Cá Hú

 Trần Minh Quân

Ảnh minh họa cá Hú của cdn.tgdd.vn

Trong số các loài cá da trơn thuộc họ Pangasiidae, có mặt tại sông Mekong, cá Hú tuy không được nổi tiếng như Tra nuôi và Basa về phương diện kinh tế (nuôi và xuất cảng) nhưng cũng là một trong những loài rất được ưa chuộng dành cho thị trường tiêu thụ nội địa bên cạnh các loài Bông Lau, cá Dứa… Cá Hú hiện nay cũng đang được nuôi trong các trại tại Kampuchea và Việt Nam. Cá được xếp vào loài dễ nuôi, thịt ngon, có sản lượng cao và có thể có tiềm năng kinh tế quan trọng.

Tên khoa học và các tên khác:

Pangasius conchophilus thuộc họ cá Pangasiidae
Tên Anh-Mỹ: Snail-eater pangasius, Sharp-nosed catfish
Thái Lan: Pla poh, Pla saai yu phueak. Khmer: Trey ke, trey ba kre. Lào: Pa phoh, pa gaa.

Vài đặc điểm sinh học:

Cá Hú có thân thon dài, phần bụng cũng thon và lườn bụng tròn. Đầu to hình nón, dẹp một bên. Mõm nhọn. Miệng hơi rộng, hàm trên nhô ra, hàm dưới hình vòng cung không co duỗi được. Mắt tương đối nhỏ, hình bầu dục, nằm lệch về phía dưới của đầu và trên góc miệng. Miệng có 2 đôi râu, râu hàm trên dài đến gốc vây ngực, râu hàm dưới ngắn hơn. Răng vòm miệng chia thành 3 đám: ỡ giữa hàm là một nhóm răng lá mía hình chữ nhật có 4 góc bầu, nằm 2 bên là 2 nhóm răng lá mía. Trong khoang bụng có bong bóng hơi kín, chia làm 2 thùy không đều nhau: thùy trước lớn, thùy sau nhỏ hơn. Các vây màu trắng trong, vây lưng và vây ngực có gai, vây lưng màu đen nhạt. Vây hậu môn có 25-30 tia mềm. Cuống đuôi thon và ngắn.
Cá Hú có thân và đầu màu xám đen có ánh xanh lục, bụng màu trắng đục. Kích thước: tối đa 1.2m.
Cá Hú thuộc loại ăn tạp, nhưng có khuynh hướng ăn thịt động vật như giáp xác, nhuyến thể, công trùng và các động vật phiêu sinh trong đó giáp xác là chính (snail-eater). Cấu tạo của hệ tiêu hoá khá đặc biệt, giúp cá thích nghi với việc ăn các loài giáp xác: răng nhỏ, mịn và cứng nằm ở cả 2 hàm giúp nghiền vỏ cứng; bao tử phình to hình chữ U, có thể co giãn được, có vách dày; ruột ngắn, không gấp khúc. Trong điều kiện bắt buộc, cá Hú có thể ăn cả mùn bã hữu cơ..nuôi trong bè, cá ăn được các thực phẩm đa dạng do người nuôi cung cấp.

Cá Hú bắt đầu giao phối tương đối sớm: Ngay năm thứ 2 khi đạt trọng lượng trên 1 kg (so với các loài pangasiidae khác, phải đến 3-4 tuổi), tuy nhiên trong thiên nhiên chỉ gặp được cá trưởng thành tại các khúc sông thuộc Kampuchea và Thái Lan. Rất khó phân biệt được cá trống và cá mái do hình dạng bên ngoài. Cá đẻ trứng, lớn 1-1.5 mm, bám dình vào các giá thể, thường là rễ cây của các thực vật thủy sinh mọc tại ven sông.

