Melissa, Feuilles de melisse một cây loại cỏ
mọc hoang nơi vườn, rất thường gặp tại các nước
Âu châu như Pháp, Bỉ. Đức (Melissenblatter)..và
Hoa Kỳ, Canada..
Quý
bà nội trợ người Việt tại Pháp, Bỉ đã dùng lá
melisse để tạm thay cho Kinh giới trong các món
bún thịt nướng, bún bò xào.. quê hương.
1- Lịch sử và truyền thuyết dân gian
Melissa
balm được xem là một môn thuốc dân gian thông
dụng tại khắp Âu châu, từ trên 2000 năm trước.
Theo các sử gia thì Melissa được ghi chép lần
đầu trong Sách Historia Plantarum (do
sử gia Hy lạp Theophrastus tổng hợp, khoảng năm
500 trước Tây Lịch).
Melissa
là một trong những cây được dâng cho Nữ thần
Diana..
Người Hy
lạp và La mã cổ, ngâm lá melisse trong rượu,
uống và thoa ngoài để trị côn trùng cắn, chích..
Y sĩ Hy Lạp Dioscorides, dùng lá đắp vết thương
trị rắn cắn và bọ cạp chích; bỏ thêm vài lá vào
nước để giúp người gặp nạn uống bớt đau.
Vào các thế
kỷ 9 và 10, các Y sĩ Ả rập tìm thấy là melisse
giúp giải trừ âu lo và trị hồi hộp do tim đập
mạnh..
Lemon balm
được chính thức đưa đến Tây ban Nha vào thế kỷ
thứ 7, rồi sau đó đến khắp Âu Châu.
Tại Đức,
Hoàng đế Charlemagne (năm 810), ra lệnh trồng
melissa trên khắp nước.
Tại Anh,
Melissa được trồng, ít nhất là từ Thế kỷ 16.
Người Anh, triều đại Tudors (1485-1603) rắc lá
melisse trên khắp sàn nhà. Cây có mặt trong Vườn
dược thảo của Thầy thuốc John Gerard từ 1590 và,
ông dùng melisse để ăn lá và trồng hoa để dẫn dụ
ong mật..
Tại Pháp,
Melisse trở thành nổi tiếng từ khoảng Thế kỷ 17,
nhờ loại thuốc nước ‘Eau de Melisse des
Carmes’ do các nữ tu dòng Carmelites
(Carmes), pha chế, dùng trị các chứng nhức đầu,
đau thần kinh cho các Công nương, Phu nhân trong
Cung của Vua Louis 14. Ngay cả Hồng Y Richelieu
lúc nào cũng có sẵn một chai thuốc, để uống mỗi
khi đau đầu! Melisse tiếp tục được dùng làm
thuốc trong thế kỷ 19. Sách thuốc Materia
Medica của Pereiara, ghi trà lemon balm
dùng trị sốt nóng, đổ mồ hôi và giúp điều hòa
kinh nguyệt..
Mélisse
theo chân các tay thực dân, từ Âu châu sang Bắc
Mỹ và được trồng tại Vườn Monticello, do chính
tay Thomas Jefferson chăm sóc. Tại vùng Tây Bắc
Hoa Kỳ, lemon balm mọc hoang tại các vùng đất
thấp, chân đồi từ Santa Cruz, California, dọc
duyên hải Thái bình dương, xuống đến Tillamook
Bay, Oregon.
2- Những vấn đề về tên thực vật:
Melissa
được ghi trong Wikipedia tiếng Việt là Tía
tô đất (?), dùng tên khoa học là Melissa
officinalis. Các bài viết trên
các trang mạng quảng cáo thuốc và các tiệm bán
rau tươi tại Việt Nam đều dùng tên này.
Tên Tía
tô đất (Kinh giới đất), theo GS Võ văn
Chi (Từ điển Cây Thuốc Việt Nam trang
1206), là tên dùng cho Melissa
axillaris, một cây rau khác, có
tại Việt Nam. Có thể dùng làm rau nhưng lại có
những tác dụng dược học khác biệt..
