|
HỒ
LÔ BA (FENUGREEK) GIA VỊ HAY VỊ THUỐC ?
Tên Hồ
lô ba
(do
nguồn
gốc từ
Trung
dược) và
Fenugreek
có phần
xa lạ
với đa
số người
Việt
trong và
ngoài
nước
nhưng
thật ra
rất quen
thuộc
với
những bà
nội trợ
hay dùng
đến bột
"cà ri".
Tại
nhiều
nơi trên
thế giới,
Fenugreek
không
những
được
trồng để
lấy hạt
làm gia
vị,
nhưng
còn được
dùng làm
rau và
làm
thuốc
trị bệnh.
Cây cũng
được
trồng
thử tại
một số
địa
phương
tại Việt
Nam
Fenugreek
được xem
là một
trong
những
cây đầu
tiên
được
nhân
loại
trồng.
Cây đã
được
trồng
tại vùng
thung
lũng
sông
Nile từ
1000 năm
truớc
Tây lịch.
Các văn
bản tìm
được
trong
các ngôi
cổ mộ Ai
cập đã
mô tả
cách nấu
nướng
fenugreek
khi dùng
làm thực
phẩm và
cách chế
biến cây
để làm
thuốc (trị
nóng sốt).
Hạt
fenugreek
khô đã
được tìm
thấy
trong mộ
của
Tutankhamen.
Hạt cháy
khô tìm
được tại
Tell
Halal
(Iraq)
được
định
bằng
Carbon
phóng xạ
cho thấy
niên đại
khoảng
4000 năm
(trước
Tây lịch)
Người Hy
lạp và
La mã (theo
Cato) đã
trồng
cây để
nuôi gia
súc, và
để làm
thuốc.
Hippocrates
đã dùng
fenugreek
để trị
nóng sốt.
Người Ai
cập dùng
cây làm
một
trong
các hợp
chất để
xông
hương và
để ướp
xác.
Fenugreek,
được
ghi
trong
lịch
sử
Do
thái,
như
là
một
võ
khí
chống
ngoại
xâm!
Năm
66
-70
Tây
lịch,
Tướng
La
Mã
(sau
thành
Hoàng
đế)
Vespasian
bao
vây
thành
Jerusalem
và
ra
lệnh
cho
quân
sĩ
san
bằng
bức
tường
thành.
Phương
thức
phòng
thủ
của
dân
Jerusalem
là
đổ
nước
sôi
hay
dầu
sôi
vào
quân
xâm
lấn
dùng
thang
trèo
lên
mặt
thành
và
theo
Sử
gia
Flavius
Josephus
thì
người
Do
thái
đã
thêm
dầu
fenugreek
vào
nước
sôi
để
gây
tăng
thêm
sự
trơn
trợt
cho
quân
La
mã..
Fenugreek
có nguồn
gốc tại
những
vùng
quanh
Địa
Trung
hải và
Tãy Á.
Cây được
các tu
sĩ dòng
Benedictins
đưa về
Trung Âu
từ thế
kỷ thứ 9
và
Charlemagne
(812) đã
cổ võ
việc sử
dụng cây
này. Cây
cũng
được du
nhập vào
Trung
Hoa từ
thời nhà
Tống
(1057
tây
lịch).
Phụ
nữ Ả
rập,
từ
Libya
đến
Syria
ăn
hạt
fenugreek
rang
để
tăng
cân
và
giúp
tạo
thân
hình
thẩm
mỹ
theo
trường
phái
Ruben
(cho
đến
thế
kỷ
19,
thân
hình
phụ
nữ
được
xem
là
đẹp
cần
phải
phát
triển,
nẩy
nở
và
đều
đặn
nhất
là
các
phần
hông..).
Các
vị
"chủ
nhân"
của
các
harem
ăn
hạt
để
làm
thuốc
kích
thích
tình
dục
(aphrodisiac),
hiện
nay
tại
nhiều
nơi
trong
thế
giới
Ả
rập
vẫn
xem
hạt
fenugreek
như
một
vị
thuốc
kích
dục
(?).
Các
bà
mẹ
nuôi
con
tại
Ethopia
ăn
thêm
fenugreek
để
giúp
có
nhiều
sữa.
Tên
khoa học
và các
tên gọi
khác:
Trigonella
foenum-graecum thuộc
họ thực
vật
fabaceae.
Tên
Anh-Mỹ
khác
Greek
hay,
Bird's
Foot.
