Trần Minh Quân

 

 

Giá trị dinh dưỡng của trái vả

Roxburgh's Fig (Ficus auriculata)

                                                     Trần Minh Quân

 
                                              1695083468642blob.jpg

                                  Trái  Vả - Roxburgh's Fig (Ficus auriculata)  

   

       Trong số các cây thuộc giống Ficus, ngoài cây Sung ngọt (Ficus carica) còn một số cây khác cũng cung cấp quả ăn được như Vả (Ficus auriculata hay F. roxburghii), Sung ưu đàm (F. racemosa) .. Ngoài ra một số Ficus khác tuy cũng được gọi là Sung nhưng quả lại chát và không có giá trị kinh tế như Sung lông (F. hispida), Sung thằn lằn (F. pumila), Sung bộng (F. septica)..

        1695129370250blob.jpg     1695129688970blob.jpg

              Ficus carica - Sung ngọt                          Ficus racemosa - Sung ưu đàm

             1695130241224blob.jpg       1695130437026blob.jpg
                           Ficus hispida - Sung lông                       Ficus pumila - Sung thằn lằn


      1695132018340blob.jpg    1695133220743blob.jpg

       Ficus pumila - Sung thằn lằn              -      Ficus septica - Sung Quả sung bộng 

        Trong Thánh kinh, danh từ Figs được dịch sang tiếng Việt thành cây Vả, tuy nhiên các nhà thực vật học khi nghiên cứu về các loại cây tại Do thái đã ghi nhận tên khoa học của figs tại Thánh địa là Ficus carica; ngoài ra một cây khác: Sycomore được dịch sang tiếng Việt thành cây Sung, có tên khoa học chính thức là  Ficus sycomorus..

        Cây vả có nguồn gốc tại Ấn độ, Nepal, Mã lai, phân bố tự nhiên từ Ấn độ, Mã lai sang Thái lan, Việt Nam và cả tại Philippines, Indonesia.

        Quả vả rất được ưa chuộng tại Ấn độ và mọc hoang tại những vùng đồi, rừng thưa.

        Tại Việt Nam, cây vả mọc tự nhiên tại các vùng rừng ẩm nhiệt đới nơi các tỉnh vùng núi và cao nguyên phía Bắc và phía Nam. Vả cũng được trồng tại một số địa phương trong vườn hay cạnh bờ ao..

                           

                    1695132740537blob.jpg


                                                             Các loại sung

Tên khoa học và các tên khác:

        Ficus auriculata (các tên đồng nghĩa: F. roxburghii, F. macrophylla) thuộc họ thực vật Moraceae.

        Tại Việt Nam, cây còn được gọi là Ngõa.

        Tên Anh-Mỹ: Roxburgh fig, Elephant ear fig. 

                Pháp: Figuier de Roxburgh.

                Ấn độ: Demur, doomoor (Bengal); Trimmal, timal (Hindi). 

               Thái lan: Sai-pho.

Đặc tính thực vật:

         Cây thuộc loại tiểu mộc, cao 5-10m, phân nhánh nhiều, tán lá tỏa rộng. Cành to, đường kính đến 1cm, có lông cứng và thưa.

                                                1695084105887blob.jpg

                                                        Cây vả - Ficus auriculata

       

          lớn, mọc so le, hình trái xoan, nhiều khi tròn có hình tim ở gốc; chóp lá tròn hay có mũi nhọn. Phiến lá dài 15-35cm x 11-30cm, mềm, có lông ở mặt dưới, mép lá khía răng không đều, có 5-7 gân từ đáy. Cuống lá dài, to. Hoa thành cụm ở gốc thân hay trên cành già và trên các nhánh riêng không có lá.
 

            1695084319486blob.jpg1695084353298blob.jpg

                                Lá vả: mặt trước và mặt sau của lá - ficus  auriculata

                            

         Hoa rộng đến 4 cm, có lông vàng nhạt, sẽ phát triển thành quả phức to.

           - Hoa đực có 4 lá đài đỏ, 2 tiểu nhụy;

           - Hoa cái có vòi nhụy có lông dưới nuốm.

         Quả xếp dầy đặc trên thân, hình cầu dẹp, có nhiều lông thưa, cuống dài 4.5cm. Quả có đường kính khoảng 4.5cm, nặng trung bình 30-40g. Quả khi chín màu từ vàng đến đỏ xậm. Thịt bên trong đỏ nhạt. Quả chứa rất nhiều hạt nhỏ, thường ăn luôn với quả.

                                       

1695134603282blob.jpg

                                      Quả v 

          Cây vả trổ hoa khoảng tháng 3-4 và kết quả vào cuối tháng 6-7. Trung bình mỗi cây vả cho 32.4 kg quả/mỗi năm.

          Cây vả có khả năng thích ứng với cao độ từ 300 đến 2000m, với nhiều loại đất trồng và chịu được hạn nhờ ở hệ thống rễ lan khá rộng.
 
