nghiệp, và chất tạo nhũ (emulsifiant,) để ổn định các bọt foam và các dung dịch ngâm treo (suspension).

– Thay thế plasma hay thay cho các chất blood volume expanders.

– Quả đậu già và thân, có chất xơ, có thể dùng làm giấy..

                                                Bùi Huyền Trân 6-2025

 

 

 

Trở Về Trang Chính