Pháp:
Fenugrec;
Đức:Bockshornklee;
Tây Ban
nha:
Alholva;
Ý: Fieno
Greco;
Nhật:
Koroha.
Tên Ấn
độ:
Methi,
Methi
saag;
Phạn:
Methika.
Tên
Trigonella,
do
tiếng
Hy
lạp
có
nghĩa
là
có 3
cạnh,
do
hình
dạng
của
hoa.
Tên
Anh
ngữ
Fenugreek,
do "foenum-graecum",
tiếng
latinh
có
nghĩa
là
rơm
Hy
lạp:
cây
đã
được
dùng
để
trộn
thêm
các
rơm
rạ
có
phẩm
chất
kém
để
tạo
mùi
thơm.
Trước
đây
tại
Hy
lạp,
fenugreek
được
trộn
vào
các
rơm
rạ
bị
mốc
hay
bị
hư
hỏng
do
côn
trùng
phá
hoại,
giúp
rơm
trở
thành..dễ
ăn
hơn,
và
hơn
nữa
trong
thiên
nhiên
trâu
bò
và
ngựa
khi
đau
ốm
chỉ
chịu
ăn
fenugreek.
.png)
Đặc
tính
thực vật:
Cây
thuộc
loại
thảo
hằng
niên,
có
thân
tròn
không
lông,
mọc
thẳng
đứng,
có
thể
cao
60-80cm,
rễ
phát
triển.
Lá mọc
so
le,
có
mang
3 lá
chét
(lá
phụ)
xoan
ngược,
dài
1.5-2cm,
rộng
0.5-1cm.
mép
lá
có
răng
cưa
ở
phân
nửa
phần
trên,
phiến
có 4
đôi
gân
phụ.
Lá
có
cuống
ngắn
4-6mm.
.png)
Lá cây Hồ lô ba = Fenugreek
Hoa màu
vàng
nhạt
hay
trắng,
mọc
ở
nách
lá,
đơn
độc
hay
từng
đôi.
Tràng
hoa
dài
gấp
đôi
đài
hoa.
.png)
Hoa Hồ
lô
ba
Quả hình
trụ
thẳng,
hơi
cong,
dài
10-12cm,
rộng
4-5mm,
có
mỏ
nhọn
ở
đầu,
chứa
10
đến
20
hạt.
Hạt
màu
nâu
sáng,
hay
vàng-nâu,
hình
thoi,
dẹp,
rất
cứng
(3x4mm),
nhiều
cạnh,
có
mùi
thơm.
Cây
trổ
hoa
vào
các
tháng
4-6
và
ra
quả
trong
các
tháng
7-8..
.png)
Trái
và hạt Hồ
lô
ba
Fenugreek
thuộc
loại có
chu kỳ
sống
ngắn, có
thể thu
hoạch
sau 3-4
tháng
gieo
trồng và
mỗi năm
có thể
trồng
xoay
vòng đến
3 lứa.
Các nước
xuất
cảng
feugreek
hiện nay
là: Ấn
độ, Pháp,
Lebanon,
Ai cập
và
Argentina.
* Thành
phần hóa
học:
Thành
phần hóa
học của
hạt
fenugreek:
Chất
nhày
(2.5-45%
gồm các
mannogalactans)
Chất đạm
(25-30%)
trong đó
có các
amino
acids
như
choline-4-hydro
xyisoleucine,
lysine,
tryptophan,
histidine,
arginine,
cystine
và
tyrosine..
Các
chất ức
chế
proteinase
Các
saponins
loại
steroid
(1.2-1.5%)
gồm cả
các
trigofoenosides
từ A đến
G,
alycones
gồm
diosgenin,
yamogenin,
gitogenin,
smilagenin,
tigogenin,
yuccagenin..
Ester
loại
steroid
saponin-peptid
như
foenugraecin.
Các
sterols:
chất
chính là
24xi-ethyl-cholest-
5-en-3beta-
ole
(65%).
Flavonoids
gồm
isoorientin,
isovitexin,
orientin
arabinoside,
isoorien
tin
arabinoside,
saponaretin,
vicenin-1,
vicenin-2,
vitexin.
Trigonelline
(coffearin,
N-methylbetaine
của
nicotinic
acid,
0.4%)
Tinh dầu
dễ bay
hơi
(0.01%):
hợp chất
tạo mùi
3-hydroxy-4,
5-dime
thyl-2
(5H)-furanone.
