CÂY ĐẦU LÂN - SONG LONG THỌ
Trần Minh Quân
Trong số những cây được xem là 'linh mộc'
liên quan đến cuộc đời của Đức Phật có các cây Vô ưu
(Saraca indica), Bồ đề và Đầu lân (Couroupita
guianensis). Nếu Bồ đề là một cây riêng biệt không
thể nhầm lẫn thì Vô ưu và Đầu lân lại gây nhiều lẫn
lộn và có thể phân biệt khi xét về phương diện thực
vật..
Kinh điển Phật giáo ghi lại: Phật đản sanh
dưới cây Vô ưu và nhập niết bàn dưới cây Sala. Một
số nhà nghiên cứu Phật học cho rằng 'hai cây là một',
tuy nhiên về phương diện thực vật thì đây là hai cây
khác hẳn nhau (xin xem bài viết về cây Vô ưu).
Ngoài ra cũng có một số nhà nghiên cứu văn
hóa đã 'nhầm' khi ghi sai tên khoa học của Cây
Đầu lân = Sala (Couroupita guianensis) thành
Shorea robusta (một cây khác họ (Dipterocarpaceae)
và khác bộ (Malvales), có lẽ do tại tên Ấn là Sal
hay Shala.
Cây Đầu lân = Sala (Couroupita
guianensis)

Shorea robusta (một cây khác họ (Dipterocarpaceae)
và khác bộ (Malvales)
Các nhà nghiên cứu Phật giáo dựa theo kinh
điển và hình ảnh ghi trên các bức phù điêu cổ đều
đồng ý là Đức Phật Thích Ca nhập Niết bàn dưới tàng
cây Đầu lân ở Kusinagara..
Kinh sách viết: Từ khi biết mình sắp viên
tịch, Đức Phật đã làm một cuộc hành trình để nhập
Niết bàn từ đền Capala (xứ Vesali) Ngài đã di chuyển
trên một lộ trình khá dài đến vườn Sala ở Kusinagara.
Đoạn đường này chỉ dài 9km, nhưng Đức Phật đã phải
đi mất 3 tuần, dừng nghỉ đến 25 lần vì bệnh và mệt.
Đức Phật viên tịch vào ngày thứ 15 của tháng trăng
tròn thứ Sáu theo lịcn Ấn độ hay tháng Visakha, dưới
bóng của 2 cây Sala đôi..
Tác giả Thích Nhất Hạnh trong 'Đường xưa mây
trắng' viết:
..' Khi Bụt và các vị khất sĩ tới được rừng
sala thì trời đã xế chiều. Bụt bảo thầy Ananda soạn
chỗ nằm cho Bụt giữa hai cây sala, rồi Bụt nằm xuống
trong thế Sư tử tọa, đầu hướng về phương Bắc.. Các
vị khất sĩ chia nhau ngồi bao quanh Bụt. Họ biết nội
trong đêm nay, tại rừng Sala này, Bụt sẽ nhập niết
bàn.
Bụt đưa mắt nhìn rừng cây rồi nói với Ananda:
- Này Ananda, thầy hãy nhìn xem, bây giờ đâu
phải mùa hoa, mà những cây Sala này đang nở hoa
trắng xóa..
Hoa rụng trên áo Như lai và trên cả áo các
vị khất sĩ..
Một số phù điêu nổi tiếng đã được khắc hình
ảnh mô tả lúc Đức Phật nhập Mahaparinirvana như:
Phật bị bệnh (Great desease): Phù điêu hiện
lưu trữ tại Viện Bảo tàng Ấn độ ở Calcutta. Hình mô
tả Đức Phật nằm nghiêng bên phải, một chân đè trên
chân kia giữa 2 cây sala..
Phật nhập niết bàn (The final Nirvana of the
Buddha) từ Kapisa, hiện lưu trữ tại Viện Bảo tàng
Kabul, Afghanistan khắc hình Đức Phật nằm nghiêng
bên phải, đầu đặt trên lòng bàn tay, cánh tay trái
giang ra và có khắc 2 cây sala.
Phật nhập niết bàn (The final Nirvana
of the Budha)
Mahaparinirvana, Hang 26, Ajanta: Khắc hình
Phật nằm trên giường giữa 2 cây sala, mắt nhắm lại,
đầu kê trên gối. Các đệ tử bao quanh..
The final Nirvana, từ Đông Ấn độ, hiện lưu
trữ tại Viện Bảo tàng Anh mô tả Đức Phật nằm giữa
hai cây sala..
Với Ấn giáo (Hinduism), cây Đầu lân cũng
được xem là một linh mộc: Những cánh đài của hoa có
hình dạng như rắn 'thần' Naga, rắn hổ mang Naga bảo
vệ một Shiva Lingam. Cây được trồng rất phổ biến tại
những đền thờ Ấn giáo. Tin đồ hiếm muộn thường đến
cầu được có con dưới gốc cây Sala.
