Trần
Minh Quân

Ảnh minh hoạ cá Lạt (Pike Conger Eel) của encrypted-tbn2.gstatic.com
‘ Xớn xác nhiều nỗi là con cá trê
Bắc nước cho rê là cá Lạt mạ’
(Vè Con Cá,Văn Chương Bình Dân Việt Nam)
Như đã trình bầy trong bài Cá Chình, bộ cá
Anguilliformes là một bộ cá rất lớn, có hình
dạng chung là thân dài, hình ống giống như rắn;
Anh ngữ gọi chung dưới tên eel. Nhóm cá Conger
eel (Congre) bao gồm những loài phân bố trong
nhiều vùng biển Bắc Đại Tây Dương , và nhóm phụ
Pike-conger thường chỉ gặp trong khu vực Ấn Độ
và Thái Bình Dương.
Nhóm Pike Conger tương đối hẹp chỉ gồm 5 chi có
tổng cộng khoảng 13 loài sinh sống trong các
vùng biển nhiệt đới Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương
và Thái Bình Dương. Cá dài từ 65cm đến 2.5m, và
sinh sống tại nhiều môi trường khác nhau: từ nơi
cửa sông, đến vùng ven biển và có loài sống nơi
tầng nước sâu đến hơn 300m. Pike conger sống vùi
mình dưới bùn đáy và chỉ ra kiếm ăn ban đêm.
Chúng dùng hàm răng sắc và bén để tấn công con
mồi gồm các cá, hải sinh nhỏ hơn.
Trong số 5 chi, chỉ có 2 chi Congresox và
Muraenesox là có những loài cá đáng chú ý như:
Congresox talabon = Yellow pike-conger
Congresox talabonoides= Indian pike-conger
Muraenesox bagio= Common pike conger
Muraenesox cinereus= Daggertooth pike conger.
Tên khoa học và các tên khác:
Muraenesox cinereus thuộc họ cá Muraenesocidae
Tên địa phương Việt Nam: Cá dưa xám, cá Lạt bạc
(Cà mâu), cá lạc ù (Bình Định)
Tên Anh-Mỹ: Conger pike, Daggertooth pike
conger, Darkfin conger eel; Pháp:
Murénésoce-dague; Tây Ban Nha: Morenocio denton.
Nhật: Hamo; Đại Hàn: Kaet-chang-o; Thái: Pla
mangkor (cá hàm rồng, do hình dạng của miệng đầy
răng)
Đặc tính sinh học:
Cá dưa có thân hình ống rất dài, hình dạng giống
cá chình, phía thân trước tiết diện ngang gần
như tròn, phần thân sau dẹt về một bên. Đầu
tương đối dài và nhọn. Thân trơn, không vẩy.
Khoảng cách giữa 2 lỗ mũi khá rộng. Mõm ngắn,
hình nón hơi nhô ra. Mắt lớn, đường kính của mắt
có thể bằng 2 đến 2.5 lần chiều dài của mõm.
Miệng rất rộng, hàm trên kéo dài vượt quá mắt.
Hàng răng nanh ngoài cùng của hàm dưới dài,
hướng thẳng lên trên. Răng nanh nằm trên xương
khẩu cái. Lỗ mang mở rộng nằm dưới vây ngực. Vây
lưng và vây bụng liền nhau tạo thành cả vây đuôi.
Vây ngực phát triển. Toàn thân màu xám, bụng
trắng bạc; cá dài trung bình từ 1.5 đến 2m.
Cá phân bố tại các vùng biển Ấn Độ Dương, có mặt
cả tại Biển Đỏ, các vùng biển Philippines, Thái
Lan, Nhật Bản, Trung Hoa và Việt Nam.
Cá dưa sinh sống dưới sâu khoảng 100m, nơi những
vùng biển ấm và cả nơi cửa sông, đôi khi vào cả
vùng nước ngọt. Chúng thuộc loại cá dữ, ăn các
cá nhỏ hơn và tôm tép, giáp xác nhỏ.
Mùa sinh sản là vào các tháng 8-9 (tại Nhật).