Dược
tính
của
fenugreek:
Fenugreek
và Tiểu
đường:
Hạt
fenugreek
là
một
trong
số
ít
dược
thảo
được
WHO
và
nhiều
quốc
gia
công
nhận
là
có
hoạt
tính
giúp
hạ
đường
trong
máu.
Rất
nhiều
nghiên
cứu
khoa
học
đã
giúp
chứng
minh
khả
năng
hạ
đường
của
hạt
fenugreek,
khi
thử
trên
thú
vật
và
cả
khi
thử
nghiệm
lâm
sàng
nơi
người
(Phytotherapy
Research
Số
12-1998).
.png)
Hạt
fenugreek,
sử dụng
đơn độc,
hay dùng
phối hợp
với
vanadate,
tạo ra
một sự
bình
thường
hóa các
men
glucose-6-phosphata
se và
fructose-1,6-
biphosphatase
trong
gan và
thận của
chuột bị
tiểu
đường.
Hoạt
tính hạ
đường
tăng cao
hơn khi
dùng
dưới
dạng
phối hợp.
Hạt
fenugreek
cũng có
hoạt
tính
giúp
bình
thường
hóa hoạt
động của
men
glyoxalase
I nơi
gan của
chuột bị
tiểu
đường
(Indian
Journal
of Expe
rimental
Biology
Số
37-1999).
Khi cho
chuột
bình
thường
và chuột
bị gây
tiểu
đường
bằng
alloxan
dùng
fenugreek
ở những
liều 2
và 8g/kg
hiệu ứng
hạ
glucose
trong
máu xẩy
ra rất
rõ rệt,
hiệu ứng
này tùy
thuộc
vào liều
sử dụng
(Journal
of
Ethnopharmacology
Số
75-2001).
Khi
thử
trên
thỏ,
hạt
và
các
dịch
chiết
khác
nhau
đều
có
những
hoạt
tính
hạ
đường
(thử bằng
test
độ
dung
nạp
glucose).
Phần
chứa
nhiều
alkaloid
là
phần
có
hoạt
tính
mạnh
nhất
(Indian
Journal
of
Pharmaceutical
Science
Số
May-June
1987).
Các
nghiên
cứu thực
hiện
trên
những
người tự
nguyện
đều ghi
nhận tác
dụng hạ
đường
của
fenugreek,
nhất là
nơi
những
bệnh
nhân bị
tiểu
đường,
không
tùy
thuộc
vào
insulin
(NIDDM):
trong
một thử
nghiệm
lâm sàng
có kiểm
soát,
hoạt
tính của
3 chế
phẩm từ
hạt (hạt
tươi,
hạt đun
sôi và
hạt nẩy
mầm)
được
dùng cho
6 người
bình
thường
và 6
bệnh
nhân (các
bệnh
nhân
dùng hạt
tươi và
hạt nẩy
mầm),
kết quả
cho thấy
hạt tươi
và hạt
nẩy mầm
làm hạ
glucose
nơi tất
cả 12
người,
và hạt
đun sôi
không có
tác dụng
(Journal
of Food
Science
and
Techno
logy Số
33-1996).
Một thử
nghiệm
khác
trên 21
bệnh
nhân
NIDDM
ghi nhận
liều 15g
hạt cho
dùng một
lần
trong
bữa ăn
gây hạ
glucose
trong
máu và
không
gây
những
thay đổi
về nồng
độ
insulin
(Nutrition
Research
Số
16-1996)..
Ngoài
ra,
cũng
trong
một
thử
nghiệm
trên
15
bệnh
nhân
NIDDM,
cho
dùng
hạt
fenugreek
đã
loại
chất
béo
trong
10
ngày,
gây
hạ
glucose
trong
máu
(nhịn
ăn
đêm
trước)
và
giảm
lượng
glucose
đào
thải
qua
nước
tiểu
đến
64%.
Thử
nghiệm
này
cho
rằng
cơ
chế
tạo
ra
hạ
đường
trong
máu
của
fenugreek
có
thể
do
hiệu
ứng
của
chất
sơ
dinh
dưỡng
(Soluble
dietary
fiber)
trên
sự hấp
thu
glucose
nơi
ruột
và
do
sự
cải
thiện
hoạt
tính
ngoại
vi
của
insulin
(Nutrition
Research
Số
10-1990
;
British
Journal
of
Nutri
tion
Số
97-2007).