TÊN KHOA HỌC VÀ CÁC TÊN KHÁC:
Couroupita guianensis thuộc họ thực
vật Lecythidaceae.
Tên Anh - Mỹ: Cannonball tree; Ayahuma, Foul
coconut tree.
Pháp: Boulet de canon.
Tây ban Nha: Bola de canõn, coco de mono,
Abrico de Macaco.
Tên Tamil (Ấn): Nagalinga pushpam.
Tiếng Hindi: Shiv Kamal (cây), Shiva linga (hoa)..
Tại Nam Mỹ:
- Ba Tây: Castanha de macaco
(monkey nut).
- Columbia: Maraco.
- Venezuela: Coco de mono, mamey
hediondo..
Tại Bắc VN cây còn được gọi là cây Hàm
rồng (có lẽ theo hình dáng của nhụy hoa). Giới
chơi cây cảnh có tên là Ngọc kỳ lân (có thể
do hình dạng của cả chùm hoa)..
Hoa
và trái Đầu Lân
Cư sĩ Tuệ Lạc, đã theo học nhiều năm tại ĐH
Nalenda (Ấn độ) giải thích:
Couroupita guainensis: Cây Song long thủ,
tiếng Phạn gọi là Sala. Cây này cao lớn, viền lá
không răng và có hoa từ nhánh và thân thành những
chùm, trong mỗi chùm có nhiều cặp hoa khi nở trông
giống như đầu rồng (Long thủ). Ngôn ngữ Hán Việt gọi
là cây Song long thủ. Nhưng để ngắn gọn, dễ nhớ hơn,
người ta bỏ chữ cây và chữ thủ, thêm vào chữ thọ để
trở thành Song long thọ (vườn Dược thảo- Tương Giang
từ ngày 14 tháng 3, 2012).
ĐẶC ĐIỂM THỰC VẬT HỌC :
- Cây thuộc loại thân mộc lớn,
lá xanh quanh năm. Cây cao đến 35m. Thân thẳng, phân
cành sớm; vỏ xốp và mềm; tán rộng nhưng thưa.
Cây Đầu Lân = Couroupita
guianensis
- Lá thuôn. bầu dục dài hay hình giáo
màu xanh nhạt. Cuống lá dài 0.5-3cm. Phiến lá bóng,
cứng, dài 15-25cm. Mép nguyên hay có khía răng nhỏ,
mọc thành chùm ở thân hay cành.
- Cụm hoa dạng chùm mập, dài (có khi
đến 1m), uốn cong ra và tập trung ngay trên thân hay
cành già.
- Hoa lớn, lưỡng trắc, thơm, màu sặc
sỡ. Hoa có 6 cánh đài dày ở gốc, dạng bàu dục nhọn.
Cánh tràng lõm, cong, nở ra tròn đều, màu đỏ vàng,
có khi màu cam, gốc màu đỏ tím hay màu vàng. Nhị
nhiều xếp sát nhau kín cả họng hoa.
- Quả thuộc loại phì quả, hình cầu
lớn, đường kính 10-25cm, nặng đến 1.5kg, phần cùi vỏ
nặng chừng 0.5kg, có lá đài còn lại ở giữa, màu đỏ
nhạt trong chứa từ 200-300 hạt (Quả nhỏ nhất chứa
khoảng 65 hạt, nhưng quả to nhất có thể chứa đến 550
hạt) Quả rụng khi chín.
- Hạt dính trên ruột quả, ruột đổi
thành màu xanh nhạt khi tiếp xúc với không khí. Quả
có mùi hôi khi chín. Cây rất sai quả, mỗi cây có từ
50 đến 150 quả..
.png)
Hạt
Đầu Lân
Hoa không có mật, nhưng có mùi thơm ngọt
ngào vào buổi sáng sớm, hấp dẫn được ong thợ (loài
Xylocopa) để giúp thụ phấn. Loài ong lớn màu đen,
lưng gù này khi chui vào hoa sẽ mang phấn hoa trên
thân và chuyển phấn khi chui vào hoa khác.
Cây được xem là có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Nam
Mỹ (khu vực Amazone) và có thể từ Ấn độ, Thái..
.png)
Tại Hoa Kỳ cây có thể trồng được ở
Florida (một cây hiện ở Fairchild Tropical Botanical
Garden).
Tại Việt Nam cây thường được trồng
trong khuôn viên các chùa Phật giáo như tại Thiền
viện Thường Chiếu (Long Thành), Chùa Vĩnh Nghiêm
(Sài Gòn), Chùa Tây Tạng (Bình Dương). Ngoài ra cũng
có tại Thảo cầm Viên Sài Gòn, Khu du lịch Bình Quới
- Thanh Đa..