Cá đánh bắt ban đêm và được nuôi tại các trại
thủy sản Nhật. Tổng sản lượng đánh bắt, theo FAO
năm 2007 vào khoảng trên 300 ngàn tấn trong đó
Trung Hoa khoảng 200 ngàn, Đài Loan 9 ngàn tấn.
Mã Lai 1.3 ngàn.
Vài loài cá Dưa khác:
Họ cá Muraenesocidae còn có thêm vài loài khác,
sinh sống tại các vùng biển Đông-Nam Á Châu và
xuống đến Úc Châu.
Muraenesox talabonoides: (Congresox
talabonoides) Indian pike-conger, thường được
gọi là cá Lạt vàng. Đầu và thân màu vàng nhạt,
cũng dài trung bình 1.5 đến 2m ( có thể đến 2.5
m) , tiết diện thân 5.5 cm, nặng 600 gram. Cá
sinh sống trong vùng biển Ấn Độ, Nam Dương và
ngoài khơi HongKong, thường bị đánh bắt nơi ven
biển, ở độ sâu 50m.
Muraenesox bagio (Muraenesox yamaguchiensis) =
Common pike conger. Thân và đầu màu xám nhạt,
sinh sống trong vùng biển Nhật xuống tới Bắc Úc
Châu. Dài trung bình 1.8m
Cá Dưa tại Việt Nam:
Tại Việt Nam, cá Dưa (tên chính thức trong danh
mục “Cá Biển Xuất Khẩu” của Bộ Thủy sản Việt
Nam) cũng được gọi tùy địa phương dưới tên cá
Lạc (vùng Bình Định xuống đến Ninh Hòa) hay cá
Lạt (miền Nam, Cà Mâu).
Bong bóng cá Dưa được xem là một món ngon, rất
quý.
Ngư dân tại vùng biển Cà Mâu, nhất là tại các
đảo ngoài khơi như Hòn Hàn, Hòn Chuối có nghề
‘câu cá Lạt’ như một nguồn thu nhập phụ. Theo
báo Cà Mâu ngày 7 tháng 9 năm 2010 thì ngư dân
thường chuẩn bị xuồng để ra khơi khi mặt trời
vừa khuất dạng xuống biển.: ‘ Cá lạt ăn ở tầm
nước sâu, loại mồi câu chủ yếu lá cá đối.hình
thức đánh bắt cá tương đối đơn giản .Đường câu
có một sợi dây bằng nilông, cứ cách khoảng 2m có
nhánh rẽ bằng dây cước gắn sẵn lưỡi câu, lưỡi
câu cá Lạt cũng giống như lưỡi câu cá lóc trong
ruộng. Mỗi gắp câu có khoảng 400 lưỡi câu; mỗi
xuống đi thường sử dụng từ 6 đến 12 gắp. Khi
xuồng ra đến vị trí biển xác định thì mọi người
tập trung, vừa mắc mồi vừa thả câu.cCá lạt thuộc
loại ăn bạo nên khi cắn câu, chúng nuốt luôn vào
bụng, vì vậy khi kéo câu lên có cá là người kéo
thủ sẵn con dao nhỏ để cắt luôn đoạn cước đó.’
Cá lạt được chia thành 3 hạng: Hạng 1 cá từ 3kg
trở lên (giá mua 20 ngàn), hạng nhì cá từ 2kg
đến 3 kg (giá 15 ngàn), còn lại là hạng 3 (giá
10 ngàn). Trung bình mỗi ngày trong mùa, ngư dân
đánh bắt được khoảng 2 tấn cá.
Giá trị dinh dưỡng:
Thành phần dinh dưỡng của cá Dưa được xem là
tương tự như Cá Chình (Xin xem bài Cá Chình).
Tuy là một loài cá sinh sống nơi tầng đáy nhưng
hàm lượng thủy ngân trong cá tương đối thấp:
dưới 0.29 ppm nên được xem là an toàn, ngay cả
cho phụ nữ trong thời kỳ thai ngén.