Hạt
fenugreek
cũng làm
giảm
được một
số triệu
chứng
của tiểu
đường
như khát
nước, đi
tiểu
nhiều
lần, yếu
mệt và
sụt cân.
Tại các
bệnh
viện ở
Trung
Hoa,
Saponins
tổng
cộng
trích từ
hạt
fenugreek
đã được
dùng
phối hợp
với
sulfonylureas
để trị
tiểu
đường
cho thấy
sự phối
hợp đem
lại
những
kết quả
rất tốt,
giúp
bệnh
nhân
giảm
được
sulfonylurea
và kiểm
soát
được mức
đường
hữu hiệu
hơn
(Chinese
Journal
of
Integrative
Medicine
Số
14-2008).
Fenugreek
và
Cholesterol:
Một số
nghiên
cứu thực
nghiệm
nơi
chuột đã
chứng
minh
được
hoạt
tính làm
hạ
Cholesterol
của
fenugreek
(Current
Science
Số
51-1982).
Hạt
fenugreek
giúp
ngừa gia
tăng
cholesterol
nơi
chuột
cho ăn
các thực
phẩm hay
một chế
độ ăn
uống
chứa
nhiều
cholesterol.
(British
Journal
of
Nutrition
Số
69-1993).
Một
acid
amin
đặc
biệt,
trích
từ
fenugreek:
4-hydroxyisoleucine
5 có
khả
năng
gây
hạ
triglycerides
trong
máu
đến
33%,
cholesterol
tổng
cộng
đến
22%
và
acid
béo
tự
do
14%,
cùng
với
sự
tăng
tỷ
lệ
HDL-C/TC
đến
39%
khi
thử
trên
chuột
bọ
bị
gây
cao
mỡ
trong
máu
(Bio
organic
&
Medicinal
Chemistry
Letters
Số
15-2006).
Saponin
loại
steroid,
trích từ
hạt
fenugreek,
thử nơi
chuột,
với liều
mỗi ngày
12.5g/300g
trọng
lượng cơ
thể làm
hạ rõ
rệt
cholesterol
trong
huyết
tương ở
cả chuột
bình
thường
lẫn
chuột bị
tiểu
đường
(Steroids
Số
60-1995).
Hoạt
tính
chống
sưng cũa
Fenugreek:
Hạt
fenugreek
đã được
nghiên
cứu về
tác dụng
chống
sưng,
thử
nghiệm
trên
chuột
lang
(albino)
bị gây
viêm
bằng các
chất gây
sưng
khác
nhau.
Hoạt
tính
chống
sưng
được so
sánh với
sodium
salicylate.
Dịch
chiết từ
hạt bằng
ether có
hoạt
tính
mạnh
nhất
(Indian
Drugs Số
February
1982).
Một thử
nghiệm
khác
cũng
trên
chuột,
bị gây
đau bằng
acid
acetic,
bằng
nhiệt (bị
đặt trên
đĩa nung
nóng),
dịch
chiết từ
hạt
fenugreek
được so
sánh với
pentazocine
và
diclofenac,
kết quả
ghi nhận
phần tan
trong
nước của
dịch
chiết có
hoạt
tính
chống
sưng và
làm giảm
đau khá
mạnh.(Asian
Pacific
Journal
of
Clinical
Nutrition
Số
16-2007).
Khả
năng
kháng
sinh:
Fenugreek
đã được
thử
nghiệm
về hoạt
tính
kháng
sinh
trên 26
loại vi
trùng
gây bệnh
và cho
thấy khả
năng
kháng
sinh khá
rộng
(Natural
Products
Science
Số
7-2001):
Dầu béo
và Phần
không bị
savon-hóa,
trích từ
hạt đều
có hoạt
tính
kháng
sinh khá
mạnh.
Hoạt
tính
diệt ký
sinh
trùng
Sốt rét:
Dịch
chiết
bằng các
dung môi
khác
nhau từ
lá
fenugreek
đã được
thử
nghiệm
"in
vitro"
trên các
chủng ký
sinh
trùng
gây sốt
rét
Plasmodium
falciparum
(gồm các
chủng
còn mẫn
cảm và
các
chủng đã
kháng
chloro
quin).
