Cá tra dầu

 Trần Minh Quân

Ảnh minh họa cá Tra Dầu nặng trên 200 kg của vnn-imgs-f.vgcloud.vn

Cá Tra Dầu, tuy cũng được gọi là Tra nhưng có những đặc điểm khác biệt hẳn với các loài Tra nuôi, Tra Bần, Tra Chuột.. Ngoài ra Tra Dầu còn được xem là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất trên thế giới và của sông Mekong, dài đến trên 3m, nặng trên 300 kg… bên cạnh các loại cá lớn như Vồ Cờ, cá Hô. Cá Tra Dầu hiện nay đã được xếp vào loài cá cần được bảo vệ để khỏi bị tuyệt chủng.
Tên khoa học và các tên khác:
Pangasianodon gigas thuộc họ cá Pangasìidae
Tên Anh-Mỹ: Mekong giant catfish. Pháp: Poisson-chat géant du Mekong.
Kmer: Trey reach; Lào: Pla boek; Thái: Pla buk
Về phương diện phân loại, Tra Dầu, tuy đang được định danh là Pangasianodon gigas, nhưng một số nhà ngư học chuyên về cá da trơn đã đề nghị chuyển từ Chi Pangasianodon sang Pangasius. Điểm khác biệt giữa 2 chi cá này là Pangansianodon không có răng hàm và răng trên khẩu cái (vòm miệng). Nhóm chữ ‘đuôi’ (suffix) odon dựa trên răng cá: Tra Dầu chỉ có răng trong 2 năm đầu, sau đó răng mất đi, chỉ còn lại lợi khác với các loài khác trong cùng nhóm.
Một số đặc điểm sinh học:
Cá Tra Dầu có thân thon dài, phần thân trước có tiết diện tròn, phần sau dẹp một bên. Phần đầu chiếm từ 15 đến 20 phần trăm chiều dài toàn thân. Mắt nhỏ nằm phía dưới của đường ngang qua gốc miệng và không bị che khuất bởi nếp da. Miệng rộng, mõm có thể tù hay hơi nhọn, hàm dưới hơi nhô. Cá có 2 đôi râu: một đôi râu hàm nhỏ và ngắn, không có răng hàm và răng trên khẩu cái.(Râu phát triển ở cá con nhưng râu hàm trở thành thu gọn lại khi cá trưởng thành và hầu như rất nhỏ nơi cá lớn) Vây ngực nhỏ, vây bụng lớn, vây lưng có 2 ngạnh, 7-8 tia mềm, vây hậu môn có 35 tia mềm, vây đuôi chẻ thành thùy sâu. Bụng chứa một bong bóng nằm suốt trong khoang.
Cá có mặt lưng màu nâu xậm, hay xám bạc; mặt bụng và các vây màu xám nhạt hơn, không bao giờ đen. Cá nhỏ có lưng màu xám và bụng màu bạc có 2 vạch xậm, các vạch này biến mất khi cá tăng trưởng.
Sau khi tiêu thụ hết dưỡng chất trong bọc trứng, ấu trùng ăn các vi tảo, vi sinh vật như Cyclops, Moina, Daphnia trong 2 tuần kế tiếp; sau đó cá con ăn tạp, kể cả thịt của các sinh vật chết. Khi cá được một tuổi, cá đổi thành ăn thực vật. Cá lớn ăn rong, tảo và có thể cả ấu trùng của sâu bọ. Do sự kiện không có răng hàm nên các nhà ngư học cho rằng thực phẩm chính của cá Tra Dầu là thực vật thủy sinh mọc nơi khe đá hay nơi tầng đáy.
Cá Tra Dầu trong thiên nhiên đẻ trứng trong khoảng thời gian từ cuối tháng 4 đến giữa tháng 5. Các nơi đẻ trứng của cá chưa được xác định. Cá mái dài từ 1.5-2m có thể đẻ từ 500 ngàn đến 2 triệu trứng. Một cá mái nặng 178 kg, có buồng trứng nặng đến 13.5 kg. Trứng màu vàng nhạt, kết dính, đường kinh khoảng 1.7mm.
Cá Tra Dầu được xem là một trong những loài cá nước ngọt có khả năng tăng trưởng nhanh nhất: Cá lớn nhất được ghi nhận (1945) dài 3m, nặng 300 kg. Một con Tra Dầu, đánh bắt được tại NongKhai (Thái) tháng 11 năm 1967, dài 2.3 m, nặng 135 kg, ước tính là đã được 6 tuổi: cá lớn chậm trong năm đầu, sau đó nhanh hơn trong năm thứ nhì và rất nhanh trong năm thứ ba rồi chậm lại. Một con Tra Dầu mái, bắt được vào năm 2005 dài 2.7m và nặng 293 kg. Trong môi trường thiên nhiên, Tra Dầu tăng trọng 150-200 kg trong 3-5 năm hay khoảng 20-30 kg/ mỗi năm. Nuôi trong môi trường nhân tạo, cá con trung bình 13cm, nặng 17g tăng trưởng đến 40cm, nặng 620g chỉ trong vòng 4 tháng (tỷ lệ tăng trưởng lên đến 400%)
Khu vực phân bố và di chuyển:
Tra Dầu phân bố giới hạn trong vùng nhiệt đới Đông-Nam Á: Kampuchea, Lào, Thái Lan và Vân Nam (Tàu)
Cá chỉ sống nơi vùng nước ngọt, không gặp được tại các khu vực nước lợ nơi cửa sông. Vùng sinh hoạt thich hợp nhất của cá là giữa dòng, nơi độ sâu trên 10m..
Tại Việt Nam, Tra Dầu có mặt tại các sông Tiền, sông Hậu, nhưng không xuống đến các vùng cửa sông, chỉ giới hạn đến Châu Đốc, Hồng Ngự và được xem là một loài cá hiếm.
Trong những năm 1937-38, nhà nghiên cứu J. Durand (1940) đã thâu thập các mẫu cá Tra Dầu nhỏ trong khu vực sông Mekong tại vùng biên giới Việt-Miên, và ghi lại những số liệu như sau: một mẫu 125 mm tại Bạc Liêu, hai mẫu từ 150-180 mm tại Kompong Cham, một mẫu 285 mm tại Châu Đốc, một 420 mm tại Peam Chiang và một 450 mm tại Tonle Sap.
Theo tài liệu của MRC, có lẽ hiện nay chỉ còn 2 quần thể Tra Dầu: một trong khu vực hạ lưu từ thác Khone trở xuống như Kampuchea và Việt Nam, một tại các nhánh sông phía Bắc đầu nguồn thác. Tại khúc sông Mekong nơi biên giới Thái-Lào: Tra Dầu di chuyển ngược dòng trong các tháng 4-5, vào thời gian bắt đầu mùa mưa tạo nước đục. Trong khi đó tại vùng Tonle Sap, cá di chuyển từ Biển Hồ theo dòng nước rút, xuôi về phía nam xuống đến Việt Nam. Ngư dân tại Xayabouri (Lào) cho biết Tra Dầu sống tại tại các vực, hồ sâu thuộc sông Mekong trong suốt mùa khô

