Trong giống Ficus, ngoài cây Bồ đề còn có
cây Sung Ưu đàm (Ficus racemosa = Ficus
glomerata) là cây có khá nhiều liên hệ đến Phật
giáo.
Cây và Hoa của Ficus racemosa đều được ghi
chép trong Kinh sách Phật dưới tên Udumbara (Phạn
ngữ = Umbar). Danh từ Udumbara cũng có thể để
chỉ hoa của cây Sen xanh (Ưu Bát La hoa).
Hoa Udumbara đã được ghi chép trong các
chương 2 và 27 của kinh Pháp Hoa (Lotus Sutra),
một Kinh sách quan trọng của Phật giáo Đại thừa
(Mahayana) Từ ngữ Nhật Udonge đã được Thiền sư
Dògen dùng để chỉ hoa của cây udumbara trong
chương 68 của tập Kinh 'Chánh Pháp Nhãn tàng'
(Treasury of the Eye of the True Dharma). Dògen
đã bàn đến Hoa Udonge trong Kinh Pháp Hoa do Đức
Phật Cồ Đàm giảng trên Núi Linh Thứu (Vulture
Peak).
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Udoonge: Udumbara Flower by Jan Chozen
Bays Roshi
Hoa ưu đàm là loại hoa rất quý, khó thể nhìn
thấy. Theo truyền thuyết Phật giáo thì phải 3000 năm
hoa mới nở một lần (biểu tượng cho một vật quý báu,
vô giá). Hoa ưu đàm không phải là hoa trong thế giới
này.. mà là hoa cõi Phật. Theo Kinh điển Phật giáo:
hoa ưu đàm nở là một điềm lành báo hiệu Đức Phật ra
đời hay Bậc Luân vương xuất thế..
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
The rarest flower
on earth, which blooms once in 3000 years
(Loài hoa hiếm
nhất trên trái đất, 3000 năm mới nở một lần)
Từ điển Phật học Huệ Quang ghi (Tập VII,
trang 5.943); Ưu đàm, tên khoa học Ficus glomerata,
thuộc họ cây dâu. Thân cây cao hơn 3m, lá có hai
loại, hoa có hoa đực hoa cái khác nhau..'
Từ điển Phật học Hán - Việt (Nhà XB Khoa Học
Xã Hội) ghi: Cây Ưu đàm.. không thuộc loài hoa quả,
mọc ở các nơi như núi Himalaya, Cao nguyên Deccan,
Sri Lanka.. Hoa lưỡng tính rất bé, mọc kín ở lõm sâu
trong đài hoa.. nên thường nhầm là loài cây không
hoa..'
Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa (theo bản dịch
của Kumarajiva = Cửu Ma La Thập) có đoạn kệ trùng
tụng nhắc nhở nhiều đến cây Ưu đàm..
...
Mọi Đức Phật đều đến trong thế giới này
Nhưng gặp được Họ là điều hiếm và khó
Và khi Họ xuất hiện trên thế giới
Rất khó cho Họ khi nói về Diệu pháp
...
Và cũng rất khó để nghe Diệu pháp
Rất hiếm ngưới nghe được Diệu pháp
Giống như bông Hoa Ưu đàm
Với tất cả vẻ đẹp tuyệt diệu
Chỉ nở một lần trong suốt một thời gian rất dài, rất
lâu.
.
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa còn ghi thêm là gặp
được Phật (Một người đã hoàn toàn ngộ Đạo) là điều
cực hiếm, còn hiếm hơn là thấy một Hoa Ưu đàm nở.
Tại Chùa Từ Hiếu (Huế), có một bức trướng
viết: 'Hoa Ưu đàm, tuy rời khỏi cuống, vẫn tỏa hương
thơm'.. Theo TT Nhất Hạnh : Vỉ hương của Hoa Ưu đàm
bất diệt, nên khả năng 'ngộ đạo' của chúng ta luôn
hiện hữu. Phật đã dậy là mọi người đều là Phật, mọi
người đều là một bông hoa Ưu đàm..
Trong Kinh sách Phật còn có một cây linh
thiêng khác là cây Vô Ưu, có lẽ là một cây khác hẳn
với cây Ưu đàm..
(BS Nguyễn Lê Đức, một cư sĩ Phật giáo tại
Jacksonville, Florida cho biết các học giả nghiên
cứu về Phật giáo đã đi tìm và thấy ở Nepal có giống
dây leo có hoa đỏ, lớn hơn cái chén ăn cơm, nở vào
tháng tư (tại Ấn độ) và thấy ở cả vùng Lâm Tỳ Ni
(Lumbini) là chỗ Phật Thích Ca ra đời (trong Kinh
nói Hoàng Hậu Ma-Gia nắm cành hoa Vô ưu và Đức Phật
ra đời..).