Kết quả
cho thấy,
dịch
chiết
bằng
ethanol
50% có
hoạt
tính
diệt ký
sinh
trùng
mạnh
nhất ở
liều
IC50=8.75
+/- 0.35
microg
ml(-1)
đối với
plasmodium
còn phản
ứng với
chloroquin
và ở
liều
IC50 =
10.25
+/- 0.35
microg
ml(-1)
đối với
plasmodium
đã kháng
chloroquin.
Các dịch
chiết
bằng
butanol,
chloroform
và ethyl
acetate
tuy cũng
có tác
dụng
nhưng
yếu hơn
nhiều
(Evidence
Based
Complementary
and
Alternative
Medi
cines Số
2 tháng
5,
2008).
Hạt
fenugreek
có khả
năng
diệt
được ấu
trùng (lăng
quăng)
của muổi
đòn sóc
Anopheles
pharoensis:
Nồng độ
cao hơn
0.5% có
thể diệt
toàn bộ
số lượng
lăng
quăng
(Egyptian
Society
of
Parasitology
Số
36-2006).
Khả
năng
chống
oxy-hóa:
Nhiều
nghiên
cứu
trong
công
nghiệp
thực
phẩm đã
cho thấy
hạt
fenugreek
có thể
hữu hiệu
khi dùng
làm chất
chống
oxy-hóa
để bảo
quản
thực
phẩm.
Trong
một thử
nghiệm,
tiềm
năng
chống
oxy-hóa
của
fenugreek
có thể
so sánh
được với
các chất
kháng
oxy tổng
hợp như
butylated
hydroxyanisole
và
butylated
hydroxytoluene
(Meat
Science
Số
57-2001);
khả năng
kháng-oxy
của hạt
fenugreek
hoạt
động rất
tốt khi
dùng bảo
quản
thịt heo
xay (cả
thịt
tươi lẫn
thịt
đông
lạnh).
Khả
năng bảo
vệ gan
chống
tác hại
của rượu:
Các
polyphenols
trích từ
hạt
fenugreek
được
nghiên
cứu về
khả năng
bảo vệ
gan (nơi
chuột)
chống
lại tác
hại của
rượu:
Chuột bị
gây hư
gan bằng
cho uống
thenol
6g/kg
mỗi ngày
liên tục
trong 60
ngày:
Các
triệu
chứng hư
gan bao
gồm các
thông số
về hoạt
động của
các men
gan,
giảm hạ
các nhóm
sulfohydryl,
gia tăng
các nhóm
carbonyl
proteins.
Kết quả
ghi nhận
là
fenugreek
có hoạt
tính
tương tự
như
silymarin
(dùng
làm đối
chứng),
giúp cải
thiện
được các
thay đổi
bệnh lý
ở gan
gây ra
do rượu
(Cell
Biology
and
Toxicology
Số
24-2008).
Khả
năng
ngừa và
trị sạn
thận:
Hạt
fenugreek
được sử
dụng tại
Maroc để
ngừa và
trị sạn
thận.
Nghiên
cứu tại
ĐH
Cadi-Aỳyad,
Marrakech
(Maroc)
ghi nhận
hiện
tượng
calci
hóa
trong
thận và
lượng
calcium
tổng
cộng nơi
các tế
bào thận
của
chuột
được cho
uống
dịch
chiết từ
hạt
fenugreek
thấp hơn
rõ rệt
so với
nhóm đối
chứng.
Fenugreek
cho thấy
tương
đối hiệu
nghiệm
trong
tác dụng
ngăn
ngừa sự
tạo sạn
calcium
oxalate.(Phytothera
py
Research
Số
21-2007).
Fenugreek
và Ung
thư:
Trong
một thử
nghiệm
thực
hiện tại
Đại học
UAE
(United
Arab
Emirates)
hạt
fenugreek
cho thấy
có hoạt
tính bảo
vệ được
chuột
chống
lại ung
thư vú,
gây ra
bởi
7,12-dimethylbenz
(alpha)
anthracene
(DMBA).
Liều 200
mg/kg
trọng
lượng cơ
thể ức
chế rõ
rệt hiện
tượng
phì vú
do DMBA
tạo ra,
hoạt
tính này
được
giải
thích là
do gây
ra hiệu
ứng tế
bào được
mã hóa
để tự
diệt
(apoptosis)
(Cell
Biology
International
Số
29-2005).