Bảo tồn trong thiên nhiên và nuôi cá trong các điều kiện nhân tạo:
Cá Tra Dầu đang đưng trươc nguy cơ bị tuyệt chủng do những yêu tố như bị đánh bắt quá mức, môi sinh bị phá hoại nghiêm trọng do việc xây cất các đập thủy điện, nhất là từ thượng nguồn sông Mekong tại Trung Hoa. Danh mục ‘đỏ’ về Cá của Tổ chức IUCN đã xếp Tra Dầu vào loài ‘có nguy cơ cao bị tuyệt chủng=Critically Endangered’ , số lượng cá còn sống trong thiên nhiên không xác định được, nhưng các thống kê về đánh bắt cho thấy lượng cá đã giảm đến 80% trong khoảng thời gian 14 năm qua. Tổ chức CITES xếp Tra Dầu vào Phụ lục I: cấm buôn bán trên thị trường thế giới.
Hiện nay, tại Kampuchea hầu như không còn đánh bắt được Tra Dầu trong vùng lưu vực TonleSap: theo ngư dân địa phương thì năm 1999 chỉ bắt được 4 con, năm 2000 được 11 con, năm 2001 được 7 con..tất cả đều dưới 20 kg. Từ năm 2000, với sự trợ giúp của MRC, đã có một chương trình mua lại cá bị ngư dân bắt được và sau đó thả lại cá về vùng sinh sống..
Thái Lan, Lào (1987) và Kampuchea (1971) đều cấm đánh bắt Tra Dầu trong thiên nhiên, tuy nhiên lệnh cấm này hầu như không được ngư dân tuân hành. Thái hiện là quốc gia duy nhất cho phép câu Tra Dầu tại các hồ tư nhân. Chủ nhân các hồ này mua và nuôi cá do các chương trình nghiên cứu của chính phủ cung cấp. Hồ câu cá Bung Sam Ran tại Bangkok có những Tra Dầu nặng đến 140 kg, đa số cá câu được nặng khoảng 18 kg.
Cá Tra Dầu cũng chỉ còn thỉnh thoảng xuất hiện tại các lưu vực sông Chao Phraya (Thái) và tại An Giang (Việt Nam)
Tại Thái Lan, ngành Thủy Sản đã bắt đầu nghiên cứu nuôi cá Tra Dầu từ 1981 và đến tháng 5/1983 đã sản xuất thành công lần đầu, sau các đợt thử nghiệm cho sinh sản cá bằng các phương pháp nhân tạo, từ cá bố-mẹ đánh bắt trên sông Mekong (Chiang Rai), tạo được trên 200 ngàn cá bột, nhưng tỷ lệ sống còn rất thấp. Phương pháp nuôi và cho cá đẻ được cải thiện rất nhiều và cho những kết quả rất khả quan. Cá con được cung cấp cho các hồ nuôi tư nhân..Hiện nay dựa theo đặc tính sinh hoạt của cá, thích những vùng nước lặng, ít lưu thông, nên cá đang được cho lai tạo với P. hypophthalmus

