|
Giá
trị
dinh
dưỡng
của
trái
vả
Roxburgh's
Fig
(Ficus
auriculata)
.png)
Trái
Vả - Roxburgh's
Fig
(Ficus
auriculata)
Trong số
các cây
thuộc
giống
Ficus,
ngoài
cây Sung
ngọt
(Ficus
carica)
còn một
số cây
khác
cũng
cung cấp
quả ăn
được như
Vả
(Ficus
auriculata
hay F.
roxburghii),
Sung ưu
đàm (F.
racemosa)
.. Ngoài
ra một
số Ficus
khác tuy
cũng
được gọi
là Sung
nhưng
quả lại
chát và
không có
giá trị
kinh tế
như Sung
lông (F.
hispida),
Sung
thằn lằn
(F.
pumila),
Sung
bộng (F.
septica)..
Ficus
carica
- Sung
ngọt
Ficus
racemosa
- Sung
ưu đàm
.png)
Ficus
hispida
- Sung
lông
Ficus
pumila - Sung
thằn lằn
Ficus pumila - Sung thằn lằn - Ficus septica - Sung Quả sung bộng
Trong
Thánh
kinh,
danh từ
Figs
được
dịch
sang
tiếng
Việt
thành
cây Vả,
tuy
nhiên
các nhà
thực vật
học khi
nghiên
cứu về
các loại
cây tại
Do thái
đã ghi
nhận tên
khoa học
của figs
tại
Thánh
địa là
Ficus
carica;
ngoài ra
một cây
khác:
Sycomore
được
dịch
sang
tiếng
Việt
thành
cây
Sung, có
tên khoa
học
chính
thức là
Ficus
sycomorus..
Cây vả
có nguồn
gốc tại
Ấn độ,
Nepal,
Mã lai,
phân bố
tự nhiên
từ Ấn
độ, Mã
lai sang
Thái
lan,
Việt Nam
và cả
tại
Philippines,
Indonesia.
Quả vả
rất được
ưa
chuộng
tại Ấn
độ và
mọc
hoang
tại
những
vùng
đồi,
rừng
thưa.
Tại Việt
Nam, cây
vả mọc
tự nhiên
tại các
vùng
rừng ẩm
nhiệt
đới nơi
các tỉnh
vùng núi
và cao
nguyên
phía Bắc
và phía
Nam. Vả
cũng
được
trồng
tại một
số địa
phương
trong
vườn hay
cạnh bờ
ao..
Các
loại
sung
Tên
khoa học
và các
tên
khác:
Ficus
auriculata
(các tên
đồng
nghĩa:
F.
roxburghii,
F.
macrophylla)
thuộc họ
thực vật
Moraceae.
Tại Việt
Nam, cây
còn được
gọi là
Ngõa.
Tên
Anh-Mỹ:
Roxburgh
fig,
Elephant
ear
fig.
Pháp:
Figuier
de
Roxburgh.
Ấn
độ:
Demur,
doomoor
(Bengal);
Trimmal,
timal
(Hindi).
Đặc
tính
thực
vật:
Cây thuộc
loại
tiểu
mộc,
cao
5-10m,
phân
nhánh
nhiều,
tán
lá
tỏa
rộng.
Cành
to,
đường
kính
đến
1cm,
có
lông
cứng
và
thưa.
.png)
Cây vả
- Ficus
auriculata
Lá lớn,
mọc
so
le,
hình
trái
xoan,
nhiều
khi
tròn
có
hình
tim
ở
gốc;
chóp
lá
tròn
hay
có
mũi
nhọn.
Phiến
lá
dài
15-35cm
x
11-30cm,
mềm,
có
lông
ở
mặt
dưới,
mép
lá
khía
răng
không
đều,
có
5-7
gân
từ
đáy.
Cuống
lá
dài,
to.
Hoa
thành
cụm
ở
gốc
thân
hay
trên
cành
già
và
trên
các
nhánh
riêng
không
có
lá.
.png) .png)
Lá
vả:
mặt
trước
và
mặt
sau
của
lá -
ficus
auriculata
Hoa rộng
đến 4
cm, có
lông
vàng
nhạt, sẽ
phát
triển
thành
quả phức
to.
- Hoa
đực có
4 lá đài
đỏ, 2
tiểu
nhụy;
- Hoa
cái có
vòi nhụy
có lông
dưới
nuốm.
Quả xếp
dầy đặc
trên
thân,
hình cầu
dẹp, có
nhiều
lông
thưa,
cuống
dài
4.5cm.
Quả có
đường
kính
khoảng
4.5cm,
nặng
trung
bình
30-40g.
Quả khi
chín màu
từ vàng
đến đỏ
xậm.
Thịt bên
trong đỏ
nhạt.
Quả chứa
rất
nhiều
hạt nhỏ,
thường
ăn luôn
với quả.
.png)
Quả
vả
Cây vả
trổ hoa
khoảng
tháng
3-4 và
kết quả
vào cuối
tháng
6-7.
Trung
bình mỗi
cây vả
cho 32.4
kg
quả/mỗi
năm.
Cây vả
có khả
năng
thích
ứng với
cao độ
từ 300
đến
2000m,
với
nhiều
loại đất
trồng và
chịu
được hạn
nhờ ở hệ
thống rễ
lan khá
rộng.
Thành
phần hóa
học của
quả:
Quả vả
chứa độ
ẩm
khoảng
81% và
khỏang
7.5%
chất rắn
hòa tan
tổng
cộng
(total
soluble
solids).