Dịch
chiết
từ
hạt
fenugreek
bằng
alcohol,
khi
thử
nghiệm
trên
chuột
bị
gây
ung
thư
loại
Ehrlich
ascites
carcinoma
(EAC)
cho
thấy
khi
chích
qua
màng
phúc
toan
(trước
và
sau
khi
chuột
bị
cấy
tế
bào
ung
thư),
fenugreek
có
thể
ức
chế
sự
tăng
trưởng
của
tế
bào
ung
thư
đến
70%
(Phytotherapy
Research
Số
15-2001).
Độc
tính
và
liều
lượng
khi
sử
dụng
làm
thuốc:
Fenugreek
đã được
sử dụng
từ lâu
đời để
làm thực
phẩm và
không
gây ra
những
phản ứng
độc hại
nào. Các
nghiên
cứu về
độc tính
cho thấy,
cho
chuột
thử
nghiệm
ăn liên
tục
trong 90
ngày
những
liều
lượng
cao từ 2
đến 4
lần các
liều
dùng trị
bệnh,
đều
không
gây tác
hại nào
trên gan
và máu (Phytotherapy
Research
Số
10-1996).
Ngoài ra,
khi cho
các bệnh
nhân
tiểu
đường
dùng hạt
theo
liều
25g/ngày,
trong 24
tuần
liên tục,
không
thấy có
sự biến
đổi
trong
các
thông số
về hoạt
động của
gan,
thận và
máu
(Nutrition
Research
Số
16-1996).
Tuy
nhiên,
bệnh
nhân
tiểu
đường,
khi
dùng
thêm
fenugreek,
cũng
cần
thông
báo
cho
bác
sĩ
điều
trị
để
tránh
tình
trạng
mức
đường
hạ
quá
thấp
khi
dùng
chung
với
các
thuốc
trị
tiểu
đường
khác.
Liều
thông
thường: Hạt
tán
thành
bột là
6g/ngày
Theo
Commission
E (Đức),
hạt
fenugreek
được
chấp
nhận làm
thuốc
giúp ăn
ngon
miệng
dưới
dạng trà
dược (ngâm
0.5g
trong
240ml
nước
lạnh
trong 3
giờ,
lược và
hâm nóng
lại, có
thể thêm
mật ong
khi uống)
và dùng
bên
ngoài
trị sưng
da dưới
dạng bột
nhão để
đắp.
Fenugreek
trong Y
dược dân
gian:
Y dược
cổ
truyền
Trung
Hoa: Dùng
hạt làm
dược
liệu,
gọi là
Hồ lô bá.
Hạt được
xem là
có vị
đắng,
tính ấm
có các
tác dụng
"ôn thận",
tán hàn
và chỉ
thống.
Dùng trị
các
trường
hợp trị
tạng
thận suy
yếu, đau
bao tử,
đau ruột,
sưng
chân,
thấp gây
ra đau
khớp khó
đi lại.
Tại Hoa
Kỳ: Những
người di
dân đầu
tiên đến
miền Đất
mới, đã
dùng
fenugreek
làm một
phương
thuốc
giúp
điều hòa
kinh
nguyệt.
Một hỗn
hợp dược
thảo có
chứa
fenugreek
rất nổi
tiếng
trong
thế kỷ
19 tại
Mỹ là
Lydia E
Pinkham's
Vegetable
Compound,
được
quảng bá
như một
dược
phẩm trị
"female
weakness"
(khó
chịu khi
có
kinh).
Nhà sản
xuất đã
"dám"
quảng
cáo "Đây
là một
khám phá
lớn nhất
về y học
từ khi
..có
lịch
sử", gây
ra những
phản ứng
đưa đến
việc
Chính
phủ đặt
ra Cơ
quan FDA
để kiểm
soát các
"quảng
cáo về
trị
bệnh".
Hiện nay
trên thị
trường
các chất
hỗ trợ
dinh
dưỡng
vẫn còn
bán
Pinkham's
Compound
nhưng
hợp chất
không
còn chứa
fenugreek.
Tại
Ấn độ: Cây
non và
lá có
mùi thơm
được
dùng làm
rau ăn,
hạt dùng
làm gia
vị chế
biến cà
ri. Cây
và lá
tán
thành
bột,
trộn
nước làm
thành
khối
nhão để
đắp trị
phỏng và
đắp trên
da đầu
để giúp
chống
bạc tóc.
Lá được
dùng
uống trị
ăn không
tiêu và
bệnh về
mật,
nước sắc
toàn cây
dùng trị
bệnh
huyết
trắng.
Hạt được
dùng cho
các sản
phụ để
tăng
sữa.
