Trần Minh Quân

 

 

Cá TRÁM CỎ (Grass Carp)

 Thực phẩm và kiểm soát môi sinh

DS Trần Việt Hưng

 

                               

                                                   Cá TRÁM C (Grass Carp)

 Cá Trám cỏ (Grass carp= Ctenopharyngodon idella thuộc đại gia đ́nh Cá chép (Cyprinidae) c̣n được gọi là White Amour là một loài cá nước ngọt ăn cỏ. Cá có nguồn gốc tại các gịng sông vùng Tây Bá lợi  Á, Bắc  Trung Hoa, chảy về Thái B́nh dương trong vùng giới hạn giữa các vĩ tuyến 50 và 23 độ Bắc,.Cá được nuôi để làm thực phẩm tại Trung Hoa và được đưa  đến nuôi tại hơn 90 quốc gia trên thế giới từ Argentina đến New Zealand (kể cả Hoa Kỳ), để dùng làm tác nhân kiểm soát cây cỏ hoang dại, và làm thực phẩm. Tên White Amur là do cá được xem là gốc tại sông Amur..

   Cá trám cỏ đă được du nhập đến rất nhiều vùng trong Liên Bang Sô viết (cũ) tại Âu châu, Trung Á , Kazakhstan..Trong thập niên 1963-73 trên 20 ngán cá trưỡng thành và 6 triệu cá con được đưa vào các hồ, sông như Kuban, Volga..

 

                            Tại ViệtNam, cá c̣n được gọi là Thảo ngư, cá được các nhà ngư học Pháp đưa vào miền Bắc từ năm 1937 và sau đó được lai tạo thêm với các giống nhập từ Trung Hoa vào năm 1958 và được phổ biến nuôi tại nhiều nơi trong nước để tạo thêm nguồn thực phẩm cung cấp chất đạm tương đối rẻ tiền. Sau 1975, cá được phát triển thêm tại miền Nam VN

Tên khoa học và các tên khác:

Ctenopharyngodon idella  thuộc Họ Cyprinidae.

Tên gọi tại Anh-Mỹ: Grass Carp, White Amur, Chinese grass carp

Lào: Pa kin gna; Kampuchea: Trey srockhen; Trung Hoa: Chow-yu

Tại VN c̣n có tên là cá Trám trắng.

 

 

                                       

                                                      Cá Trám trắng (Cá trám cỏ (Grass Carp)

 

Đặc điểm sinh học:

   Cá có thân thuôn hơi mập dạng thủy lôi. Cá có thể dài đến 1.5 m (4.9 ft), tuy nhiên thường nhỏ hơn.  Thân phủ vẩy lớn, tṛn: dọc theo thân hàng vẩy dài nhất có thể có từ 40 đến 42 vẩy; thân màu xanh olive tối có ánh vàng-nâu. Đầu ngắn, miệng rộng không râu; mép dưới hơi thụt vào. Miệng có 2 hàng răng h́nh lưỡi cưa. Vây lưng láng có 8-10 gai mềm; vây hậu môn nằm gần đuôi hơn các cá khác trong gia đ́nh cá chép . Bụng trắng bạc.



 

 

                                                                   Carpe asiatique

 

   Cá trám cỏ lớn rất nhanh: cá con cỡ 20cm trong mùa xuân, qua đến mùa thu có thể tăng trưởng thành 45 cm. Cá trưởng thành thường dài đến 1.m, cân nặng đến 18 kg. Cá tăng trọng trung b́nh 4.5 kg/ năm và ăn lượng thực phẩm mỗi ngày gấp 3 lần trọng lượng cá. Cá tuy sinh sống trong những vùng nước chảy chậm hay ao tù có nhiều thực vật quanh bờ nhưng lại đẻ trứng nơi nước chảy mạnh. Cao điểm của mùa sinh sản là trong các tháng 4-5 (tại Trung Hoa), thời gian này có thể thay đổi tùy địa phương.  Một cá mái nặng 6 kg bắt tại sông Dương tử mang đến trên 100 ngàn trứng. (Tại Nhật cá mái nặng 12 kg, dài 81.5 cm mang trên 800 ngàn trứng; tại Nga cá trung b́nh 7-15 tuổi nặng 5-16 kg mang trên 800 ngàn trứng).Trứng cá thụ tinh tại vùng sỏi đá nơi đáy sông, vùng ḍng nước chảy nhanh. Trứng phân tán và bỏ mặc trong điều kiện thiên nhiên. Nhiệt độ tối ưu là vào 27-29 độ C (81-84  độ F)  

   Cá ăn các loạt thực vật thủy sinh nhất là rong, bèo và các loại cỏ mọc trong nước, đồng thời cả những động vật nhỏ như côn trùng.