Ảnh minh họa cá Tra Dầu nướng muối ớt của amthucxuavanay.vn

Huyền thoại và ẩm thực:
Cá Tra Dầu, không chỉ bị đánh bắt do vị ngon của thịt mà còn do những tin tưởng của ngư dân cho rằng bắt được cá sẽ được may mắn, ăn thịt cá được tăng tuổi thọ và thêm khôn ngoan. Giá một con Tra Dầu 250 kg lên đến trên 2,500 USD.
Tại Lào, Kampuchea: Thịt Tra Dầu được xếp vào loại ‘thượng hạng’, mùi vị không loại cá nào so sánh được (?). Giống như thịt của cá Tầm (sturgeon), nhưng lại rất giống với thịt bê, những người lần đầu tiên thử cá đều cho rằng đó là thịt heo-bò, tuy có thoảng mùi cá.
Thịt Tra Dầu lát mỏng có thể chiên hoặc xào rất ngon, tuy nhiên nướng vỉ than còn ngon hơn nữa (nên quết qua một lớp dầu olive trước khi nướng để thịt không bị quá khô). Phần thịt ngon nhất, là phần thịt bụng phía gần đầu, ngon hơn phần gần đuôi.
Gan cá Tra Dầu được xem là ‘đặc sản’, khía, ướp chút muối và nướng sẽ là món ‘khai vị’ tuyệt hảo. Đầu cá rất thich hợp để nấu canh, tuy nhiên nếu gặp cá to, đầu nặng 20-30 kg, thì cần phải đãi tiệc cả chục người ăn (?). Người Lào co những món Tra Dầu đặc biệt như Padek pa beuk, Som pa beuk.
Trứng cá Tra Dầu, đã từng được những dân Pháp sống tại Lào gọi là ‘ Caviar du Laos’, được dành làm món ăn Hoàng Gia: Xôi nếp trứng cá tra.(Som Khay pa eun ) chỉ có tại Mường Luông (Luang Prabang).
Truyền thuyết Lào cho rằng: cá Tra Dầu trống chỉ sống tại hồ Đại Lý (Tali) bên Tàu, vảy cá màu vàng (?), bơi nhàn hạ quanh hồ để chờ cá mái bơi suốt ngược dòng Mekong đến để phối ngẫu và đẻ trứng (một huyền thoại khó giải thích vì cá Tra Dầu thuộc loài cá da trơn, không vảy..)..Truyền thuyết khác thì cho rằng Tra Dầu là một loài rồng từ biển đến với sông Mekong của Lào và Tra Dầu chỉ sống tại những vực sâu.
Tại Ban Ang, một làng đánh cá bên thượng nguồn Mekong gần Vạn Tượng (Vientiane), hàng năm vẫn có ngày cúng lễ đễ khai mùa đánh cá Pa beuk. Ngư dân làm lễ cúng các thủy thần như Thần Siri Mangala, Chao Dan..

Tài liệu sử dụng:
Fishbase: Pangasiodon gigas
River of Giants: Giant fish of the Mekong (WWF)
Fishes of the Cambodian Mekong (FAO)
Management and preservation of the giant fish species of the Mekong (FAO)
Mekong Wetlands Biodiversity Programme: Giant Catfish Component, Final Report, February 2007
Fish and Fish dishes of Laos (Alan Davidson)

Trần Minh Quân 12 tháng Sáu 2011#1

Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/c%C3%A1-tra-d%E1%BA%A7u.29744/

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

Gravatar

letruy: You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s