Theo Journal of Oleo Sciences Số 56-2007 thì
thành phần các acid béo trong Cá dưa, đánh bắt
trong vùng biển Pulau Tuba, Mã Lai được ghi nhận
như sau: (tính theo %)
– EPA (Eicosapentaenoic acid) 10.12
– DHA (Docosapentaenoic acid) 16.33
(EPA và DHA là những acid béo loại Omega-3)
– AA (Arachidonic acid) 4.45
(AA là acid béo loại Omega-6)
– PUFA n-3 27.96
– PUFA n-6 12.41
(PUFA= Poly Unsaturated Fatty Acid)
– Acid béo bão hòa 47.07
Cá dưa trong ẩm thực:
Ẩm thực Nhật:
Tại Nhật, cá Dưa hay Hamo theo truyền thống là
một nguồn thực phẩm quý và được dùng trong nhiều
món ăn đặc biệt. Ăn cá Dưa có thể ngừa được kiệt
sức do trời nóng (?).
Hằng năm, người Nhật có 2 mùa ăn cá Dưa:
Mùa thứ nhất vào mùa Hè, ngay sau khi mùa mưa
tại Nhật vừa dứt. Cá được xem là món ăn chính,
bắt buộc phải có trong các Ngày Lễ Hội Gion (còn
gọi là Hamo) tại Kyoto và Lễ Hội Tenjin tại
Osaka.
Mùa thứ nhì vào mùa Thu, lúc này cá béo hơn và
được gọi là Hamo vàng (matsutake hamo).
Theo người Nhật, cá Dưa rất bổ dưỡng, chứa nhiều
chất béo, calcium, sắt và Vitamin A nhưng lại có
rất nhiều xương: một con cá Dưa dài 1.1 m có đến
3500 xương; và xương lại thuộc loại xương ‘dăm’
nhỏ như kim khâu.
Cá dưa có vị rất đặc biệt, thơm ngon, thịt của
cá trắng tinh, và việc chế biến cá đòi hỏi những
đầu bếp chuyên nghiệp. Xương dăm của cá nằm khá
nhiều ngay dưới lớp da nên không thể.rút xương
do đó phải lát cá thật mỏng: một khúc cá nhỏ 26
x 3cm phải được lát mỏng đến 25 khía.
Hamo-chiri là những miếng cá nhúng nhanh vào
nước sôi và được ăn, chấm vớí miso, ăn chung với
mận đen (ume) muối.
Nhà hàng nổi tiếng thế giới Hanataka có những
món hamo như:
Otsokuri (Sashimi) hamo, tuy gọi là sashimi,
nhưng không là cá sống, mà đã nhúng nước sôi,
rồi để nguội.
Suimono (súp) hamo, cá lăn bột, rồi nấu vừa chín
thả trong nướp súp đặc biệt.
Hamoyaki hamo: cá nuớng vỉ, sau khi ướp dầu mè
Hamozushi hamo: cá nướng, ép trên cơm nếp dạng
sushi.
Tempura hamo: Cá chiên dòn.
Ngoài ra người Nhật còn nghiền hamo để làm bột
nhão và chế biến thành chả cá; da cá lóc riêng
đút lò.
Tại Việt Nam:
Với người Việt Nam, nhất là vùng Bình Định, Ninh
Hòa, cá Dưa được gọi tại địa phương là cá lạc,
được xem là loại cá thịt rất ngon và dai, dùng
nấu canh chua hoặc kho dẻo. Theo Báo Bình Định:
‘Cá lạc to , loại to cỡ bắp chân người lớn, dài
cả sải tay thường cắt khúc ra bán. Cá được xẻ
dọc theo xương sông, do cá có nhiều xương ngang
nên khi xẻ như vậy để khi nấu cá chín dễ rút
xương ra, rồi rửa sạch, ướp gia vị đầy đủ và nấu
canh chua với rau thơm, ngổ, khế…’
‘ Cá lạc kho dẻo.ngon nhất là lúc cá chín bốc
mùi thơm lừng, nước cá sền sệt dẻo quánh như mật
ong, còn miếng cá săn lại.’
Việt Nam cũng dùng cá lạc để chế biến thành
surimi , xuất cảng (Xin xem bài surimi trong Đặc
Tính Dinh Dưỡng của Cá và Thủy Sản, tập 1 ).
