Giá
Trị Dinh Dưỡng Của Cá rô
Cá Rô đã đi vào văn học dân gian qua câu chuyện khôi
hài về một thày đồ xứ Nghệ vì quá nghèo nhưng vẫn
muốn giữ thể diện nên làm một con cá rô bằng gỗ,
mang theo mình để đến mỗi bữa cơm.. đem ra dùng đỡ!
Người miền Bắc khi di cư vào Nam năm 1954 đã không
khỏi bực tức khi được gọi dưới những tên: Dân rau
muống và cá rô.. cây..

Văn học dân gian miền Nam còn có câu
ví: ‘Cạn sòng mới biết .. sặc, rô!’
Và trong kho tàng ca dao, tục ngữ Việt Nam, cá rô và
cá bống là ha loài cá được nhắc nhở nhiều nhất:‘Cá
rô, canh cải nấu gừng
Không ăn thì chớ, xin đừng mỉa mai..’ hay:
‘Cá rô ăn móng trong bùn
Biết đâu nhân hậu chỉ giùm cho... em’
Một số địa phương tại Việt Nam còn dược nổi tiếng
nhờ .. cá rô :
‘Cá rô Đầm Sét, cá chép Mầm Đại’
và ‘Cá rô Bàu nón, kho với nước tương Nam Đàn
Gạo tháng 10, cơm mới, đánh tràn... không biết...
no’
Khi nhắc đến món cá kho, nhà văn Nguyễn Đức Trọng đã
quả quyết cá rô là một trong các loại cá, mà khi kho
thì ăn sẽ ..nhớ đời (các loại cá kia được Ông ghi
nhận là cá Chày, cá Chép, cá Mè, cá Trắm và cá Trê).
Cũng trong bài ‘Cá Kho’ (trong điện báo Ánh Dương),
Ông đã phân tách các cách kho cá của ba miền tại
Việt Nam .. và cá rô kho miền Nam được xem là khá...
phóng khoáng nên Nhạc Sĩ Bắc Sơn trong bài hát ‘Còn
Nghe Thương Thầm’ đã ghi lại : ‘... Tô canh rau đắng
và tô cá rô kho, chớ gì đâu mà nhớ...’
Cá rô là một loài cá có những đặc tính kỳ lạ như có
thể di chuyển trên các vùng đất cạn, xấp nước, từ
một vùng nước này sang vùng nước khác. Cá được gọi
tại Âu Mỹ dưới tên Climbing Perch.. nhưng cá thật sự
không thể.. trèo cao! Có những tác giả ghi chép là
bắt được cá .. trên ngọn cây, thật ra cá có lẽ bị
kẹt lại tại đó khi nước dâng lên cao và rút xuống
quá nhanh nên cá rút theo không kịp..
Tên khoa học và các tên khác:
Anabas testudineus thuộc họ cá Anabantidae
Tên Anh-Mỹ: Climbing Perch
Thái: Pla mor, Pla sadet; Cambodia: Trey kranh; Lào:
Pa Kheng
Đặc tính sinh học:
Cá dài khoảng từ 8 đến 25 cm, trung bình thường gặp
là 10-15 cm. Thân màu nâu, thuôn và gần như hình ống
về phía đầu. Đầu cứng. Mắt to; Miệng trung bình, hơi
tù về phía mõm thường hơi hướng về phía trên. Vi hậu
môn và vi lưng màu xậm.
Cá rô tạo ra ổ cho cá mái đẻ trứng, mỗi lần có thể
đẻ đến 5000 trứng, cá đực canh giữ trứng đến khi
trứng nở (1-2 ngày sau đó).
Cá thuộc loại ăn tạp và sinh sống tại những vùng
nước chảy chậm như ao hồ, ruộng nước; phân bố rộng
từ Ấn độ, Đông Nam Á sang đến Philippines, cá được
du nhập vào Papua Tân guinê..
Cá rô chịu đựng được những điều kiện thổ nhưỡng khó
khăn, sống được trong nước đực, ao tù. Trong mùa khô
cá có thể vùi mình dưới bùn, ăn cây cỏ, tép và cá
bột. Tại vùng châu thổ sông Cửu long, cá được cho là
có khả năng di chuyển vào các nhánh sông nhỏ khi
nước lên và sau đó trở về lại nơi đã sinh sống từ
trước khi nước xuống. Cá có thêm một cơ quan thở phụ,
có thể thở bằng không khí ngoài trời, nên có thể
sống được cả tuần nơi khô cạn, không nước miễn là cơ
quan thở có đủ độ ẩm cần thiết. Cá cũng được cho là
có khả năng’ đi’ bằng bụng (trườn bằng cách quẫy
đuôi giống cá lóc) và trong điều kiện môi trường vừa
đủ ẩm ướt, cá có thể đi xa cả trăm thước..
Cá rô tuy nhiều xương, nhưng vẫn được xem là một
loại cá cung cấp thịt khá ngon, nấu canh rất ngọt và
là nguồn thực phẩm quan trọng cho nông dân Đông Nam
Á .
Thành phần dinh dưỡng:
100 gram phần ăn được (bỏ xương) chứa:
- Calories 103
- Chất béo 1.5 g
- bão hòa 0.3 g
- chưa bão hòa mono 0.7 g
- chưa bão hòa poly 0.5 g
- cholesterol 45 mg
- Chất đạm 20.3 g
- Sodium 82. 0 mg
- Potassium 297.5 mg
- Calcium 116.5 mg
- Sắt 1.0 mg
- Magnesium 33.2 mg
- Vitamin B12 1.0 mcg
- Vitamin B6 0.2 mg
- Niacin 2.1 mg
- Riboflavine 0.1 mg
- Thiamine 0.1 mg
Về phương diện dinh dưỡng, cá rô có thể được xem là
giúp bổ xương (khi chiên dòn, ăn cà xương lượng
calcium sẻ khá cao), cá còn là nguồn chất đạm rẻ
tiền, ít chất béo (so với cá trê, cá tra). Cá rô có
thể gây vết thương cho người bắt cá nếu không thận
trọng vì vi lưng của cá khá cứng và có đến 16-20 gai
nhọn.
Tại Mã lai, một số người đã nuôi cá rô trong nhà vì
cho rằng cá rô có khả năng .. trừ được tà ma!
Cá rô trong dược học cổ truyền:
Dược học cổ truyền Trung Hoa và Việt Nam gọi cá rô
là Quyết Ngư, hay Kế Ngư, Thạch Quế Ngư.
Thịt cá rô được xem là có tính bình, vị ngọt, không
độc; có các tác dụng bổ được ‘hư lao’, ích cho tỳ vị,
chữa được các chứng ‘tràng phong hạ huyết’, ích được
khí lực làm người dùng có cảm giác khoẻ khoắn.
Mật cá rô hay Quyết ngư đảm được dùng để trị hóc
xương, trị dầm gai hay các loại gai hóc trong cổ
họng (dùng mật khô, hòa với rượu, hớp rồi nhổ ra)
Tác giả: Trần Minh Quân