Tía tô đất hay kinh giới đất =
Melissa axillaris
Tía
tô ‘chính thống’ có tên khoa học là Perilla
frutescens.. Các cây Tía tô ‘khác’
như Tía tô dại (Hyptis suaveolens); Tía
tô rừng (Orthosiphon marmoritis); Tía
tô tây (Plectranthus scutellarioides) đều
là những cây không liên hệ đến ‘Tía
tô chính thống’.
Tía tô ‘chính thống’(Perilla
frutescens)
Kinh
giới là một cây rau thơm khác hẳn, tên
thực vật là Elsholtzia ciliata,
được gọi chung là Vietnamese balm; và
tại Hoa Kỳ còn có tên Crested Late
Summer Mint..
Họ thực vật Lamiaceae,
thường gọi là họ ‘mint’, sage (VN gọi
là Hoa môi, họ Bạc hà), có đến 236 chi, trên
7000 loài. Đa số cây trong họ, toàn thân có mùi
thơm và được dùng làm rau gia-vị. Một số cây
trồng làm thực phẩm, cây trang trí..
Cây và lá kinh
giới
Hoa kinh giới = Elsholtzia ciliata =
Crested Late Summer Mint
Chi
Melissa:
* Melissa
maxillaris: Tàu (gồm cả Tibet,Taiwan),
Himalaya, Đông dương, Sumatra.
* Melissa
flava: Tibet, Nepal, Bhutan, Vùng Đông
Ấn Độ.
Melissa flava
* Melissa
officinalis: Vùng Địa Trung Hải;
Tây-Nam Âu châu (Bồ, Maroc..) và Trung Á được
thuần hóa thành cây bản địa tại Mỹ, Canada, New
Zealand, Nam Mỹ.
* Melissa
yunnanensis: Vân Nam, Tibet..
Melissa yunnanensis–
Yunnan citroenmelisse
Mô tả sơ lược
A-
Melissa officinalis
(Melissa, gốc tiếng Hy
lạp là ong;
mật hoa Melisse rất hấp dẫn ong. Những người
nuôi ong dùng lá chà lên tổ, để dụ ong; officinalis,
tiếng latin = dược phòng).
Melissa officinalis
Cây loại
thảo, mọc thành bụi có thể cao 30-30cm, tối đa
chừng 1m; Thân thẳng đứng, hình vuông. Lá mọc
đối, thuôn hình trứng, có thể dạng trái tim dài
2-8cm; phiến lá thô, nổi gân; mềm có lông; mép
có răng; Hoa màu vàng nhạt hay trắng, mọc thành
chùm. Hoa dài đến 12mm, tràng có hai môi; đài
hình chuông.
Cây trổ
hoa vào mùa hè; có mùi thơm bạc hà/chanh; sống
được khoảng 10 năm (tuy nhiên cần trồng lại,
thay đổi sau 5 năm, nếu muốn cây tiếp tục cho
nhiều tinh dầu)..
Các chủng
trồng nổi tiếng:
Melissa officinalis “Citronella” (mùi
sả); “Lemonella” (mùi chanh
rõ); “Quedlinburger” (cung cấp
nhiều tinh dầu, được ưa chuộng trong công nghiệp
hương liệu); ”Lime”; “Mandarina”; “Variegata”..
”Aurea” (lá vàng cam vào đầu
mùa, chuyển dần sang xanh đốm vàng và hoàn toàn
xanh vào cuối mùa); ”Altissima” (mọc
cao, phân nhánh, có mùi và vị cam).
Melissa officinalis “Citronella”
Melissa officinalis “Aurea”
Melissa officinalis “altissima”
Melissa officinalis “Quedlinburger”
Melissa officinalis “Mandarina”
Melissa officinalis “Variegata”
Từ
1992, Hung, Ai cập và Ý là những quốc gia trồng
và thu hoạch lá melissa đứng đầu thế giới; lá
thu hoạch bằng tay trong các tháng 6-8, xuất
cảng sang nhiều nước..