Tại Trung Hoa:
Cá Dưa hay cá Lạt được gọi là Hải mạn (hai man),
tại HongKong cá được gọi là ‘moon-sin’. Thịt cá
thường dùng làm chả cá viên. Các món ăn từ cá
Dưa được chế biến tương tự như cá Chình và cũng
được xem như có khả năng ‘bổ dương’ như lươn và
món chính là ‘Cá lạt nấu ngũ vị hương’.
Cá Dưa trong Dược học cổ truyền:
Dược học cổ truyền Việt Nam và Trung Hoa dùng
thịt cá Dưa, gọi là Hải mạn lệ làm thuốc, công
dụng giống như cá Chình.
Thịt cá Dưa được xem là có vị ngọt, tính bình và
không độc; được dùng để trị các bệnh lở ngứa
ngoài da, sưng ghẻ, trĩ.
Theo ‘Nam Dược Thần Hiệu’ (Tuệ Tĩnh): Hải mạn lệ
ngư-Cá dưa, vị ngọt, tính bình, không độc. Công
dụng bổ hư lao, sát trùng, giải độc, trừ phong
thâp.
Hải Thượng Lãn Ông trong ‘Lĩnh Nam Bản Thảo’:
Hải mạn lệ tục gọi Cá dưa
Ngọt bình không độc bổ ho lao
Sát trùng giải độc trừ tê thấp
Công hiệu so bằng Mạn lệ ngư.
Tài liệu sử dụng:
The Lazy Lizard’s Tales: Conger eels and Pike
conger eels.
FAO Fisheries & Aquaculture- Species fact
sheets: Muraenesox cinereus
SeaFood of SE Asia (Alan Davidson)
Từ Điển Động Vật Và Khoáng Vật Dùng Làm Thuốc
tại Việt Nam (Võ văn Chi) TranVietHung, 6 tháng
Mười 2010#1
https://dconnect.co.jp/friend/tranminhquan/
Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/c%C3%A1-d%C6%B0a-c%C3%A1-l%E1%BA%A1t-hay-pike-conger-eel.16605/
Ảnh minh hoạ cá Lạt (Pike Conger Eel) của encrypted-tbn2.gstatic.com
‘ Xớn xác nhiều nỗi là con cá trê
Bắc nước cho rê là cá Lạt mạ’
(Vè Con Cá,Văn Chương Bình Dân Việt Nam)
Như đã trình bầy trong bài Cá Chình, bộ cá
Anguilliformes là một bộ cá rất lớn, có hình dạng
chung là thân dài, hình ống giống như rắn; Anh ngữ
gọi chung dưới tên eel. Nhóm cá Conger eel (Congre)
bao gồm những loài phân bố trong nhiều vùng biển Bắc
Đại Tây Dương , và nhóm phụ Pike-conger thường chỉ
gặp trong khu vực Ấn Độ và Thái Bình Dương.
Nhóm Pike Conger tương đối hẹp chỉ gồm 5 chi có tổng
cộng khoảng 13 loài sinh sống trong các vùng biển
nhiệt đới Đại Tây Dương, Ấn Độ Dương và Thái Bình
Dương. Cá dài từ 65cm đến 2.5m, và sinh sống tại
nhiều môi trường khác nhau: từ nơi cửa sông, đến
vùng ven biển và có loài sống nơi tầng nước sâu đến
hơn 300m. Pike conger sống vùi mình dưới bùn đáy và
chỉ ra kiếm ăn ban đêm. Chúng dùng hàm răng sắc và
bén để tấn công con mồi gồm các cá, hải sinh nhỏ hơn.
Trong số 5 chi, chỉ có 2 chi Congresox và Muraenesox
là có những loài cá đáng chú ý như:
Congresox talabon = Yellow pike-conger
Congresox talabonoides= Indian pike-conger
Muraenesox bagio= Common pike conger
Muraenesox cinereus= Daggertooth pike conger.
