Trong bài 'Huế,
những sắc lá nguyên sơ',
đăng trên mạng '
khoahoc.net'
nhà văn Trần Hạ Thấp đã viết
về lá Bồ đề như sau: 'Nhà
thiền chuyên giải trừ thanh,
hương, vị.. đem chúng sinh
thoát ra khỏi quấy nhiễu của
căn trần, phiền não. Bồ đề,
không hương hoa và là loài
cây từng được bậc Đại giác
chọn làm nơi gần gủi. Những
ngọn lá kỳ lạ, không khác
hình quả tim mang ấn tượng
siêu thoát từ hơn 25 thế kỷ
đến nay. 'Tâm bồ đề'. Sự tôn
quý không thị hiện qua hương
hoa rực rỡ. Những ngọn lá
tượng trưng thanh tịnh và
đức từ bi bát ngát.. Hình
ảnh nhà sư thong thả quét lá
cội bồ đề bên triền đồi, dốc
núi từ lâu đã nằm trong tiềm
thức của Huế..'
Nhà
sư quét lá dưới cội bồ
đề
Cây Bồ đề hay Sacred
fig (Ficus religiosa),
một loài của Figs có nguồn
gốc từ Nepal và Ấn độ, Tây
Nam Trung Hoa, Đông Dương và
Việt Nam. Bồ đề được xem là
một cây 'linh thiêng' của
các Tôn giáo như Ấn độ giáo,
Jain (một tôn giáo khác tại
Ấn độ), Phật giáo. Đức
Siddhartha Gautama đã ngồi
dưới gốc Bồ đề, Ngài đã 'ngộ
đạo' (Bodhi) hay 'thức tỉn'
(Buddha). Các tín đồ Bà la
môn thường cầu nguyện dưới
gốc cây, quay mặt về phía
Đông.
Đức Phật ngồi dưới gốc
Bồ đề
TÊN KHOA HỌC VÀ CÁC TÊN KHÁC
:
Ficus religiosa thuộc
họ thực vật Moraceae.
Ficus là danh từ latin
của Fig = quả của các cây Ficus;
Religiosa = tôn giáo, để chỉ
tính cách linh thiêng của cây
đối với Phật giáo và Ấn giáo..
Tại Việt Nam, cây được
gọi là Đề hay rõ ràng hơn là Đa
bồ đề (vì tên Bồ đề cũng còn
được dùng để gọi cây Cánh kiến
trắng = Styrax tonkinensis là
một cây gỗ khác biệt thuộc họ
Styracacae). Danh từ 'Bồ đề' tại
Việt Nam thường được xem là 'biểu
tượng' của Phật giáo: Các trường
học do Phật giáo quản trị và
điều hành thường được đặt tên là
trường Bồ đề..
Tên Anh-Mỹ: Sacred fig;
Bo-tree; Peepul; Peepal.
Tên Hindi: Pipal; Phạn
ngữ: Pippala, Aswatha.
ĐẶC TÍNH THỰC VẬT :
Cây Bồ đề
thuộc loại đại mộc, thân
hoàn toàn nhẵn. Vỏ thân màu
xám nhạt có thể bóc rời từng
mãnh lớn; có chứa một chất
nhựa-mủ trắng đục.
Cây Bồ đề = Ficus
religiosa
Cây Bồ đề = Sacred fig =
Ficus religiosa = Pipal =
Peepal tree = Figuier des
pagodes – Arbre de la Bodhi (Cây
đa Bồ đề nầy được trồng
trong nhà kính của Công viên
Phoenix ở Nice - Serres
du Parc Phoenix à Nice.)
Lá mọc cách,
khi non màu đỏ hồng nhạt,
nhưng chuyển sang lục sậm
khi tăng trưởng, rất lớn có
dạng hình thoi, tam giác hay
hình quả tim ở gốc, hầu như
tù và đột nhiên có đuôi ở
chóp, dài 2-3cm. Phiến lá
mỏng và giòn, có 6-8 đôi
gân: dài 12-18cm, rộng
7-10cm. Cuống lá mảnh, dài
5-8cm.
Lá Bồ đề lúc còn non màu
hồng nhạt
.png)
Lá Bồ đề chuyển màu
Lá chuyển sang lục
sậm khi tăng trưởng
Hoa nhỏ màu đỏ
xuất hiện vào tháng 2.
.png)
Hoa Bồ đề
Cây Bồ đề tùy thuộc vào
tác nhân tạo thụ phấn: Ong loài
Blastophaga quadraticeps để tạo
ra quả.