Thực vật Melissa
B-
Melissa maxillaris: Tía tô đất, Kinh
giới đất. “Small flower melissa”.
Tại VN, cây mọc tại
những vùng núi cao độ 1500-2000m (Lào cai, Hà
Giang, Kontum, Lâm Đồng). Cây loại thảo cao
1.5-6cm. Hoa nhỏ 1cm, có lông mịn. Hoa có 10
cánh, mọc ở ngọn nhánh, màu trắng hoặc hồng
nhạt. Dùng làm thuốc dân gian trị bệnh bao tử và
làm men rượu.
Hoa Melissa maxillaris
3- Công dụng
A- Thành phần và Dược tính
a- Thành phần hóa học:(theo
PDF for Herbal Medicines- 3rd Edition).
Melissa officinalis có:
– Tinh dầu dễ
bốc hơi (0.02-0.8%), xem thành phần chi tiết bên
dưới.
– Glycosides
của các hợp chất alcoholic hay phenolic từ tinh
dầu bốc hơi như eugenol glucoside..- Các Chất
chuyển hóa từ caffeic acid: rosmarinic acid (đến
4.7%).
– Flavonoids
gồm cả các cynaroside, cosmosiin, rhamnocitrin,
isoquercitrin.
– Triterpene
acids trong đó có ursolic acid, olenolic và
dehydro oleanolic acid.
Various health
properties of the Melissa officinalis.
Tinh dầu melissa
Tinh dầu
thu hoạch bằng phương pháp ‘chưng cất bằng hơi
nước’, từ lá tươi, thu hái trước khi cây trổ
bông. Thành phần có chứa trên 70 hợp chất trong
đó 2 chất chính là geranial và neral..Thành phần
này cũng thay đổi rất nhiều tùy theo vùng trồng
và chủng trồng..
Mẫu tinh
dầu từ cây trồng tại Hy lạp có beta-pinene
(6-18%); sabinene (7-17%); E-caryophyllene
(7-15%) và oxyde de caryophyllene (12-24%);
nhưng lại không có citral và citronellol..
Thành
phần tinh dầu chịu ảnh hưởng nhiều do cách thức
nuôi trồng và cách thu hái cây: Phần ngọn ⅓ của
cây là phần cho nhiều tinh dầu nhất.
B- Thuốc dân gian
Lá
melisse được thu hái trong các tháng 6-9, phơi
khô. Lá khô được xay-nghiền thành bột. Lá có thể
dùng chiết dầu, dùng ngoài da; cũng có thể ngâm
trong alcohol thành dạng teinture (thuốc rượu).
Những
lợi ích của Melisse:
Les bienfaits de la Mélisse
C- Thuốc thảo dược chính thức
Tại Âu
Châu, các chế phẩm từ Melisse được công nhận như
có giá trị chữa bệnh và cho
phép xử dụng trong dân gian..
* Agence
Europeenne du Medicament (EMA) xem
mélisse như được xác định theo truyền thống
(‘traditionnellement établi’,) được dùng để giải
tỏa sự căng thẳng thần kinh nhẹ (soulager la
tension nerveuse légère); giúp dễ ngủ (aider à
l’endormissement) và trị các chứng khó tiêu gây
đau bụng..
*
Organisation mondiale de la Santé (OMS),
công nhận việc dùng mélisse để trị các cơn đau
bụng và dùng thoa bên ngoài để trị rộp-lở môi,
miệng herpes labial.
* Commission
E, thuộc Bộ Y Tế Đức, công
nhận cho dùng melisse trong các trường hợp khó
ngủ, liên hệ đến thần kinh bất ổn, và trong các
chứng đau bụng khó tiêu do chức năng ruột suy
yếu.
* Coopération
Scientifique Européenne en Phytothérapie (ESCOP) cũng
cho dùng melisse để giúp giảm căng thẳng thần
kinh, giúp bớt âu lo; giúp bớt đau bụng do yếu
bao tử và trong kem thoa trị herpes labial.. (Creme
chứa 1% extrait aqueux de mélisse).