TÊN KHOA HỌC VÀ CÁC TÊN KHÁC:
Ficus glomerata (đồng nghĩa: Ficus
racemosa) thuộc họ thực vật Moraceae.
Tên Anh Mỹ: Cluster fig, Country fig tree ;
Pháp: Figuier glomerulé
Trung Hoa: Ưu đàm. Ấn độ : Gular (Hindi); Umbar
(Bombay)
ĐẶC TÍNH THỰC VẬT:
Cây mộc thuộc loại trung bình, có thể
cao 15-20m, không rễ phụ.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Cành mềm có vẩy, u lồi và nhiều thẹo.
Cành non có lông mềm màu nâu nhạt.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Lá hình mũi giáo hay bầu dục, mọc so
le, dài 8-20cm rộng 4-8cm, đầu có mũi nhọn, gốc tù.
Phiến lá màu lục sậm, cả hai mặt đều nhẵn, thường bị
một loài sâu bọ ký sinh tạo thành những nốt u nhỏ,
gọi là vú sung. Lá bẹ cao 1cm.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Lá cây sung ưu đàm
Cụm hoa mọc rất nhiều, dày đặc ở thân
và cành già nơi không có lá. (Cụm hoa ở trên một đế
hoa lõm, phát triển hành túi kín bao lấy hoa ở bên
trong).
Quả thuộc loại phức (thật ra là đế
hoa bao lấy quả thật ở bên trong), có cọng, lớn
chừng 2-4cm: xanh lục nhạt khi còn non, khi chín màu
đỏ hay đỏ nâu, vị ngọt.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Quảsung ưu
đàm
Hạt rất nhỏ và nhiều, không đếm được.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Hạt, lá và trái ưu
đàm
THÀNH PHẦN HÓA HỌC:
Lá : Chứa Tetracycliene-triterpene
glaunol acetate.
Quả: Chứa Glauanol, Hentriacontane,
Ester tiglic của taraxasterol, Beta-Sitosterol,
Guanol acetate, Đường hữu cơ như glucose, sucrose..
Vỏ thân: Lupeol, Sitosterol,
Stigmasterol, Tannins, Flavonoids như Kaempferol,
Rutin, Bergapten, Psoralen, Bergenin..
Vỏ đọt (Stem bark): Leucoanthocyanins,
ceryl behenate, Lupeol và amyryl acetate,
Lupeol-glucoside, Friedelin.
Nhựa mủ: Bergenin, Lupeol acetat,
Beta-sitosterol.
CÁC NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VỀ FICUS GLOMERATA:
- Hoạt tính giúp hạ đường trong máu:
Nghiên cứu tại Phân khoa Dược, ĐH Dharka,
Bangladesh, thử nghiệm trên chuột bị gây tiểu đường
bằng streptozotocin, chuột được cho ăn thực phẩm
trộn thêm các phần trích từ Ficus bằng
petroleum-ether (xấy khô trong chân không) trong 10
ngày. Kết quả ghi nhận phần trích bằng ether của đọt
thân (A) có hoạt tính khá mạnh gây giảm mức đường
trong máu, trong khi đó các phần trích từ quả và
nhựa cây (B) không có tác dụng. Phần (A) ức chế hoàn
toàn các men glucose-6-phosphatase và arginase đồng
thời kích khởi hoạt động của men
glucose-6-phosphatase dehydrogenase trong gan của
chuột. Phần (B) chỉ ức chế
glucose-6-phosphatase..(Pure & Applied Chemistry Số
66-1994).
- Lá Ficus glomerata dùng làm thực phẩm gia
súc:
- Theo các phân chất của FAO: lá Ficus glomerata
được dùng tại Ấn độ và Pakistan làm thực phẩm cho
trâu bò và dê trừu rất tốt. Lá tươi chứa từ 10-11.2%
chất đạm thô, 2-4% calcium, 0.1 đến 0.3 Phosphorus.
Gia súc có thể tiêu hóa đến 60% chất sơ trong lá
Ficus.
- Hoạt tính bảo vệ bao tử của chất trích từ quả
Ficus glomerata:
Tại Ấn độ quả Ficus glomerata được dùng
trong dân gian để trị thiếu máu và các bệnh về bao
tử. Nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Thực Vật Quốc Gia
Ấn độ dùng nước chiết bằng ethanol 50% quả Ficus
glomerata, cho chuột, bị gây ung loét bao tử bằng
nhiều phương thức khác nhau, uống theo những liều
50, 100 và 200 mgkg, ngày 2 lần trong 10 ngày.. Kết
quả ghi nhận Chất trích từ Ficus glomerata có thể
ngừa được các hư hại do phản ứng oxy-hóa trên màng
nhầy bao tử bằng cách ngăn chặn phản ứng peroxy hóa
các lipid và bằng cách làm giảm hoạt động của các
men superoxide dismustase, H+ K+ ATPase, và bằng gia
tăng hoạt động của Catalase (Journal of
Ethnopharmacology Số 115-2008).