 

 

                         

 

Giá trị dinh dưỡng:

100 gram cá (không xương) chứa:

- Calories                              279

- Chất đạm                            20.77 g

- Chất béo tổng cộng            15.77 g

         - Acid béo băo ḥa (saturated)           3.253 g

         - Acid béo chưa băo ḥa mono           6.584 g

         - Acid béo chưa băo ḥa poly             4.502 g

         - Cholesterol                                       98 mg

- Chất bột (carbohydrate)      12.33 g

- Calcium                               78 mg

- Đồng                                    0.107 mg

- Sắt                                          2.18 mg

- Magnesium                            37 mg

- Phosphorus                            451 mg

- Potassium                              373 mg

- Selenium                               19.1 mcg

- Sodium                                  547 mg

- Kẽm                                       1.79 mg

- Vitamin A                              20 mcg

- Vitamin B-6                           0.197 mg

- Vitamin B-12                         1.5 mcg

- Folate (tổng cộng)                  28 mcg

- Vitamin E (alpha- tocopherol)  0.78 mg

- Niacin                                     2.53 mg

- Riboflavine                             0.152 mg

- Thiamine                                 0.224 mg

- Lutein +  Zeaxanthin              26 mcg

 

    Về phương diện dinh dưỡng, cá trám cỏ có thể được xem là một thực phẩm bổ dưỡng, cung cấp nhiều Vitamin B12, bồi bổ cho hệ thần kinh. Cá chứa nhiều sắt giúp tạo hồng cầu, và kẽm giúp làm vết thương mau lành. Ngoài ra c̣n có thêm B6, niacin, thiamine, folate và các khoáng chất quan trọng khác như potassium, magnesium..

   

Cá trám cỏ trong Đông Y:


  Y học cổ truyền Trung Hoa dùng thịt cá trám cỏ hay Hoản ngư vả mật cá hay hoản ngư đảm để làm thuốc.

Thịt cá được xem là có vị ngọt, tính ấm; có các tác dụng 'noăn vị ḥa trung', 'b́nh can, khu phong, trị tê. Thịt cá dùng để trị hư lao và phong hư gây nhức đầu, trị ăn khó tiêu, bụng đầy trướng.

Mật cá có vị đắng, tính hàn, có tác dụng chống viêm, minh mục (làm sáng mắt) dùng trị đau tắc họng.

(Sách Nam dược thần hiệu của Tuệ Tĩnh chỉ ghi cách dùng của mật cá trám đen)

   Khoa dinh dưỡng trị liệu tại Trung Hoa ngày nay cũng dùng thịt cá trám cỏ, sau khi bỏ ḷng và rửa sạch, để trị bệnh. Thịt cá trám cỏ được xem là có vị ngọt, tính ấm và tác động vào kinh mạch thuộc Tỳ và Vị. Cá nguyên con hay đầu cá hấp được dùng để trị mệt mỏi, hơi thở ngắn và ăn mất ngon khi lao lực (Chinese Dietary Therapy-Liu Jilin).

Cá trám cỏ tại Hoa Kỳ:

Tại Hoa Kỳ, cá trám cỏ đă được nghiên cứu để dùng làm một tác nhân giúp kiểm soát các thực vật thủy sinh tại các hồ ao, sông ng̣i và hệ thống thủy lợi. Tiểu bang Florida đă có những chương tŕnh dùng cá trám cỏ để  kiểm soát môi sinh, nhất là tại các vùng nước mà cây cỏ thủy sinh ngoại nhập đă phát triển quá nhanh, gây mất quân bằng cho hệ sinh thái và gây hư hại cho các sinh vật tại địa phương nhất là loại rong hydrilla.

     Từ năm 1963, Cơ quan US Bureau of Sport Fisheries đă cộng tác với Trạm Wildlife Fish Farming Experiment tại Stuttgarg, Arkansas vả ĐH Auburn, nhập cảng cá trám cỏ từ Malaysia, để nghiên cứu thử nghiệm. Cá con được nuôi tại Trạm đă thoát vào sông White gẩn Stuttgart (1966) và sau đó xuất hiện tại sông Mississippi (1971) rồi Texas. Ohia.. Đến 1970 cá trám cỏ đă được đưa vào Florida để giúp kiểm soát rong hydrilla. Việc sử dụng cá trám cỏ tại Florida và các Tiểu bang khác trong thời gian từ 1970 -1984 tương đối giới hạn v́ mối lo ngại cá sinh sản nhanh sẽ gây các hiệu ứng tiêu cực cho sinh thái. Do đó các nhà nghiên cứu muốn tạo ra một giống cá trám cỏ. vô sinh nhưng vẫn giữ được khả năng ăn thực vật thủy sinh. Các cố gắng sơ khởi nhằm tạo ra một quần thể toàn cá mái bằng phương pháp gynogenesis (Stanley 1976), dùng cách cấy kích thích tố chuyển biến cá trống thành cá mái (Boney 1984) hay bằng cách mổ bỏ tuyến sinh dục đực.. tuy nhiên các phương thức này vẫn chưa hoàn bị.