Các
thành phẩm Melisse tại Âu châu được xếp thành
các nhóm:
*
Thực phẩm bổ túc = Compléments alimentaires
Những ‘thuốc’
này được bán tại Pharmacie, Parapharmacie và cả
Super-marché.
Pháp-Bỉ có
những nhãn hiệu như : Arkogélules BIO Mélisse;
Nutrixeal Melisse Bio; Phytibiane
Melisse..Novanuit.
* Chiết xuất do ngâm nước..(Infusions)
Infusion
Herbesan transit facile BIO; Yogi Biologique
Relaxation; Infusion Bio Sommeil.
* Mỹ
phẩm = Produits cosmetiques.
*
Thành phẩm ăn được = Produits alimentaires..
Về phương
diện ‘thuốc’ thì các chế phẩm Melisse lại chia
thêm thành các nhóm:
* Làm
dịu hệ thần kinh, giúp dễ ngủ..
*
Giảm các khó chịu về đường tiêu hóa..
* Đặc
trị ngoài da: giúp trị herpes..
a-
Melisse và German Commission E:
Lá Melissa được ghi trong
Chế dược thư Âu châu Ph.Eur, Chế dược thư Đức
DAB, được Bộ Y Tế Đức cho phép dùng trị
(indications): “Trợ tiêu hóa, giúp hoạt động của
bao tử và giúp cải thiện các triệu chứng thần
kinh suy nhược, Các chế phẩm Melissa có tác dụng
làm dịu đau, an thần, chống co giật; được phép
dùng dưới các dạng trà ngâm (infusions), dịch
chiết có nước hay cô đọng, bột lá nghiền vụn.
Melisse có thể được dùng phối hợp với các dược
thảo có tính sedative và carminative khác.
Melisse dùng ngâm trong nước tắm, nước vệ sinh
phụ khoa..
Phối hợp Melisse và Tilia giúp ngủ ngon
Tilleul + Mélisse
(Xin đọc thêm về Tilia trong bài
Tilleul)
* Trà
(tisanes) melissa
Trà Mélisse
b-
Khả năng chống Siêu vi khuẩn “Herpes simplex
virus” HPV-1
Một
ứng dụng quan trọng của Melissa trong ‘Dược học’
tân tiến, là khả năng ngừa sự phát triển của
siêu vi trùng HPV-1, có thể nhờ tác động của
tannins, caffeic acid, phối hợp cùng rosmarinic
acid..
. Các
nghiên cứu ghi nhận ‘kem melissa’ giúp làm giảm
cơn bộc phát (outbreak) của herpes miệng = herpes
labialis (cold sores). Thử nghiệm dùng loại
cream (1% Lo 701- là trích tinh khô (dried
extract) từ lá melisse, theo tỷ lệ 1:70), Đặc
chế Đức là Loma Herpan, Mỹ là Herpilyn,
(loại OTC). khi thoa mỗi ngày 5 lần,
trong 5 ngày, có kết quả khá tốt về làm giảm
outbreak và giúp lành vết lở nhanh hơn, số mụn
rộp (blisters) ít hơn..(Phytomedicine 1999,
6).
Herpes Simplex
(4
giai đoạn của Herpes Simplex:
1- Dấu
hiệu báo trước, tuy không rõ ràng nhưng dễ lây
lan, có thể sốt, nhức đầu;
2- Mụn
xuất hiện, khi siêu vi nhiễm da, nổi nốt u đỏ
nhỏ;
3- Vết
loét do mụn vỡ ra, đau, đỏ, ứa nước, sau đó đóng
vảy;
4- Lành
lại sau từ 2-4 tuần, đôi khi chảy máu do vảy bị
nứt, nếu tự bóc vảy, có thể.. có thẹo).
