Trần Minh Quân
Cá Bông Lau được xem là một loài cá ngon nhất trong họ Cá Tra (Pangasiidae) và tại Việt Nam cá chỉ sống trong vùng lưu vực sông Cửu Long, nhất là tại những vùng sông lớn miền Tây Nam Bộ. Cá thuộc loài di trú (như cá Salmon=cá Hồi), sống một thời gian tại vùng nước lợ ven biển (một đặc tính duy nhất của cá Bông Lau trong họ Pangasiidae) và di cư vào rất sâu trong vùng sông nước ngọt chỉ riêng sông Mekong, để đẻ trứng..
(Trong ‘Đặc Tính Dinh Dưỡng và Trị Liệu Của Cá Và Thủy Sản’, tập 1, chúng tôi có trình bày một cách sơ lược về cá Tra, cá Basa và Catfish. Bài này xin viết rỏ hơn về cá Bông Lau, tuy là một loài cá trong họ cá tra nhưng lại có những đặc điểm sinh học và những giá trị dinh dưỡng khác hẳn các cá khác trong cùng họ như cá Vồ, cá Tra, cá Hú..)

Ảnh minh họa cá Bông Lau của cdn.tgdd.vn
Tên khoa học và các tên gọi:
Pangasius krempfi thuộc họ cá Pangasiidae
Silver-toned catfish. Chinese pangasid-catfish. Krempfi catfish.
Trey bonglao, Trey pra (Kmer)
Vài đặc điểm sinh học:
Cá Bông Lau thuộc loài có kích thước lớn, dài đến 1.2 m, nặng 14 kg. (Cá kỷ lục nặng đến 21 kg, bắt được tại Hàm luông) Đầu và lưng màu xanh lá cây, bụng màu trắng đục. Thân thuôn dài. Đầu cá dẹt. Mắt to, miệng có 2 đôi râu, nhưng thường chỉ có một đôi râu hàm phát triển, tương đối ngắn. Răng lá mía (volverine teeth) tách nhau nơi đường giữa để nối kết với các răng vòm miệng (palatine teeth) mỗi bên, tạo thành các vệt dài hình lưỡi liềm. Da trơn, mỏng. Ngực không có đốm. Vây màu trắng trong suốt, vây đuôi có 31-34 tia mềm, màu vàng nhạt. Cá thuộc loại ăn tạp, thực phẩm phần lớn là tảo, rong sợi, giáp xác nhỏ. Cá tăng trưởng khá nhanh 2-3 cm mỗi tháng. Cá sống thành từng bầy lớn nơi những vùng có con nước cao.Thịt cá màu trắng hồng, ít mỡ hơn cá tra, cá bụng.
Sự di trú của cá Bông Lau:
Điểm đặc biệt nhất của cá Bông Lau là khả năng di chuyển: tuy được xếp trong chi Pangasius nhưng Bông Lau là loài duy nhất trong 27 loài thuộc chi này có thể sinh sống trong một thời gian nơi vùng nước lợ ven biển và di chuyển rất sâu vào vùng nước ngọt để đẻ trứng.