Tên khoa học và các tên khác:
Muraenesox cinereus thuộc họ cá Muraenesocidae
Tên địa phương Việt Nam: Cá dưa xám, cá Lạt bạc (Cà
mâu), cá lạc ù (Bình Định)
Tên Anh-Mỹ: Conger pike, Daggertooth pike conger,
Darkfin conger eel; Pháp: Murénésoce-dague; Tây Ban
Nha: Morenocio denton. Nhật: Hamo; Đại Hàn:
Kaet-chang-o; Thái: Pla mangkor (cá hàm rồng, do
hình dạng của miệng đầy răng)
Đặc tính sinh học:
Cá dưa có thân hình ống rất dài, hình dạng giống cá
chình, phía thân trước tiết diện ngang gần như tròn,
phần thân sau dẹt về một bên. Đầu tương đối dài và
nhọn. Thân trơn, không vẩy. Khoảng cách giữa 2 lỗ
mũi khá rộng. Mõm ngắn, hình nón hơi nhô ra. Mắt lớn,
đường kính của mắt có thể bằng 2 đến 2.5 lần chiều
dài của mõm. Miệng rất rộng, hàm trên kéo dài vượt
quá mắt. Hàng răng nanh ngoài cùng của hàm dưới dài,
hướng thẳng lên trên. Răng nanh nằm trên xương khẩu
cái. Lỗ mang mở rộng nằm dưới vây ngực. Vây lưng và
vây bụng liền nhau tạo thành cả vây đuôi. Vây ngực
phát triển. Toàn thân màu xám, bụng trắng bạc; cá
dài trung bình từ 1.5 đến 2m.
Cá phân bố tại các vùng biển Ấn Độ Dương, có mặt cả
tại Biển Đỏ, các vùng biển Philippines, Thái Lan,
Nhật Bản, Trung Hoa và Việt Nam.
Cá dưa sinh sống dưới sâu khoảng 100m, nơi những
vùng biển ấm và cả nơi cửa sông, đôi khi vào cả vùng
nước ngọt. Chúng thuộc loại cá dữ, ăn các cá nhỏ hơn
và tôm tép, giáp xác nhỏ.
Mùa sinh sản là vào các tháng 8-9 (tại Nhật).
Cá đánh bắt ban đêm và được nuôi tại các trại thủy
sản Nhật. Tổng sản lượng đánh bắt, theo FAO năm 2007
vào khoảng trên 300 ngàn tấn trong đó Trung Hoa
khoảng 200 ngàn, Đài Loan 9 ngàn tấn. Mã Lai 1.3
ngàn.
Vài loài cá Dưa khác:
Họ cá Muraenesocidae còn có thêm vài loài khác, sinh
sống tại các vùng biển Đông-Nam Á Châu và xuống đến
Úc Châu.
Muraenesox talabonoides: (Congresox talabonoides)
Indian pike-conger, thường được gọi là cá Lạt vàng.
Đầu và thân màu vàng nhạt, cũng dài trung bình 1.5
đến 2m ( có thể đến 2.5 m) , tiết diện thân 5.5 cm,
nặng 600 gram. Cá sinh sống trong vùng biển Ấn Độ,
Nam Dương và ngoài khơi HongKong, thường bị đánh bắt
nơi ven biển, ở độ sâu 50m.
Muraenesox bagio (Muraenesox yamaguchiensis) =
Common pike conger. Thân và đầu màu xám nhạt, sinh
sống trong vùng biển Nhật xuống tới Bắc Úc Châu. Dài
trung bình 1.8m
Cá Dưa tại Việt Nam:
Tại Việt Nam, cá Dưa (tên chính thức trong danh mục
“Cá Biển Xuất Khẩu” của Bộ Thủy sản Việt Nam) cũng
được gọi tùy địa phương dưới tên cá Lạc (vùng Bình
Định xuống đến Ninh Hòa) hay cá Lạt (miền Nam, Cà
Mâu).
Bong bóng cá Dưa được xem là một món ngon, rất quý.