Hạt, sau
khi rang
chín,
tán
thành
bột,
được
dùng để
trị kiết
lỵ, và
tại vùng
Hymalaya,
cho trẻ
em dùng
để trị
sán lãi.
Fenugreek
dùng làm
Rau và
Gia vị:
Đọt
non
của
cây
được
băm
vụn,
trộn
chung
vào
các
món
salad.
Lá
được
dùng
làm
rau.
Hạt
màu
vàng
có
vị
hơi
đắng,
gần
như
cần
tây
và
phong
(maple).
- Un Tas De Légumes Verts Frais De Fenugrec
(Một mớ rau hồ lô ba xanh tươi)
- Fenugrec en poudre (Hạt hồ lô ba xay nhuyễn thành bột để làm gia vị)
Trong ẩm
thực,
phương
pháp sử
dụng hạt
tốt nhất
là rang
khô
trước
khi dùng
để làm
mất vị
đắng (tuy
nhiên
nếu rang
quá độ,
hạt sẽ
mất ngon).
Hạt cũng
có thể
để nẩy
mầm như
giá đậu,
mustard
và ăn
như
salad.
Hạt
nghiền
thành
bột là
một
thành
phần
quan
trọng
trong
bột cà
ri Ấn độ,
trong
món
halva
của
người Do
thái.
Hạt khá
cứng,
nên
không
thể tán
thành
bột bằng
cách
dùng
chày và
cối, mà
phải
dùng đến
một máy
xay
chuyên
biệt.
Dầu
fenugreek
có vị
của
maple,
có thể
dùng
thay
maple
khi nấu
nướng.
Đặc
tính
dinh
dưỡng
của hạt
fenugreek:
100g
hạt chứa:
-
Calories
323
- Chất
đạm
23.00g
- Chất
sơ
10.07g
- Chất
béo
6.41g
-
Calcium
176mg
- Sắt
33.53mg
-
Magnesium
191mg
-
Phosphorus
296mg
-
Potassium
770mg
-
Sodium
67mg
- Kẽm
2.5mg
- Đồng
1.11mg
-
Manganese
1.228mg
-
Thiamine
0.322mg
-
Riboflavine
0.366mg
-
Niacin
1.640mg
- Folic
acid
57µg
-
Vitamin
C
3.00mg
Fenugreek
được
dùng
trong
nhiều
món ăn
tại
nhiều
quốc gia
khác
nhau.
Tại
Ấn
độ,
hạt
fenugreek
ngoài
vai
trò
trong
cà
ri,
còn
là
một
trong
3
chất
của
idli
hay
dosa
(Tamil);
là
một
trong
thành
phần
nguyên
liệu
để
làm
loại bánh
mì
khakhra.
Tại
Ethiopia
và
Erythrea,
hạt
dùng
trong bánh
mì
injera/taita,
loại
bánh
truyền
thống
của
vùng
Sừng
Phi
châu.
.png)
Injera
Tại
Thổ
Nhĩ
Kỳ,
hạt
(gọi
là
çemeni)
dùng
trong
bột
cay
để
làm
món pastirma.
.png)
Pastirma çemeni
Tại
Ai
cập,
hạt
được
đun
sôi,
thêm
đường,
để
món
nước
uống
rất
được
ưa
thích
trong
những
tháng
mùa
Đông.
Tại
những
nơi
khác
trong
vùng
Trung
Đông,
fenugreek
có
mặt
trong
nhiều
món
kẹo,
bánh,
chè
ngọt.
Món
bánh
ngọt
tráng
miệng Helba (bánh
phủ
đường
hay
si
rô
maple,
rắc
thêm
hạt
fenugreek
trên
mặt)
rất
được
ưa
thích
trong
các
dịp
lễ
lạc
Hồi
giáo.
.png)
Helba - Fenugreek cake
Người
Do
Thái có
phong
tục
ăn
fenugreek
trong
bữa
ăn
của
đêm
thứ
nhất
hay
thứ
nhì
của
lễ
Rosh
Hashana
(Năm
Mới).
Fenugreek
for
Rosh
Hashanah
Trần Minh Quân 2/2009
Tài liệu sử dụng:
- Whole Foods Companion (Dianne Onstad)
- PDR for Herbal Medicines
- Major Herbs of Ayurveda (Elizabeth Williamson)
- Cây có Vị thuốc ở Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ)
- The Book of Spices (Frederic Rosengarten Jr)
|