Các nhà ngư học đã nghiên cứu khà nhiều về cá bông lau và các công trình khảo cứu của Z. Hogan và G. Baird đã đưa ra nhiều chi tiết khá lý thú về sự di trú này (Journal of Fish Biology Số 7-2007). Hogan và Baird đã theo dõi sự hiện diện của cá bông lau từ khu vực cửa sông Cửu Long vùng biển Đông, theo dòng sông qua Kampuchea và lên đến lưu vực Mekong tại Nam Lào (vùng Luang Prabang). Tại vùng ven biển Việt Nam, nơi cửa sông Cửu Long cá xuât hiện trong các tháng từ Giêng đến tháng Tư, và ngược dòng sông tại khu vực biên giới Việt-Miên trong các tháng 2. 3.. và sau đó cá có mặt tại Nam Lào chỉ trong các tháng 5 đến 10 (trong các tháng này không bắt được cá tại VN). Dựa trên các số liệu đánh bắt tại từng điạ phương, phối hợp với các nghiên cứu sinh hóa về các hạt sỏi nhỏ nơi tai cá (otolith) và các phân tích về các đồng vị carbon và nitrogen, các nhà nghiên cứu Roberts và Baird (1995) đã đưa ra giả thuyết là cá bông lau bắt đầu di chuyển ngược dòng sông Cửu Long từ tháng 2 và 3 lên đến tận vùng Thác Khone, cách xa cửa sông đến 720 km vào giữa tháng 5 để đẻ trứng. Cá đẻ trứng nơi thượng nguồn Khone, có lẽ tại vùng biên giới Thái-Lào trong thời gian giữa tháng 6 và 8. Sau đó cá con xuôi theo dòng sông trong mùa mưa, nước dâng cao để từ Lào, qua Campuchea và Việt Nam để trở lại vùng nước lợ, nước mặn nơi ven biển (nồng độ strontium nơi các hạt otolith của cá bông lau khác biệt khá rõ ràng so với các loài cá nước ngọt khác, thường cao hơn gấp 3-4 lần nơi cá nước ngọt, chứng tỏ cá bông lau đã có một khoảng thời gian sống tại vùng nước mặn. Mặt khác, tỷ lệ giữa Srontium/Calcium của otolith nơi cá bông lau thay đổi trong một giới hạn rộng rãi cũng chứng minh là cá di chuyển nhiều giữa cả hai vùng nươc mặn và nước lợ. Cac phân tích về các đồng vị phóng xạ C và N nơi bắp thịt của cá giúp chứng minh về nguồn gốc các thực phẩm mà cá đã ăn..).
Sự di chuyển của cá Bông Lau tương đối ‘đơn giản’ so với cá Salmon (cá Hồi) và cá Chình (xin xem các bài về hai loại cá này).
Ngoài nghiên cứu của các tác giả kể trên, còn có một nghiên cứu khác ghi nhận một ‘quần thể’ bông lau khác có lẽ đã di chuyển từ khu vực Stung Treng xuôi dòng xuống vùng thủy vực nằm giữa Stung Treng và Kongpom Cham để đẻ trứng trong thời gian giữa các tháng 5-8, và sau đó trở lại vùng sinh sống khi nước rút xuống. Một vài cá bông lau thuộc quần thể này đã bị đánh bắt tại Nong Khai, Thái Lan cách xa nơi cửa sông Cửu Long đổ ra biển đến 1600 km.

Ảnh minh họa canh chua cá Bông Lau của bachhoaxanh.com
Cá Bông Lau tại Việt Nam:
Tại Việt Nam các nghiên cứu của Trường Nông Nghiệp, Viện ĐH Cần Thơ và của Trung Tâm Nuôi Trồng Thủy Sản đưa đên một số kết quả đáng ghi nhận như:
Sự phân bố của cá bông lau trong hệ thủy vực sông Cửu long, tại cả 2 nhánh sông Tiền và sông Hậu.
Tại sông Tiền: vùng tập trung cao nhất là vùng cửa sông Bình Đại và Ba Tri, vùng Vàm Nao. Cá đánh bắt có chiều dài 17.5-72 cm. Vàm nao là địa danh nổi tiếng nhất về cá Bông Lau tại Việt Nam (một số tổ chức du lịch trong nước đã quảng cáo rất nhiều về các cuộc du lịch đi câu cá tại đây). Vàm nao là con sông nối sông Hậu và sông Tiền, đoạn gần Châu Đốc thuộc tỉnh An giang. Bên kia bờ của dòng Vàm nao là cù lao Ông Chưởng thuộc huyện Chợ Mới (An Giang).Nước phía bên sông Tiền do được đổ trực tiếp từ đầu nguồn phia Kampuchea qua nên mực nước thường cao hơn phía bên sông Hậu và Vàm Nao được xem là nơi ‘bụng’ để điều hòa mực nươc. Ngoài ra hệ sinh thái tại Vàm Nao cũng rất phong phú nên đã trở thành một vùng tập trung khá nhiều loài tôm, cá, thủy sản.