Tỷ lệ
chất rắn
hòa tan
trong
khối
chất
nhày
ngọt
chiếm
9.9 %.
Quả hầu
như
không có
vị chua:
lượng
đường
tổng
cộng
chiếm
6.15%,
đường
khử=6.12%.
Pectin
chiếm
0.48%.
Hàm
lượng
Vitamin
C trong
quả chỉ
chiếm
3.35mg/100g.
Quả chứa
0.59%
chất
đạm,
nhiều
khoáng
chất
(1.068%)
bao gồm
phosphorus
(0.039),
potassium
(0.331),
calcium
(0.040),
magnesium
(0.045)
và sắt
(0.003).
Quả
tương
đối khá
ngọt và
được xem
là một
trái cây
ngon,
chất
nhầy
trong
quả còn
ngon hơn
cả quả
khi ăn
nguyên
vẹn. Quả
có thể
được
dùng làm
mứt. Tuy
nhiên
quả chỉ
được
tiêu thụ
tại địa
phương,
rất ít
khi gặp
tại Âu
Mỹ. (Tại
Hoa Kỳ,
vả đã
được
nghiên
cứu và
trồng
thử tại
Florida
và
Missouri).
Thành
phần của
lá:
Tại Ấn
độ, cây
vả được
trồng
ven
đường
hay
những
vùng đất
không
bằng
phẳng
gần
những
nông
trại để
lấy lá.
Nông dân
tại Ấn
độ và
Bhutan
có
truyền
thống
dùng lá
vả để
làm chất
độn
trong
thức ăn
gia súc,
để nuôi
trâu bò,
trộn
chung
với rơm
rạ. Phẩm
chất của
lá vả
được xem
là cao
hơn rơm
từ cây
lúa.
Các
kết
quả
phân
chất
ghi
nhận:
Lá
Vả
Rơm từ
lúa
-
Protein
thô
12-14
7.1
- Chất
sơ
thô
8-17
39.2
Vài
phương
thức sử
dụng:
Vả được
sử dụng
trong
dân gian
để làm
thuốc:
Các bộ
phận
được
dùng là
quả non,
quả chín
phơi
khô, rễ
và có
khi cả
lá.
Trái vả
được xem
là có vị
ngọt,
tính
bình,
tác động
vào kinh
mạch
thuộc Vị
và Đại
tràng.
Trái vả
có tác
dụng
'thanh
nhiệt',
'tiêu
đờm',
lợi
tiểu',
trong
khi đó
rễ và lá
có tác
dụng
'Giải
độc',
'tiêu
thũng'.
Trái vả
có thể
dùng để
trị kiết
lỵ, táo
bón,
trĩ.
Trái còn
được
ngâm
rượu
(500
gram
trái vừa
chín)
trong 1
lít rượu
Vodka
(hay
rượu đế)
trong
15-20
ngày,
uống để
trị suy
nhược,
ăn không
ngon.
Lá
dùng
làm
gỏi,
có
thể
giã
nát
để
đắp
vết
thương.
Nhựa có
thể dùng
bôi mụn
cóc (như
nhựa
Sung
ngọt).
Ghi
chú:
Tại
Đông
Nam
Á
(Việt
Nam,
Thái
Lan,
Malaisia),
Nam
Trung
Hoa
còn
có
loài
Ficus
variegata
hay
Vả
rừng
(sung
trổ).
Tại
Việt
Nam
cây
thường
gặp
tại
Thanh
Hóa,
Quảng
Nam,
Quảng
Trị,
Ninh
thuận.
Tại
Úc
cây,
gặp
tại
Queensland
và
được
gọi
là
Cauliflorus
fig.

Ficus
variegata
hay
Vả
rừng
(sung
trổ)
- Cauliflorus
fig.
(Úc)
Cây
thuộc
loại
tiểu mộc,
phân
nhánh
đường
kính
5-6cm.
Thân rất
nhẵn, vỏ
thân màu
nâu. Lá
hình
trái
xoan
ngược,
tù và
đôi khi
tròn ở
gốc.
Phiến lá
dầy, rất
nhẵn;
mặt trên
bóng
láng,
mặt dưới
sậm hơn.
Mép lá
có răng
cưa
không
đều. Lá
dài
13-25cm,
rộng
5-15cm,
cuống lá
dài
2-4cm.
Quả hình
cầu, có
cuống,
xếp từng
đôi hay
đơn lẻ
trên các
nhánh từ
gốc hay
trên
thân già.
Quả khi
xanh màu
lục có
sọc đỏ,
khi chín
màu đỏ,
đường
kính
3-4cm.
Cây trổ
hoa và
ra quả
trong
các
tháng 12
đến 2.
.png)
Ficus
variegata
Quả
vả rừng
khi chín
có vị
ngọt, có
thể ăn
tươi. Lá
dùng làm
thức ăn
gia súc.
Thân
dùng làm
gỗ.
Tại
Malaisia,
vỏ cây
dùng ăn
trầu,
sắc làm
thuốc
trị kiết
lỵ.
Trần Minh Quân
Tài
liệu sử
dụng:
Wild
Fruits
(C.
Parmar &
M.K
Kaushal)
Cây
thuốc và
Động vật
làm
thuốc ở
Việt
Nam, Tập
2 (Nhiều
Tác
giả-Viện
Dược
liệu)
Renfield's
Garden
(September
4, 2002)
|
|
|