Quả dạng quả
sung, xếp 1-2 quả trên các
nhánh có lá. Quả hình cầu,
không cuống, đường kính
7-8mm, màu xanh khi còn non
và khi chín màu đỏ sậm hay
tím sậm với các chấm đỏ. Cây
thường cho quả vào các tháng
5/6.
Quả Bồ đề khi còn non
.png)
Quả Bồ đề
Cây Bồ đề sống rất lâu:
tại Sri Lanka hiện còn một cây
Bồ đề đã thọ trên 2000 năm.
THÀNH PHẦN HÓA HỌC :
Các bộ phận của cây có
thể chứa những hoạt chất khác
nhau:
* Lá chứa:
- Các sterols như
Campestrol, Stigmasterol,
28-isofucosterol, Alpha-amyrin,
Beta-amyrin và lupeol
- Tannic acid
- Acid amin như
serine, Aspartic acid, Glycine,
Tyrosine, Methionine, ..Leucine
- Hydrocarbone và
Alcohol aliphatic như
n-Nonacosane, n-hentriacon
tanen-hexacosanol,
n-octacosanol..
- Các khoáng chất như
Calcium, Sắt, Đồng, Manganese,
Kẽm..
* Vỏ thân chứa: Các
sterols như Lanosterol,
beta-sitosterol và glucosides
liên hệ, Stigmasterol,
Lupen-3-one; các coumarins như
Bergapten và bergaptol; Vitamin
K (trong vỏ đọt); tannins (4%)
* Quả có các acid
amin như Asparagine, Tyrosine..
* Hạt có Alanine,
Threonine, Tyrosine và Valine.
Phytochemistry (Hóa thực vật)
VỀ PHƯƠNG DIỆN DINH DƯỠNG :
Lá bồ đề chứa
khoảng 9% chất đạm, 2.7% chất
béo, 68.3% chất carbohydrates
tổng cộng, 15.9% chất sơ.. Trong
100g lá có 2.97mg Calcium, 210mg
Phosphorus.
Đọt chứa 11.7%
chất đạm, 2.9% chất béo, 70.1%
Carbohydrate tổng cộng, 26.1%
chất sơ..
Tại Ấn độ, lá Bồ đề được
dùng làm thực phẩm nuôi dê rất
tốt, tạo được những cân bằng cần
thiết về nitrogen, calcium và
phosphorus (Indian Veterinary
Journal Số 60-1983)
CÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ
CÂY BỒ ĐỀ:
Vì vỏ thân của Bồ đề đã
được dùng trong nhiều phương
thuốc trị bệnh của Y-Dược học
Ayurvedic nên đa số các nghiên
cứu khoa học về Bồ đề đã được
thực hiện tại Ấn độ và Pakistan.
Hoạt tính giúp hạ
đường trong máu:
Hợp chất
beta-sitosteryl-D-glucoside
(phytosterolin) ly trích từ bột
vỏ thân khô, khi dùnh chích qua
tĩnh mạch, gây ra một sự sụt
giảm đường trong máu. Hợp chất
này, khi cho uống với liều
25mg/kg trọng lượng cơ thể, tạo
ra một sự giảm dần lượng đường
trong máu, sự giảm này đạt mức
cao nhất sau 4 giờ. Tolbutamide,
khi dùng liều tương đương đã gây
giảm hạ đường sau 3 giờ (Indian
Journal of Pharmacy Số 29-1967).
Hoạt tính làm hạ mỡ
trong máu:
Chất sơ chế tạo từ Ficus
religiosa, trộn trong thực phẩm
(10%) cho chuột, tạo được một
tác động đối kháng với sự tăng
chất béo trong máu tốt hơn là
cellulose. Các thông số về lipid
tổng cộng, cholesterol,
triglycerides và phospholipid
trong gan đều thay đổi trong
chiều hướng tốt hơn (Plant Foods
and Human Nutrition Số 38-1988).
Hoạt tính chống ung
loét bao tử:
Nuớc chiết từ vỏ cây Bồ
đề, dùng liều 500mg/kg, được
dùng để thử nghiệm điều trị một
số trường hợp ung loét bao tử
tiêu biểu nơi chuột. Nước chiết
này được cho chuột uống trong 3
ngày. Kết quả ghi nhận nước
chiết bảo vệ được chuột chống
lại ung loét bao tử gây ra do
thắt pylorus và ung loét bao tử
gây ra do cystamin. Tuy nhiên
hoạt tính không công hiệu với
ung loét cấp tính gây ra do
aspirin. Hoạt tính chống ung
loét này được cho là do ở tác
động ức chế sự bài tiết
acid-pepsin và làm tăng bài tiết
các yếu tố bảo vệ màng nhày đưa
đến cải thiện bài tiết mucin
trong bao tử (Indian Journal of
Experimental Biology Số
35-1997).