Người Châu Đốc có câu ca dao trữ tình:
Ở trên Châu Đốc, ngó xuống Vàm Nao
Thấy con cá đao nó nhảy vô lươi
Anh ngồi anh chăc lưỡi..
Không biết chừng nào anh lấy được em..
– Tại sông Hậu: vùng tập trung là tại Đại Ngãi, Tranh Đề, cá dài 16.3-64 cm. Tại Đại Ngãi (Trà Vinh), cá có rất nhiều nơi cuối nguồn sông Hậu tại Ninh Thới (Phong Thạnh, Cầu Kè) và tại khu vực Bắc sông Hậu, nơi nhánh Lai Vung (Đồng Tháp), cửa Cù Lao Tân Lộc (Thôt Nốt) cũng là vùng nhiều cá bông lau..
Trung tâm Quốc Gia Giống Thủy Sản nước ngọt Nam bộ đã tìm được phương pháp cho sinh sản giống nhân tạo cá Bông Lau từ 2006. Cá cha mẹ được tập họp từ vùng cửa sông Trần Đề (Long Phú, Sóc trăng). Cá bột được đưa về nuôi trong bè tại Tiền Giang và Đồng Tháp..
Ảnh minh họa cá Bông Lau kho của Thông Thái. US
Dinh dưỡng và ẩm thực:
Dinh dưỡng: Cá Bông Lau được xếp vào loài cá nhiều chất béo như các loài cá khác trong chi Pangasius. Một số kết quả phân chất (Food Chemistry Số 2-2008) ghi nhận:
100 gram cá (phần ăn được, bỏ xương..) chứa:
– Calories 105
– Chất đạm 15.3 g
– Chất béo tổng cộng 4.7 g
– chất béo bảo hòa (SFA) 1.76 g
– chưa bảo hòa mono (MUFA) 1.75 g
– chưa bảo hòa poly (PUFA) 1.18 g
– Cholesterol 52.94 mg
– Calcium 25.53 mg
– Sắt 0.43 mg
– Sodium 387 mg
– Potassium 340 mg
– Magnesium 12.8 mg
Thành phần các acid béo Omega: EPA (EicosaPentaenoic Acid):0.76 mg và DHA (DocosaHexaeonic Acid)= 10 mg
( Số lượng này tương đối thấp khi so sánh với cá Salmon (Atlantic, chứa đến 61 mg EPA và 302 mg DHA trong 100 gram cá tươi).
Ẩm thực:
Cá bông lau, thuộc loại cá béo nên chỉ được dùng ăn dưới dạng cá tươi, hay lóc thịt philê làm đông lạnh. Cá không thể phơi khô hay làm mắm.. Món ăn ngon nhất và thông dụng nhất là nấu canh chua, có khá nhiều dạng canh chua cá bông lau, cầu kỳ hơn có canh súng cá bông lau, canh cá bông lau nấu hoa kèo nèo.
Cá có thể ướp sả, muối chiên tươi ; kho tộ, kho tiêu, riềng và kho xì dầu.kho lạt ăn với xoài. Dân nhậu và ‘xành ăn’ cho rằng bao tử và gan cá là những phần quý giá nhất. Ngoài ra trứng cá cũng được xếp vào loại hiếm gặp.
Tài liệu sử dụng:
American Scientist Số 3-2004: The Imperil Giants of the Mekong.
Journal of Fish Biology Số 71-2007:Long distance migration and marine habitation in the tropical Asian catfish, Pangasius krempfi (Z. Hogan , G.Baird, R. Radke and J. Vander Zanden)
Mekong River Committee Programmes: Key Mekomg fish species migration paths.
Fishes of the Cambodian Mekong (FAO)
Trần Minh Quân, 5 tháng Năm 2011#1
Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/c%C3%A1-b%C3%B4ng-lau.26944/