Thành phần hóa học của quả:

          Quả vả chứa độ ẩm khoảng 81% và khỏang 7.5% chất rắn hòa tan tổng cộng (total soluble solids). Tỷ lệ chất rắn hòa tan trong khối chất nhày ngọt chiếm 9.9 %. Quả hầu như không có vị chua: lượng đường tổng cộng chiếm 6.15%, đường khử=6.12%. Pectin chiếm 0.48%.

          Hàm lượng Vitamin C trong quả chỉ chiếm 3.35mg/100g. Quả chứa 0.59% chất đạm, nhiều khoáng chất (1.068%) bao gồm phosphorus (0.039), potassium (0.331), calcium (0.040), magnesium (0.045) và sắt (0.003).

          Quả tương đối khá ngọt và được xem là một trái cây ngon, chất nhầy trong quả còn ngon hơn cả quả khi ăn nguyên vẹn. Quả có thể được dùng làm mứt. Tuy nhiên quả chỉ được tiêu thụ tại địa phương, rất ít khi gặp tại Âu Mỹ. (Tại Hoa Kỳ, vả đã được nghiên cứu và trồng thử tại Florida và Missouri).

Thành phần của lá:


          Tại Ấn độ, cây vả được trồng ven đường hay những vùng đất không bằng phẳng gần những nông trại để lấy lá. Nông dân tại Ấn độ và Bhutan có truyền thống dùng lá vả để làm chất độn trong thức ăn gia súc, để nuôi trâu bò, trộn chung với rơm rạ. Phẩm chất của lá vả được xem là cao hơn rơm từ cây lúa.

Các kết quả phân chất ghi nhận:

                                      Lá Vả               Rơm từ lúa

- Protein thô                   12-14                     7.1
                  
- Chất sơ thô                   8-17                      39.2
 
Vài phương thức sử dụng:

        Vả được sử dụng trong dân gian để làm thuốc: Các bộ phận được dùng là quả non, quả chín phơi khô, rễ và có khi cả lá.

        Trái vả được xem là có vị ngọt, tính bình, tác động vào kinh mạch thuộc Vị và Đại tràng. Trái vả có tác dụng 'thanh nhiệt', 'tiêu đờm', lợi tiểu', trong khi đó rễ và lá có tác dụng 'Giải độc', 'tiêu thũng'.

        Trái vả có thể dùng để trị kiết lỵ, táo bón, trĩ. Trái còn được ngâm rượu (500 gram trái vừa chín) trong 1 lít rượu Vodka (hay rượu đế) trong 15-20 ngày, uống để trị suy nhược, ăn không ngon.

        Lá dùng làm gỏi, có thể giã nát để đắp vết thương.

        Nhựa có thể dùng bôi mụn cóc (như nhựa Sung ngọt).
 
Ghi chú:

Tại Đông Nam Á (Việt Nam, Thái Lan, Malaisia), Nam Trung Hoa còn có loài Ficus variegata hay Vả rừng (sung trổ). Tại Việt Nam cây thường gặp tại Thanh Hóa, Quảng Nam, Quảng Trị, Ninh thuận. Tại Úc cây, gặp tại Queensland và được gọi là Cauliflorus fig.

      1695135395985blob.jpg  

1695135569394blob.jpg


        
Ficus variegata hay Vả rừng (sung trổ)  - Cauliflorus fig.  (Úc)  

Cây thuộc loại tiểu mộc, phân nhánh đường kính 5-6cm. Thân rất nhẵn, vỏ thân màu nâu. Lá hình trái xoan ngược, tù và đôi khi tròn ở gốc. Phiến lá dầy, rất nhẵn; mặt trên bóng láng, mặt dưới sậm hơn. Mép lá có răng cưa không đều. Lá dài 13-25cm, rộng 5-15cm, cuống lá dài 2-4cm. Quả hình cầu, có cuống, xếp từng đôi hay đơn lẻ trên các nhánh từ gốc hay trên thân già. Quả khi xanh màu lục có sọc đỏ, khi chín màu đỏ, đường kính 3-4cm. Cây trổ hoa và ra quả trong các tháng 12 đến 2.
 

                                       1695136776840blob.jpg
 
                                                           Ficus variegata        


        Quả vả rừng khi chín có vị ngọt, có thể ăn tươi. Lá dùng làm thức ăn gia súc. Thân dùng làm gỗ.

        Tại Malaisia, vỏ cây dùng ăn trầu, sắc làm thuốc trị kiết lỵ.

                                                  
Trần Minh Quân
 
Tài liệu sử dụng:
Wild Fruits (C. Parmar & M.K Kaushal)
Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam, Tập 2 (Nhiều Tác giả-Viện Dược liệu)
Renfield's Garden (September 4, 2002)


 

 

 

Trở Về Trang Chính