   Cá trám cỏ thiên nhiên thuộc loại diploid có số nhiễm sắc (2N) là 48; các nghiên cứu đă tạo được loại cá  vô sinh triploid (3N) có thêm một bộ nhiễm sắc. Cá trám 3N vẫn giữ được tính cách ăn thực vật thủy sinh. Cá triploid được sinh sản như loại triploid, chỉ khác là trứng sau khi thụ tinh được đưa vào hệ thống nhiệt, hay hàn hay áp suất (7000-8000 psi) để tạo thêm một bộ nhiễm sắc (tổng cộng 72) để cá trở thành vô sinh. Nhân của các tế bào nơi cá trám cỏ triploid to hơn nơi cá diploid. Các nhà nghiên cứu có thể dùng máy Coulter Counter để đo nhân của tế bào máu của cá , do đó có thể kiểm soát được chắc chắn là cá thuộc loại triploid..

   Tại Florida, cá trám cỏ thích ứng được với thời tiết, tăng trưởng theo tốc độ 2 lb (0.91 kg)/ tháng (có thể hơn) nếu có được thức ăn thích hợp. Cá nhỏ lớn nhanh hơn cá trưởng thành.. có con nặng đến 40 lbs (18 kg) và đời sống kéo dài đến trên 10 năm.

 Vài nghiên cứu về  mật cá Trám cỏ:

Tại Trung Hoa, mật cá trắm cỏ được xem là một phương thuốc giúp làm sáng mắt. Tuy nhiên đă xẩy ra một số trường hợp ngộ độc khi ăn mật cá và cũng có trường hợp ngộ độc nặng gây tử vong cho người và thú vật ăn mật cá. Nghiên cứu nơi chuột ghi nhận khi cho chuột dùng dịch chiết mật cá bằng n-hexane và alcohol ( 6ml/kg, 15%) (dùng bằng cách đưa vào bao tử chuột qua ống). Tất cả chuột thử nghiệm chết sau 2-8 giờ với các triệu chứng tụt áp huyết, tăng potassium trong huyết tương, tăng ion hydrogen, tăng urea/huyết.. Chuột đối chứng cho dùng mật heo: không bị các triệu chứng ngộ độc (Toxicology Letter Số 50-1990).

BV Kuang Tien, Tai chung (Taiwan) đă ghi nhận 3 trường hợp suy thận cấp tính sau khi ăn mật cá trám cỏ. Cả 3 bệnh nhân đều ói mửa, đau quặn bụng, tiêu chẩy và śnh bụng. Triệu chứng ngộ độc xẩy ra từ 10 phút đến 18 giờ sau khi ăn mật cá. Cả 3 bệnh nhân sau đó bị suy thận cấp tính và 2 trong 3 người bị sưng gan.. Sau khi điều trị (kể cả dùng thẩm tích máu) các bệnh nhân hồi phục hoàn toàn sau 2-4 tuần trị liệu (Renal Failure Số 15-1993). Nghiên cứu tại ĐH Chonnam, Kwangju, Korea chứng minh là mật cá trám cỏ có thể ức chế sự phóng thích các men dipeptidase của thận từ các quản cầu do hoạt tính trên sự tạo nitric oxide. Sự ức chế này đưa đến suy thận cấp tính (Kidney Blood Pressure Research No 23-2000)

Nghiên cứu tại ĐH Xiangtan, Hunan, Trung Hoa ghi nhận ruột cá trám cỏ có chứa một men protease có tính acid, co thể thuộc loại Cathepsin D. Môi trường tối ưu cho hoạt động của men là pH 2.5 và 37 độ C. Men mất đến 80% hoạt tính khi ở nhiệt độ 50 độ C sau 30 phút. (Liu Zy và Wang Z).

                                                                   DS Trần Việt Hưng

  

Tài liệu sử dụng:

Prevention Magazine's Nutrition Advisor.

Bulletin 867, Department of Fisheries and Aquacultural Sciences (University of Florida)

Chinese Dietary Therapy (Liu Jilin và các Cộng sự viên)

Animal Fact Files : Fish (John Dawes)

Cây thuốc & Động vật làm thuốc ở Việt Nam (Một số tác giả-Viện Dược liệu)

 

 

 

Trở Về Trang Chính