Ngư dân tại vùng biển Cà Mâu, nhất là tại các đảo
ngoài khơi như Hòn Hàn, Hòn Chuối có nghề ‘câu cá
Lạt’ như một nguồn thu nhập phụ. Theo báo Cà Mâu
ngày 7 tháng 9 năm 2010 thì ngư dân thường chuẩn bị
xuồng để ra khơi khi mặt trời vừa khuất dạng xuống
biển.: ‘ Cá lạt ăn ở tầm nước sâu, loại mồi câu chủ
yếu lá cá đối.hình thức đánh bắt cá tương đối đơn
giản .Đường câu có một sợi dây bằng nilông, cứ cách
khoảng 2m có nhánh rẽ bằng dây cước gắn sẵn lưỡi câu,
lưỡi câu cá Lạt cũng giống như lưỡi câu cá lóc trong
ruộng. Mỗi gắp câu có khoảng 400 lưỡi câu; mỗi xuống
đi thường sử dụng từ 6 đến 12 gắp. Khi xuồng ra đến
vị trí biển xác định thì mọi người tập trung, vừa
mắc mồi vừa thả câu.cCá lạt thuộc loại ăn bạo nên
khi cắn câu, chúng nuốt luôn vào bụng, vì vậy khi
kéo câu lên có cá là người kéo thủ sẵn con dao nhỏ
để cắt luôn đoạn cước đó.’
Cá lạt được chia thành 3 hạng: Hạng 1 cá từ 3kg trở
lên (giá mua 20 ngàn), hạng nhì cá từ 2kg đến 3 kg (giá
15 ngàn), còn lại là hạng 3 (giá 10 ngàn). Trung
bình mỗi ngày trong mùa, ngư dân đánh bắt được
khoảng 2 tấn cá.
Giá trị dinh dưỡng:
Thành phần dinh dưỡng của cá Dưa được xem là tương
tự như Cá Chình (Xin xem bài Cá Chình).
Tuy là một loài cá sinh sống nơi tầng đáy nhưng hàm
lượng thủy ngân trong cá tương đối thấp: dưới 0.29
ppm nên được xem là an toàn, ngay cả cho phụ nữ
trong thời kỳ thai ngén.
Theo Journal of Oleo Sciences Số 56-2007 thì thành
phần các acid béo trong Cá dưa, đánh bắt trong vùng
biển Pulau Tuba, Mã Lai được ghi nhận như sau: (tính
theo %)
– EPA (Eicosapentaenoic acid) 10.12
– DHA (Docosapentaenoic acid) 16.33
(EPA và DHA là những acid béo loại Omega-3)
– AA (Arachidonic acid) 4.45
(AA là acid béo loại Omega-6)
– PUFA n-3 27.96
– PUFA n-6 12.41
(PUFA= Poly Unsaturated Fatty Acid)
– Acid béo bão hòa 47.07
Cá dưa trong ẩm thực:
Ẩm thực Nhật:
Tại Nhật, cá Dưa hay Hamo theo truyền thống là một
nguồn thực phẩm quý và được dùng trong nhiều món ăn
đặc biệt. Ăn cá Dưa có thể ngừa được kiệt sức do
trời nóng (?).
Hằng năm, người Nhật có 2 mùa ăn cá Dưa:
Mùa thứ nhất vào mùa Hè, ngay sau khi mùa mưa tại
Nhật vừa dứt. Cá được xem là món ăn chính, bắt buộc
phải có trong các Ngày Lễ Hội Gion (còn gọi là Hamo)
tại Kyoto và Lễ Hội Tenjin tại Osaka.
Mùa thứ nhì vào mùa Thu, lúc này cá béo hơn và được
gọi là Hamo vàng (matsutake hamo).
Theo người Nhật, cá Dưa rất bổ dưỡng, chứa nhiều
chất béo, calcium, sắt và Vitamin A nhưng lại có rất
nhiều xương: một con cá Dưa dài 1.1 m có đến 3500
xương; và xương lại thuộc loại xương ‘dăm’ nhỏ như
kim khâu.
Cá dưa có vị rất đặc biệt, thơm ngon, thịt của cá
trắng tinh, và việc chế biến cá đòi hỏi những đầu
bếp chuyên nghiệp. Xương dăm của cá nằm khá nhiều
ngay dưới lớp da nên không thể.rút xương do đó phải
lát cá thật mỏng: một khúc cá nhỏ 26 x 3cm phải được
lát mỏng đến 25 khía.