Hoạt tính trị Suyễn
và Tác động trên thần kinh đối
giao cảm (para sympatholytic):
Dịch chiết từ vỏ thân
bằng ethanol 95% có hoạt tính
gây thư giãn ruột của chuột,
bọ, thỏ và chó; thư giãn tử cung
của chuột. Dịch chiết này cũng
có hoạt tính đối kháng các hiệu
ứng của acetylcholine,
histamine, barium chloride và
serotonine; phong bế các hiệu
ứng về tim mạch của
Acetylcholine và bảo vệ được
chuột bọ chống lại các cơn suyễn
gây ra bởi acetylcholine và
histamine (Indian Journal of
Medical Research Số 48-1960).
Ngoài ra dịch chiết này
còn tạo thư giãn các bắp thịt
cuống phổi và đối kháng được
hoạt tính gây co thắt cơ thực
quản gây ra bởi acetylcholine
nơi chó (Indian Journal of
Physiology and Pharmacology - Số
4-1960).
Bột vỏ thân Ficus
religiosa đã được thử dùng để
trị suyễn nơi người.
Các hoạt tính kháng
sinh, kháng siêu vi trùng:
Nước trích từ quả có một
số hoạt tính kháng sinh đáng chú
ý trên các vi khuẩn
Staphylococcus, Escherichia
coli. Các chất Bergapten và
bergaptol, trích từ vỏ thân đều
có hoạt tính kháng sinh. Dịch
chiết từ vỏ đọt, bằng alcohol
50%, liều dùng 0.05mg/ml, có
hoạt tính kháng siêu vi trùng
gây bệnh Ranikhet: gây sự sụt
giảm đến 75% sự sinh sản của
siêu vi trùng trong môi trường
cấy dùng phôi trứng gà.(Journal
of Ethnopharmacology Sô
41-1994).
VÀI HOẠT TÍNH KHÁC :
- Tác động trên ký
sinh trùng: Dịch chiết từ vỏ
thân bằng alcohol 50% diệt được
Entamoeba histolytica (gây kiết
lỵ)(Indian Journal of
Experimental Biology Số 6-1968).
- Tác động trên giun
sán: Dịch chiết trên diệt
được giun Ascarigia galli (thử
in vitro). pH môi trường được
điều chỉnh ở 7.2 và thời gian ủ
là 48 giờ (J. of
Ethnopharmacology Số 41-1994)
CÁC PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG TRONG
DÂN GIAN:
Tại Ấn độ và Pakistan,
các bộ phận của cây được dùng
khá phổ biến để trị một số bệnh
thông thường:
- Vỏ thân và lá được
dùng để trị tiêu chảy và kiết lỵ,
lá dùng trị táo bón.
- Lá có thể được
tán mịn, trộn với mỡ để làm
thuốc đắp trị mụn nhọt, sưng
hạch như quai bị.
- Quả, tán thành
bột trị suyễn.
- Nhựa dùng trị
mụn cóc.
- Vỏ thân có hoạt
tính thu liễm, làm mát, cầm máu
và giúp hượt trường được dùng
trị tiểu đường, tiêu chảy, kinh
nguyệt rối loạn, thần kinh bất
ổn, bệnh đường tiểu và đường
sinh dục của phụ nữ..
- Nước sắc vỏ thân,
thêm với mật ong được dùng để
trị lậu mủ.
- Vỏ thân đốt thành
than, hòa trong nước được
dùng trị nấc cục, trị buồn nôn
và ói mửa.
- Vỏ thân nấu sôi với
sữa được xem là một phương
thuốc kích dục.
- Vỏ rễ, phơi khô,
tán mịn, trộn với mỡ, dùng làm
thuốc thoa trị bệnh ngoài da như
eczema, cùi..
Tại Trung Hoa:
Hoa
được đun sôi, lấy nước làm
thuốc giải nhiệt cho người bị
sốt cao.
Trần Minh Quân
03/2008
Tài liệu sử dụng:
- Major Herbs of Ayurveda
(Elizabeth Williamson)
- Từ điển Cây thuốc Việt Nam (Võ
văn Chi)
- Buddha and the Bodhi tree (www.the-tree.org.uk)
- Medicinal Plants of India (SK
Jain & Robert A. DeFilipps)
- Medicinal Plants of China (J.
Duke & Ed Ayensu)