Khu vực phân bố:

Cá Hú phân bố tại Thái Lan (thủy vực các sông Mekong và Chao Phraya), Lào, Myanmar, Kampuchea, Việt Nam (vùng đồng bằng sông Cửu Long), Borneo, Sumatra. (Tại vùng phía trên Thác Khone, cá là một nguồn thực phẩm quan trọng trong các tháng 5-7).
Tại Việt Nam, cá Hú có rất nhiều tại các nhánh sông của dòng Cửu Long như sông Tiền (An Phú, Đại Ngãi), sông Hậu Vĩnh Xương, Hồng Ngự).
Sự di chuyển của cá Hú trên sông Mekong:
Một số nghiên cứu của MCR ghi nhận: Cá Hú phân bố suốt dọc sông Mekong từ vùng châu thổ Cửu Long lên đến Chiang Saen gần vùng biên giới của 3 nước Lào, Thái và Myanmar. Cá Hú rất thường gặp trên sông Mekong. Cá di chuyển ngược dòng trong khoảng các tháng từ 10 đến 2, khi mùa lụt chấm dứt, nước bắt đầu rút, và di chuyển xuôi dòng trong các tháng từ 5 đến 9, khi mùa lụt bắt đầu, nước dâng lên.

Tại Việt Nam cá di chuyển ngược dòng vào đầu mùa lụt (từ thàng 5 đến 9) , và trên sông Bassac (Kampuchea), cá di chuyển ngược dòng trong các tháng 3 đến 5, rồi sau đó xuôi dòng trong các tháng 11 đến tháng 2.

Ở khu vực phía trên thác Khone (Thái và Lào), cá di chuyển ngược dòng vào đầu mùa mưa (tháng 5 đến tháng 9).

Cá Hú di chuyển từng đàn đông từ 60 đến 80 con, và bơi tại tầng trên của mặt nước, cá cũng sống chung với các loài da trơn khác tại các vực, ‘túi’ nước sâu. Cá Hú xuất hiện quanh năm, nhưng rộ nhất là khi mùa mưa bắt đầu. Tại vùng phía trên Thác Khone, mùa cá rộ trùng hợp với mùa sinh nở của côn trùng. Cá to cỡ 14-90 cm có thể đánh bắt quanh năm, cá nhỏ (cá bột) từ 2-10cm chỉ xuất hiện trong các tháng 5 đến tháng 9. Trên khúc sông Mekong từ Thác Khone xuống đến Kandal gần PhnomPenh, có thể vớt được trứng cá Hú trong các tháng 3 – 8 và cá bột rộ trong các tháng 7-8. Các dữ kiện trên cho thấy cá đẻ trứng trong khoảng các tháng 5 – 6 tại một khu vực nằm giữa Kratie và Thác Khone..hay khu vực phụ lưu của các sông Sesan và Sekong..

Tại lưu vực Cửu Long (phần Việt Nam), cá bột cỡ 2 cm xuất hiện vào tháng 6 tại Thốt Nốt, Cần Thơ, Hồng Ngự..đến cuối năm cá tăng trưởng đạt cỡ 20 cm.

Các nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết có thể có 2 quần thể cá Hú trên sông Mekong: Một, từ thác Khone xuống đến vùng đồng bằng Cửu Long, và một quần thể khác ở phía trên thác Khone.

Ảnh minh họa canh chua cá Hú của vinid.net

Cá Hú nuôi tại Việt Nam:

Tại Việt Nam, việc nuôi cá Hú trước đây không được chú trọng vì không được xếp vào loài có tiềm năng xuất cảng. Đa số cá nuôi chỉ để cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ địa phương. Nguồn cá nuôi trong các bè thường là cá bột vớt từ các nhánh sông.

Các bè nuôi cá Hú trong vùng đồng bằng sông Cửu Long tập trung tại Châu Đốc, Tân Châu (An Giang), Hồng Ngự, Cao Lãnh và cả ở Mỹ Tho. Sản lượng hàng năm lên đến vài ngàn tấn , thay đổi hàng năm tùy theo số lượng cá bột vơt được. Từ 1999, các nghiên cứu tại các Khoa Thủy Sản các ĐH Cần Thơ và An Giang đã sản xuất được giống cá theo các phương pháp nhân tạo để cung cấp cá bột cho các nhà bè nuôi cá.

Cá bột nuôi trong bè, ao có thể đạt chiều dài 8-10 cm sau 2 tháng. Khi trọng lượng đạt 1.5 kg, cá tăng trưởng chậm hơn về chiều dài cơ thể. Khi đạt đến một kích thước nhất định thì hầu như không lớn dài hơn. Cá có thể nặng 0.8-1.2 kg sau 1 năm. Độ béo cao nhất vào thời gian cuối năm, và giảm bớt trong mùa sinh sản. Cá nuôi phát dục năm 2 tuổi, buồng trứng có thể có từ 30 đến 120 ngàn trứng.