D- Thực Phẩm
Trong
Nhà bếp, melissa được dùng như một loại rau
thơm, tạo mùi vị tươi khi ướp thịt heo,
thịt gà, cá.. Melisse được trộn trong các món salad,
súp.., nhét vài lá vào bụng cá, sau khi mổ bụng
và làm sạch, giúp tăng hương vị, khi hấp hay
nướng (lấy lá ra và bỏ trước khi ăn).
Tại Tây
Ban Nha, dùng làm thơm sữa.
Dùng
trong rượu mạnh như Benedictine và
Chartreuse.
Dùng trong
món dưa leo muối nổi tiếng Spreewalder
Gurken = Cornichons du
Spreewald, đặc sản của
vùng Brandebourg. Nhãn hiệu được Cộng đồng chung
Âu châu bảo vệ từ 1999.
Trong công
nghiệp thực phẩm có những dạng ‘chế phẩm’ như:
* Feuilles de
mélisse fraîches ou séchées (rắc để tạo thêm
hương vị cho món ăn sau khi chế biến xong).
Lemon Balm Pesto
Fleurs et feuilles séchées de
melisse citronnelle (hoa và lá mélisse
citronnelle đã phơi khô)
* Boissons
(Nước uống) và Desserts (món tráng miệng).
Lemon Balm Cake
5- Công nghiệp Mỹ phẩm, hương liệu, Nước
Hoa
* Trong công
nghiệp mỹ phẩm, Melisse được dùng như
là thành phần trong các mỹ phẩm chống lão hóa,
chống oxy hóa, chống sưng, giúp mau lành sẹo và
làm dịu, mát da..
Một
số chế phẩm như:
– Sérum anti-rides
bio Absolu Merveilleux (giúp da chống lão hóa,
nhăn, làm da mềm mại.
– Soin
anti-rides et anti-âges bio Merveilleux.
– Aqua
Merveilleuse (Sanoflore) (totum d’hydrolat et d’huile
essentiellede mélisse): tái sinh
tế bào, giúp da giãn (elastique), giúp tạo
collagen.
– Lotions à
base d’hydrolat de mélisse: làm dịu da, thoa
giúp bớt ngứa, gia tăng bền chắc cho biểu bì..
* Trong Hương
liệu và Nước hoa
Mùi
của melisse được đánh giá là: ngọt ngào kèm
hương chanh và đồng nội ‘earthy’. Tinh dầu
Melissa cũng gọi là Lemon balm oil có một mùi
hương đặc trưng, dùng trong khoa trị bệnh bằng
hương liệu (aromatherapy) và pha chế nước hoa
(perfumery).
* Mùi ‘lemon
và citrus’ là mùi chính của melisse, được tạo ra
do các tinh dầu trong cây.
* Mùi ‘cây
cỏ’, đồng nội (Earthy and grassy): Mùi tinh tế
và tiềm ẩn này tạo sự phức tạp ‘riêng’ cho hương
melissa.
* Hương ‘ngọt
ngào’ (sweetness) góp thêm cho tính cách riêng
của melissa.
* Trong một
số nước hoa; Notes melissa được pha trộn phối
hợp chung với các mùi hương của hoa nhài (jasmin)
và linh lan (lily-of the valley)..
Vài
Nước hoa tiêu biểu:
* Riiffs
Melissa Poudrée: Nốt top: chanh (melisse);
Nốt giữa’: jasmine và lily of the valley; Notes
căn bản gồm musk và sandalwood. Mùì tạo thân mật ‘cozy’
và khá tinh tế (sophisticated..)
Riffs Melissa
* Flor
de Pera e Melissa Natura: Kem nuôi da,
gốc Brazil, pha trộn các notes citrus, lemon
balm; pear blossom và lavender.. Mùi dịu mát đặc
biệt.
Flor de Perae
Melissa Natura
Melissa Charrier Parfums: Top notes gồm
các hương trái cây freesia, đào (peach) và dứa
(pineapples); Notes giữa (middle): hyacinth,
lili-of-the valley và hoa hồng (rose); Notes căn
bản (base): Iris, sandalwood và cedar..