|
Cá RỒNG Cá cảnh và cá làm thực phẩm
(Bài 2)
Trần Minh Quân
Các loài cá
Rồng khác:
Tại Úc,
Nam Mỹ và Phi
châu cũng có một
số loài cá rồng
khá đẹp (nhất là
tại Úc) nhưng
không được giới
nuôi cá cảnh 'đánh
giá cao' và ưa
chuộng như cá
rồng châu Á. Các
loài này được
buôn bán tự do
trên thế giới,
không chịu sự
kiểm soát của
CITES.
Cá Rồng Úc châu
- Saratoga fish:
Tên khoa
học:
- Scleropages
jardinii (Northern
Arowana,
Australia Gold)

Jardini Arowana
- Scleropages
leichardti (Spotted
Arowana= Rồng
đốm Úc châu).

Spotted Arowana
Về hình dạng: S.
leichardii có
thân tương đối
thon, cá dài 90
cm chỉ cân nặng
4 kg, so với S.
jardinii, mập
hơn, cùng độ dài
lại cân đến 17
kg. Cá rồng Úc
châu thân hơi
dẹp, miệng to có
một đôi râu cằm,
mắt to, trán hơi
nhô và cong về
phia sau. (Rồng
đốm trán thẳng,
lưng thẳng).
Cá rồng
Úc đẻ trứng
trong các tháng
9 đến tháng 12,
khoảng 30 đến
130 trứng. Cá
đực nuôi con
trong miệng.
Cá phân
bố tại vùng Bắc
Úc châu nơi lưu
vực các sông
Jardine và
Adelaide, cả tại
lưu vực sông
Fitzroy
(Queensland). Cá
cũng có mặt tại
Papua Tân Ghinê.
Giới
nuôi cá cảnh
phân biệt cá
Rồng Úc thành 3
loại: Rồng châu,
Rồng đốm và Rồng
đỏ.
- Rồng
châu: rất
đẹp và hình dạng
giống cá rồng
châu Á, tuy
nhiên thân có
nhiều vẩy và vẩy
nhỏ (thân rồng
Úc có đến 7 hàng
vẩy trong khi
rồng Á châu chỉ
có 5 hàng). Màu
sắc có thể từ
màu đồng thau
sang đến vàng,
trên vẩy có
những châu nhỏ
hình trăng lưỡi
liềm. Đuôi màu
đen có chấm vàng.
- Rồng
đốm: Giống
loài trên, ngoại
trừ các vây và
đuôi màu xậm hơn;
trên vẩy có
những đồm tròn
nhỏ.
- Rồng
đỏ: ít
gặp hơn. Vẩy có
màu đỏ đậm, điểm
các chấm vàng.
Vây có màu đỏ
nâu xậm.
Cá Rồng Nam Mỹ:
Cá
rồng Nam Mỹ
thuộc chi
Osteoglossum ,
được xem là
những loại cá
cảnh..hạng 'xoàng',
phân chia thành
Ngân long và Hắc
long..Đa số cá
Rồng nuôi làm
cảnh trong các
bể kiếng tại Hoa
Kỳ thuộc nhóm
này. Đây là cũng
loài đang được
dùng làm thực
phẩm (Xem phần
Cá Rồng làm thực
phẩm).
Cá Rồng Phi châu:
Africa Nile
Arowana.
Tên
khoa học: Heterotis
niloticus.
Tuy
thuộc loại cá
hiếm nhưng không
được xem là loại
cá cảnh vì tương
đối xấu: đầu và
cằm tròn, láng,
vẩy và đuôi nhỏ.
Cá
Rồng Phi châu có
thể dài đến 98
cm, nặng đến 11
kg. Thân tương
đối thuôn dài,
phần trước thân
hình ống càng về
sau càng dẹp lại.
Màu đen hay xam1
xậm. Vây lưng và
vây hậu môn dài
nằm lui về phía
sau thân, vây
bụng rất nhỏ.
Đầu to, nắp mang
chắc; mắt to,
miệng hơi
nghiêng.