THÀNH PHẦN HÓA HỌC :
Hoa chứa:
- Tinh dầu dễ bay hơi (4 loại) gồm phần
chính là Eugenol (41,6 %), Linalool (14.9 %),
Farnesol (10.3%), Nerol (9.5%)
(Journal of Essential Oils Research Số
7-1995)
- Flavonoids: 2',4'-dihydroxy-6'-methoxy-3',5'-dimethyl
chalcone ; 7-hydroxy 5-methoxy-6,8-dimethyl
flavonone .. Kaempherol, Rutin.
- Alkaloids như isatin, indirubin,
couroupitine.
- Chuyển hóa chất loại saponines như
Hopanes, loại indolo quinazoline như Tryptanthrin.
- Sterols như Stigmasterol.
- Hợp chất loại phenolic.
Theo TK Lim (Edible Medicinal and Non
medicinal Plants. Vol 3 (Fruits):
- Trong phần 'nạc' của quả có các chất
đường, gồm, các acid hữu cơ như malic, citric,
tartaric acid. Ngoài ra còn có citric hydrazid,
vinalic hydrazid và capric acid.
Hoa Đầu Lân
- Hạt chứa: 32% chất dầu béo và
19% chất đạm.
Dầu ép từ hạt có các chỉ số:
- Iodine: 126.1
- Xà phòng hóa (Saponification): 181.7
- Oxide: 0.8
- Acid: 2.4
Thành phần acid béo trong dầu gồm phần lớn
là linoleic acid (81.5 %), palmitic (6.3 %),
stearic (3.4), oleic (3.3), capric (1.5),
palmitoleic (1), myristic (1.2)..
CÁC NGHIÊN CỨU DƯỢC HỌC VỀ COUROUPITA GUAINENSIS
:
* Hoạt tính làm lành vết thương và Kháng
sinh:
Dịch chiết toàn cây (vỏ thân, lá, hoa và
quả) Couroupita guainensis bằng ethanol khi thử trên
chuột cho thấy:
- Có hoạt tính giúp vết thương mau lành
bằng cách thu hẹp diện tích vết thương và gia tăng
độ căng của da. Thuốc mỡ Nitrofurazone được dùng làm
thuốc đối chứng. Sự tạo mô tế bào biểu bì xẩy ra
trong vòng 15 ngày sau khi thoa dịch chiết, nồng độ
hydroxyproline phù hợp với diện tích vết thương.
- Dịch chiết có hoạt tính kháng sinh
trên các vi khuẩn Gram (+) như Staphylococcus aureus
và Gram (-) như E. coli, Pseudomonas aeruginosa,
Klebsiella pneumoniae.. Hoạt tính kháng sinh được so
sánh với erythromycin và tetracyclin.
(Pharmacologyonline, Vol 3, p.269-281
(2007)
Hoa
Đầu Lân
* Khả năng chống oxy-hóa (antioxidant):
Khả năng chống oxy-hóa của cây Đầu lân
đã được nghiên cứu khá nhiều và từng bộ phận của cây
đã được thử nghiệm:
- Hoa và Lá:
Nghiên cứu tại Khoa Dược, Viện nghiên cứu
Dược khoa Rahul, Chirala, Andrapradesh (Ấn độ) ghi
nhận:
Dịch chiết từ hoa và từ lá của Couroupita
guianensis bằng ethanol có hoạt tính thu nhặt các
gốc tự do, các anion superoxide (thử nghiệm dùng men
xanthine oxidase, có vitamine C làm đối chứng), thu
nhặt các gốc hydroxyl (thử nghiệm trên sự phân hủy
desoxyribose, dùng quercetin để so sánh).
Trong thử nghiệm Superoxide: Các liều IC50
của dịch chiết từ hoa là 318.13 và từ lá là
138.39µg/ml trong khi đó của Vitamin C đôi chứng là
92.46.
Trong thử nghiệm thu nhặt các gốc hydroxyl:
Các liều IC50 củ hoa là 66.3, lá là 37.34µg/ml,
trong khi đó của quercetin là 24.5
(International Journal of Phytopharmacy
Research Số 3-2012)
- Khả năng kích thích sự sinh sản
của các mô tế bào sợi của da:
Dịch chiết từ nước và alcohol từ lá có các
hoạt tính tạo sự bội sinh các tế bào fibroblast (HCF)
của da, giúp hấp thu các tia cực tím (UV) đồng thời
có khả năng chống oxy hóa. Khả năng chống oxy-hóa
được đánh giá bằng dùng thử nghiệm hoạt tính oxyhóa
của linoleic acid.(Natural Products Research Số
4/2012).