Hamo-chiri là những miếng cá nhúng nhanh vào nước
sôi và được ăn, chấm vớí miso, ăn chung với mận đen
(ume) muối.
Nhà hàng nổi tiếng thế giới Hanataka có những món
hamo như:
Otsokuri (Sashimi) hamo, tuy gọi là sashimi, nhưng
không là cá sống, mà đã nhúng nước sôi, rồi để
nguội.
Suimono (súp) hamo, cá lăn bột, rồi nấu vừa chín thả
trong nướp súp đặc biệt.
Hamoyaki hamo: cá nuớng vỉ, sau khi ướp dầu mè
Hamozushi hamo: cá nướng, ép trên cơm nếp dạng
sushi.
Tempura hamo: Cá chiên dòn.
Ngoài ra người Nhật còn nghiền hamo để làm bột nhão
và chế biến thành chả cá; da cá lóc riêng đút lò.
Tại Việt Nam:
Với người Việt Nam, nhất là vùng Bình Định, Ninh
Hòa, cá Dưa được gọi tại địa phương là cá lạc, được
xem là loại cá thịt rất ngon và dai, dùng nấu canh
chua hoặc kho dẻo. Theo Báo Bình Định:
‘Cá lạc to , loại to cỡ bắp chân người lớn, dài cả
sải tay thường cắt khúc ra bán. Cá được xẻ dọc theo
xương sông, do cá có nhiều xương ngang nên khi xẻ
như vậy để khi nấu cá chín dễ rút xương ra, rồi rửa
sạch, ướp gia vị đầy đủ và nấu canh chua với rau
thơm, ngổ, khế…’
‘ Cá lạc kho dẻo.ngon nhất là lúc cá chín bốc mùi
thơm lừng, nước cá sền sệt dẻo quánh như mật ong,
còn miếng cá săn lại.’
Việt Nam cũng dùng cá lạc để chế biến thành surimi ,
xuất cảng (Xin xem bài surimi trong Đặc Tính Dinh
Dưỡng của Cá và Thủy Sản, tập 1 ).
Tại Trung Hoa:
Cá Dưa hay cá Lạt được gọi là Hải mạn (hai man), tại
HongKong cá được gọi là ‘moon-sin’. Thịt cá thường
dùng làm chả cá viên. Các món ăn từ cá Dưa được chế
biến tương tự như cá Chình và cũng được xem như có
khả năng ‘bổ dương’ như lươn và món chính là ‘Cá lạt
nấu ngũ vị hương’.
Cá Dưa trong Dược học cổ truyền:
Dược học cổ truyền Việt Nam và Trung Hoa dùng thịt
cá Dưa, gọi là Hải mạn lệ làm thuốc, công dụng giống
như cá Chình.
Thịt cá Dưa được xem là có vị ngọt, tính bình và
không độc; được dùng để trị các bệnh lở ngứa ngoài
da, sưng ghẻ, trĩ.
Theo ‘Nam Dược Thần Hiệu’ (Tuệ Tĩnh): Hải mạn lệ
ngư-Cá dưa, vị ngọt, tính bình, không độc. Công dụng
bổ hư lao, sát trùng, giải độc, trừ phong thâp.
Hải Thượng Lãn Ông trong ‘Lĩnh Nam Bản Thảo’:
Hải mạn lệ tục gọi Cá dưa
Ngọt bình không độc bổ ho lao
Sát trùng giải độc trừ tê thấp
Công hiệu so bằng Mạn lệ ngư.
Tài liệu sử dụng:
The Lazy Lizard’s Tales: Conger eels and Pike conger
eels.
FAO Fisheries & Aquaculture- Species fact sheets:
Muraenesox cinereus
SeaFood of SE Asia (Alan Davidson)
Từ Điển Động Vật Và Khoáng Vật Dùng Làm Thuốc tại
Việt Nam (Võ văn Chi) TranVietHung, 6 tháng Mười
2010#1
https://dconnect.co.jp/friend/tranminhquan/
Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/c%C3%A1-d%C6%B0a-c%C3%A1-l%E1%BA%A1t-hay-pike-conger-eel.16605/