Cá tạo
vũng đường kính
chừng 1.2 m để
làm ổ và đẻ hàng
ngàn trứng vào
mùa hè, trứng nở
sau 2 ngày và
được cả cá bố/mẹ
bảo vệ. Thực
phẩm của cá gồm
những động vật
không xương nhỏ
được lọc qua một
hệ thống tiêu
hóa xoắn ốc và
phân nhánh đặc
biệt của cá (epibranchial
spiral), hệ
thống này cũng
giúp cô đặc các
mảnh thực phẩm
đồng thời giúp
cá 'cảm nhận'
nồg độ nước để
tự điều chỉnh hệ
thống lọc: Cá có
thể chúi mõm vào
những vùng chất
trầm lắng, lọc
lấy thực phẩm và
nhả cát ra ngoài.
Cá rồng Phi châu
ăn cả thực vật,
cây cỏ, rong..
Cá
phân bố rộng rãi
nơi những vùng
nước cạn, ấm áp
tại vùng Phi
châu nhiệt đới:
Gambia, Niger,
Volta.. và được
du nhập sang
Philippines...
Trại nuôi và ép
cá Rồng:
Nuôi
và sản xuất cá
Rồng đã trở
thành một 'công
nghiệp' chuyên
biệt tại Mã Lai,
Indonesia và
Singapore. Một
số loài được xem
như 'độc quyền'
của Mã Lai và
Indonesia. Thái
Lan và Việt Nam
đang thực hiện
một số dự án
nuôi cá Rồng..
Một
nghiên cứu của
Ủy Ban Sông
Mekong (MRC
Catch and
Culture Số 1/
May 2010) ghi
nhận giá bán cá
Rồng tại VN (Sài
gòn) như sau:
- Kim
long quá bối (Cross-backed
golden arowana =
Scleropages
formosus): dài
20 cm, giá từ
750-1250 USD.
- Huyết
long (Super
Red arowana=
Scleropages
legendrei) dài
20cm, giá
550-1250 USD.
- Kim
long hồng vỹ (Red-tailed
golden arowana=
Scleropages
aureus) dài 16
cm, giá 220 USD.
- Banja
red arowana,
do lai tạo giữa
S. legendrei X
S. formosus dài
16 cm, giá 100
USD.
- Thanh
long (Green
arowana) và Ngân
long (Silver
Asian arowana)
đồng giá 16cm/
50 USD.
Cũng
theo Tổ chức này,
cá Rồng tại Việt
Nam (những loài
do CITES kiểm
soát) được cung
cấp từ Singapore
do các Trại nuôi
Imperial Arowana
Breeding Farm
Ltd và Fu Long
Holdings Pte.

Cá Rồng làm
thực phẩm:
Cá Rồng,
trên thực tế đã
được dân chài
trên sông Mekong
và dân trong
vùng Amazone
(Nam Mỹ ) dùng
làm thực phẩm từ
lâu đời.
Tổ chức
FAO đã ghi loại
cá rồng Á châu (Scleropages
formosus) trong
danh mục cá đánh
bắt làm thực
phẩm trên dòng
sông Mekong. Tên
theo FAO là
Asian bonytongue,
và tên tại
Kampuchea là
Trey tapawt. Cá
dài khoảng 90cm,
phân bố tại các
vùng nước đậm
màu trong bán
đảo Mã lai,
Sumatra,
Kampuchea và
Việt Nam. Tại
Kampuchea, cá
tập trung trong
khu vực núi
Cardamon xuống
đến Kampot..
Tại Nam Mỹ:
Họ Cá
rồng tại Nam Mỹ
Osteoglossidae
được chia thêm
làm hai họ phụ:
Osteoglossinae
và
Heterodinae.Trong
trong họ phụ
Osteoglossinae
có 2 loài thường
được nuôi làm cá
cảnh dưới tên
South America
arowana = Cá
rồng Nam Mỹ.
Cá rồng
Nam Mỹ tập trong
tại lưu vực sông
Amazon trong các
vùng Tây
Orinoco, Guyana,
Rio Negro...
Osteoglossum
bicirrhosum =
Silver arowana=Arahuana
hay Ngân long
Nam Mỹ, (tại
Việt Nam còn có
tên gọi là Bạch
long) có thể dài
đến 1m, nhưng
thường nhỏ hơn.
Thân thuôn dài.
Miệng to và hơi
nhọn, có một đôi
râu cẳm nhỏ. Mắt
to nằm về phía
trên của đầu.
Khởi điểm của
vây lưng và vây
hậu môn thường ở
khoảng giữa thân.
Màu sắc của thân
thay đổi từ xám
nhạt đến xanh
lục-vàng nhạt.