Nghiên cứu được thực hiện tại Department of
R&D, CarOi'Line Cosmetica SL, Pontereas, Tây ban Nha,
với triển vọng dùng lá Đầu lân trong công nghiệp mỹ
phẩm.
* Khả năng chống đau và chống sưng:
Khả năng chống đau của dịch chiết bằng
ethanol từ lá đã được nghiên cứu tại Universudade
Federal do Rio de Janeiro (Ba Tây).
Thử nghiệm được thực hiện trên chuột qua các
test gây co quắp bằng acid acetic, cử động của đuôi
chuột và phản ứng của chuột khi để trên dĩa hơ nóng.
Chuột đối chứng được 'chích trước' bằng atropine,
mecamylamine và naloxone.. Kết quả ghi nhận, dịch
chiết bằng ethanol từ lá Đầu lân có các khả năng
chống đau và chống sưng, hoạt tính này được trung
chuyển qua các hệ thống opiod và cholinergic
(Journal of Ethnopharmacology Số
127/2010).
* Khả năng chống trầm cảm (depression) và
giải trừ âu lo:
Thử nghiệm tại ĐH Mumbay (Ấn độ) trên chuột
albino ghi nhận dịch chiết từ lá bằng benzene có
hoạt tính chống trầm cảm khi dùng các test đo lường
phản ứng của chuột như:
- Test chuột bị treo bằng đuôi (Tail
suspension test): Chuột bị treo bằng cách kẹp đuôi,
để đầu cao 5cm cách đáy hộp, trong 6 phút, khi thả
xuống chuột thường bất động. Trong test này, chuột
dùng dịch chiết có thời gian bất động ngắn hơn, hoạt
tính tương tư như imipramine.
- Test chuột phải cố bơi (Despair swim
test): Chuột bị thả vào bình thủy tinh đường kính
12cm, cao20cm, chứa nước đến mức 8cm, ở nhiệt độ
24-25°C, trong 6 phút. Chuột sẽ gần như bất động sau
khi cố bơi. Trong test này, thời gian bất động của
chuột cho dùng dịch chiết cũng ngắn lại.
* Hoạt tính diệt giun, ký sinh trùng:
Dịch chiết bằng chloroforme, acetone và
ethanol từ hoa có hoạt tính diệt giun Pheretima
posthuma. Dịch chiết bằng ethanol mạnh nhất, có thể
so sánh với piperazine citrate.(Philippine
Alernative Medicine).
CÁC PHƯƠNG THỨC SỬ DỤNG TRONG DÂN GIAN:
Dược học Ayurvedic dùng cây Đầu lân trong
nhiều thuốc chữa nhiều bệnh khác nhau như sưng bao
tử, ghẻ ngứa, trĩ chảy máu, kiết lỵ, vết thương do
bọ cạp chích.
Một số bộ phận của cây được dùng làm thuốc:
- Nước ép từ lá dùng trị các bệnh
ngoài da; lá non dùng trị đau răng.
- Ruột nhão của quả dùng trị vết
thương lở loét ngoài da.
- Hoa dùng trị cảm lạnh, đầy hơi trong
bao tử. Hoa phơi khô dùng trị tiêu chảy.
- Vỏ của quả, sau khi phơi khô được
dùng làm dụng cụ chứa đựng khi làm bếp.
- Gỗ cành và thân dùng làm nhang.
- Phần thịt nhão bên trong quả được
dùng tại Nam Mỹ làm thực phẩm nuôi gia cầm như gà
tây, gà-vịt và heo.
- Hoa được dùng trong kỹ nghệ hương
liệu và mỹ phẩm.
Tại Ấn độ, một chế phẩm dùng để rửa tay thay
thế cho xà phòng, dùng tại các bệnh viện, trạm y tế
địa phương, pha chế bằng cách phối hợp dịch chiết từ
lá của các cây Terminalia catappa (Bàng biển),
Couroupita guainansis (Đầu lân) và vỏ cùi quả của
Garcinia indica (Bùa).
Hỗn hợp các dược thảo (10g chiết bằng
methanol/nước 9:1) được pha thêm lauryl sulfate. Thử
nghiệm ghi nhận chế phẩm rất hữu hiệu diệt được các
vi khuẩn Staphylococcus aureus, Pseudomonas
aeruginosa.. khi so sánh với các loại savon sát
trùng khác (Natural Product Radiance Số 7-2008).
Trần Minh Quân
5/2012
Tài liệu sử dụng:
- The New York Botanical Garden: Lecythidaceae Pages
- Philippine Medicinal Plants: Cannonball tree
- Medicinal Plants of India (GV Satyavati)
- Forest and Trees Associated with Lord Buddha (Basanta
Bidari)
- Vài dòng giới thiệu về cây Sala trong Phạn ngữ (TS
Huệ Dân)
|