- Khả năng bảo vệ gan và chống oxy-hóa của Ficus
glomerata:
Nghiên cứu tại Khoa Hóa Dược, ĐH Dược Tamil
Nadu ghi nhận dịch chiết từ vỏ Ficus glomerata bằng
methanol có các hoạt tính bảo vệ gan và chống
oxy-hóa khi thử trên chuột (bị gây hư hại gan bằng
CCl4). Các liều dùng 250 và 500 mg/kg có khả năng
giúp nghịch đảo các thay đổi sinh hóa gây ra do CCl4
trên gan và thận (so sánh với chuột đối chứng). Các
hoạt tính bảo vệ này có thể so sánh với hoạt tính
của sylimarin, dùng làm tiêu chuẩn)(Journal of
Natural Medicine Số tháng
10-2007.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
FICUS GLOMERATA TRONG Y HỌC AYURVEDIC:
Ficus glomerata là một trong số những dược
thảo được ghi chép hầu như trong tất cả sách thuốc
cổ của Ayurveda. Ficus glomerata hay Udumbara được
xem là một cây linh thiêng dành cho Thần Dattaguru.
Có nhiều danh từ đồng nghĩa với Udumbara như
yajnanga, yajnayoga.. để chỉ cây được dùng trong các
nghi lễ hiến tế.
Theo dược học Ayurvedic, Udumbara có vị chát,
hơi ngọt, cay có tác động hậu tiêu hóa và gây nóng.
Cây giúp chuyển hóa, làm dịu các chức năng kapha và
pitta.. giúp trị tiêu chẩy, làm vết thương mau lành..
Các bộ phận: vỏ thân, quả, nhựa và lá của
Udumbara đều có các giá trị chữa bệnh. Cây được dùng
cả trong nội và ngoại khoa.
Khi dùng ngoại khoa (thoa đắp bên ngoài):
- Nhựa được thoa trên các vết thưong lâu
lành để làm giảm sưng phù, đau nhức và giúp vết
thưong chóng lành hơn.
- Chồi non của lá được đắp trên da,
dưới dạng thuốc nhão (paste) để làm da sáng, đẹp
hơn.
- Nước sắc của lá dùng để rửa vết
thương.
- Nước sắc của vỏ thân dùng súc
miệng trị sưng đau cổ họng và nướu răng.
- Nhựa đắp trên nơi đau sưng để làm
bớt phù trướng, đau răng.
Khi dùng nội khoa, Udumbara giúp trị khá
nhiều trường hợp bệnh:
- Nước sắc từ vỏ rất hữu hiệu để trị
tiêu chẩy, kiết lỵ và đau sưng ruột.
- Nước sắc từ quả chín và vỏ cây được
dùng trị tiểu đường, đồng thời giảm tiểu tiện.
- Nước sắc từ lá giúp chống sưng
hạch, áp-xe, vết thương kinh niên.
- Nước sắc từ vỏ được dùng trong
các bệnh phụ khoa như xuất huyết tử cung, trụy thai,
xuất huyết nơi bộ phận sinh dục.
- Nhựa trộn với đường được xem là
một phương thuốc trợ dương cho nam giới..
- Nước ép từ quả trị được nấc cục.
(Theo Herbalcure India)
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
VÀI PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG:
* Tại Việt Nam:
Theo Nam dược lá Sung ưu đàm có vị ngọt, hơi
chát, tính mát. Có các tác dụng thông huyết, lợi
tiểu, chỉ thống, tiêu đàm, tiêu thũng, tiêu viêm,
sát trùng và bổ máu. Vỏ cây có vị chát.
- Nhựa sung: Dùng chữa mụn nhọt, lở loét,
tự máu và sưng đau..
- Lá sung: Thường dùng loại lá bị sâu ký
sinh (vú sung) dùng làm thuốc bổ, giúp tăng sữa.
- Vỏ sung: sắc dùng trị sốt rét, tê thấp..
* Tại Ấn độ:
- Rễ dùng trị kiết lỵ.
- Nhựa rễ để trị tiểu đường.
- Lá tán mịn trộn với mật ong để thoa mụn
nhọt.
- Quả để trị ho ra máu, rong kinh, kiện
vị và thu liễm.
Trần Minh Quân
Tài liệu sử dụng:
- Ficus recemosa in Buddhism (Wikipedia)
- Medicinal Plants of India (S.K. Jain & R. A.
DeFilipps)
- Cây thuốc và Động vật làm thuốc tại Việt Nam (Viện
Dược liệu)
- CRC Handbook of Ayurvedic Medcinal Plants ( L.D
Kapoor