Các vây màu vàng
nhạt hay xanh
lục nhạt. Vẩy to
và bóng có ánh
hồng nhạt. Đuôi
hình nón Cá đẻ
khoảng 200 trứng,
và cá đực nuôi
con trong miệng
khoảng 40-60
ngày, cá con khi
được nhả ra để
tự sinh hoạt có
thể dài 10 cm.
Ngân long Nam Mỹ
ăn thịt sống như
các thú vật nhỏ,
cá, giáp xác,
sâu bọ.. Chúng
có khả năng
phóng cao khỏi
mặt nước đến 90
cm và bắt được
cả chim, rắn
trên các cành
cây mọc gần sát
nước.
Theo
giới nuôi cá
cảnh: Có 2
loài Ngân long
hiếm gặp và có
giá trị cao hơn
là Ngân long
Hồng vỹ
(Red-tail Siver)
và Bạch tuyết
Ngân long
(Snow-White
Silver)
-
Osteoglossum
fereira = Hắc
long Nam Mỹ, chỉ
dài đến 60 cm
Thân phũ vảy đen
nhạt, đuôi hình
nón.
Họ phụ
Heterotidinae có
loài cá rồng
Arapaima là loài
được dùng làm
thực phẩm phổ
biến nhất (tuy
cá nhỏ vẫn được
nuôi làm cá cảnh.
-
Arapaima gigas
họ cá
Osteoglossidae.
Các tên
khác: Arapaima,
piracucu, paiche
Tên
piraccucu do từ
tiếng Bồ đào nha:
Pira = cá; cucu
= đỏ
Arapaima là một
loài cá nước
ngọt riêng của
vùng nhiệt đới
Nam Mỹ (cá đã
được đưa sang
nuôi tại một số
hồ nhân tạo ở Á
châu như Thái
Lan, Malaysia,
và dùng làm cá
để câu tiêu
khiển, câu xong
sẽ được thả trở
lại). Arapaima
có thể được xem
là cá lớn nhất
trong các loài
cá nước ngọt
trên thế giới.
Cá có
thể đạt đến
chiều dài trên
2m và nặng trên
100 kg. Cá kỷ
lục được ghi lại
dài đến 4.5 m và
trọng lượng tối
đa ghi nhận đến
200 kg. Thân dài,
phần bụng gần
như hình ống.
Đầu dẹp có mắt
to, miệng rộng.
Màu sắc của thân
thay đổi từ xám
nhạt đến xanh
lục nhạt có thêm
ánh xanh nước
biển. Vẩy to có
viền tím, nhất
là các vẩy dọc
theo lưng. Các
vây có ánh đỏ.
Arapaima, cũng
như các loài cá
rồng khác, thở
bằng không khí
hớp qua miệng,
sau đó đi qua
một hệ thống lọc
có rất nhiều
mạch máu, đây là
một lợi điểm để
cá có thể sống
tại những vùng
nước thiếu
oxygen hòa tan
thuộc hệ sông
Amazone (cá chịu
được cả những
vũng, hồ nơi độ
oxygen trong
nước thật thấp
chỉ chừng 0.5
ppm).
Do sự
giới hạn điạ lý
của khu vực phân
bố, sự sinh sản
của arapaima tùy
thuộc vào mùa
nước lên xuống
của sông Amazone.
Arapaima phát
dục khi được 5
tuổi, lúc cá dài
đến 1.6 m. Cá đẻ
trứng (từ 4 đến
47 ngàn) vào
những tháng nước
xuống thấp (tháng
2 đến tháng 4),
chúng làm những
ổ rộng chừng 50
cm, sâu 15cm nơi
những vùng đáy
cát. Khi nước
bắt đầu lên,
trứng nở và phát
triển trong các
tháng nước cao
từ tháng 5 đến
tháng 8. Cá đực
nuôi con trong
miệng và cá mái
bơi quanh để bảo
vệ. Cá bố-mẹ
liên lạc với cá
con khi chúng ra
khỏi miệng, rồi
trở vào lại bằng
cách tiết ra một
chất
phenoromones đặc
biệt.
Cá
thuộc loài ăn
thịt sống. Thực
phẩm của
Arapaima là cá
nhỏ, giáp xác và
cả những động
vật nhỏ kể cả
chim. Cá thường
bơi nơi bề mặt
vì cần 'hớp' hơi
sau mỗi khoảng
20-30 phút và có
thể phóng lên
cao để đớp chim
nhỏ đậu tại các
cành rủ xuống
gần mặt nước.