Thực phẩm dành cho cá nuôi trong bè và kỹ thuật nuôi cá Hú tương tự như nuôi cá Tra. (Xem thêm bài cá Tra)

Giá trị kinh tế: Dinh dưỡng và ẩm thực:

Bên cạnh cá Tra và cá Basa, cá Hú có thể đang được nghiên cứu để làm một loài cá nuôi tại các ao cá gia đình và tại các trại dưỡng ngư. Một số chương trình đã được thử nghiệm tại Việt Nam và Thái Lan.

Một số chi tiết đáng lưu ý:

Giới tiêu thụ Âu-Mỹ không phân biệt philê của các loài pangasiidae. Đối với USDA, phi lê cá Hú vẫn có thể ghi nhãn là Basa hay Tra.

Mức độ tăng trưởng của cá Hú chậm hơn Tra và Basa khi nuôi trong các điều kiện nhân tạo như ao, hồ.

Cá Hú tạo mỡ béo kém hơn Basa dù được nuôi trong cùng điều kiện môi sinh.

Thịt cá Hú trắng và mềm, rẤt được ưa chuộng tại các thị trường nội địa (dạng cá tươi, nguyên con). Tỷ lệ cung cấp philê của cá Hú thấp hơn cá Tra, nhưng cao hơn Basa.

Khả năng ăn giáp xác giúp có thể nuôi cá Hú trong ao, hồ ghép với các loài khác như cá bông, rô..

https://img-global.cpcdn.com/recipes/1d999131c92e73f5/751x532cq70/ca-hu-kho-t%E1%BB%99-recipe-main-photo.jpg

Ảnh minh họa cá Hú kho tộ của cookpad.

Giá trị dinh dưỡng:

Có thể xem thành phần dinh dưỡng của cá Hú gần như tương tự như các cá thuộc nhóm da trơn , nhiều chất béo như Tra, Basa và Bông lau. Rất it tài liệu nghiên cứu riêng về thành phần dinh dưỡng của cá Hù: tài liệu đáng chú ý nhất là một bản báo cáo của ĐH Khon Kean (Nong Khai, Thái) công bố tại Food Innovation Asia Conference 2010, tổ chức tại Bangkok ngày 17 và 18 tháng 6 năm 2010. Các tác giả đã nghiên cứu và phân chất thành phần acid béo trong lipid của một số cá như Trê, Basa, Tra và Hú.. Kết quả được ghi nhận:

Tỷ lệ chất béo thô trich được từ phần mỡ bụng và đầu của cá Hú chiếm 67.44 % (Basa 58.83% và Tra 48.47%)

Acid béo tự do chiếm 0.87 % nơi cá Hú, so với 1.14 % nơi cá Basa và 1.32% nơi cá tra dầu.

Chỉ số iodine của dầu cá: Hú 9.66; Basa 12.6 và Tra dầu 8.22
Thành phần chính trong Acid béo bão hòa (trong dầu cá) là palmitic acid (23.5%) và stearic acid (6.7%). (Tỷ lệ palmitic acid trong dầu cá catfish Mỹ (Clarias garlepinus) là 18.2 % và trong Cá chép là 15.9%).
Acid béo chưa bão hòa chiếm 60.26 %, đa số là cis-9-oleic acid và cis 9,12 linoleic acid..

EPA chiếm 0.20% và DHEA chiếm 0.43 %

Ẩm thực:

Tại vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long, cá Hú được xem là một loại cá ngon, thịt khá tốt và tương đối béo nên được chế biến thành một số món ăn thông thường như:

Nấu canh chua cá Hú

Cá Hú kho dưới nhiều dạng như kho tộ, kho tiêu xanh, kho nghệ, kho lá chanh, nấu măng chua, gỏi khô (phơi nắng một ngày) cá Hú, cá Hú hấp xốt tương, xốt xì dầu..

Tài liệu sử dụng:

Fishbase: Pangasius conchophilus
Distribution and Ecology of Some Riverine Fish Species of the Mekong River Basin (MRC)
Key Mekong fish species-migration paths: Pangasius conchophilus (MRC).
Fishes of the Cambodian Mekong (FAO)

Trần Minh Quân, 16 tháng Sáu 2011#1

Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/c%C3%A1-h%C3%BA.30186/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

Gravatar

letruy: You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s