Để bảo
vệ cho cá đang
trên đà bị tận
diệt do khai
thác quá mức,
Chính phủ Ba Tây
đã cấm việc khai
thác thương mại
: giới hạn việc
đánh bắt chỉ cho
phép bắt cá tại
những vùng hoang
sơ của lưu vực
sông Amazone,
chỉ cho phép thổ
dân..bắt cá để
ăn. Từ 1976 đã
cấm bắt cá trong
các tháng nước
thấp và chỉ được
bắt cá dài từ
1.5 m trở lên.
Arapaima dùng
làm thực phẩm:
Arapaima đã được
dùng làm thực
phẩm cho dân cư
vùng Amazone từ
lâu đời. Cá bị
đánh bắt bằng
cách thả lưới và
săn bằng phóng
chĩa, lao (chờ
khi cá phải trồi
lên để hớp không
khí). Thịt
Arapaima được
xếp vào loại cá
ngon, một con
arapaima trung
bình có thể cung
cấp đến 70 kg
thịt nạc, không
xương.
Thành phần dinh
dưỡng của cá
Arapaima:
Phân chất tại
Laboratory of
Fish Technology
ĐH Federal
Univer sity of
Amazonas (World
Aquaculture
2011) ghi nhận:
-Thành phần tính
theo %: phần
lưng - phần bụng
- Calories
(Kcal/100 g):
81.4 -101.5
- Độ ẩm: 79.5 -
76.8
- Chất béo: 0.61
- 2.47
- Chất đạm: 18.5
- 17.5
- Tro: 0.87 -
0.84
- Carbohydrate:
0.40 - 2.31
Về
thành phần các
acid béo cần
thiết bảng phân
chất ghi: Phần
thịt bụng của cá
chứa nhiều acid
béo bão hòa (SFA)
và và acid béo
chưa bão hòa
loại đơn (MUFA),
trong khi đó
phần thịt lưng
lại chứa nhiều
acid béo bão hòa
loại đa (PUFA).
Thành phần các
acid béo omega:
mg/100g.
- EPA lưng: 13.2
bụng: 8.01
- DHA 52.14 -
14.05
- Linolenic acid
14.04 - 30.56
Ẩm thực và
vài phương thức
sử dụng:
- Lưỡi
cá: Tại
Nam Mỹ, lưỡi của
Arapaima được
dùng như một
dược liệu. Dân
địa phương phơi
khô lưỡi cá,
dùng chung với
vỏ cây Guarara (chứa
nhiều caffein)
để lảm thuốc
giảm cân, tạo
bớt cảm giác
thèm ăn. Bột cạo
tử lưỡi cá khô,
hòa trong nước
để trị sán lãi.
Lưỡi cá phơi khô,
khá cứng đã được
dùng để làm dũa,
dũa móng tay, và
làm dụng cụ nạo
trái cây.
- Xương
và da: Xương
và vẩy cá cũng
được dùng làm
dũa móng tay, đồ
mỹ nghệ kỷ niệm.
- Thịt
Arapaima được
dùng dưới các
dạng thịt tươi,
phơi khô và ướp
muối.
Ẩm
thực Ba Tây có
nhiều món ăn đặc
biệt nấu nướng
bằng thịt của
Arapaima, và
trong thực đơn
được ghi bằng
tên piracucu hay
paiche.
Một
trong những món
thông dụng nhất,
được ăn trong
các ngày lễ hội,
ăn mừng họp mặt
tại Ba tây và
trong tòa khu
vực Amazone là
món Piracucu a
Casaca hay
Piracucu in Tail
coat. Đây là một
món ăn dùng
Piracucu muối,
đã phơi khô làm
nguyên liệu
chính. Cá khô
được cắt miếng,
ngâm nước để xả
muối trong 24
giờ, để trong tủ
lạnh, thay nước
khoảng 4 lần.
Sau đó chiên đến
chín bằng dầu
olive, sau đó
nấu 'om' chung
bằng chuối sắt
thành khoanh và
khoai tây thái
sợi thêm các gia
vị, làm sệt bằng
bột khoai
mì.(Flavors of
Brazil September
7, 2010).
Một
số món ăn khác
từ Piracucu (hay
Paiche):
- Paiche
salad: Cá
chiên trộn gỏi
với nhiều loại
rau, ăn trộn
trong sốt
mayonaise hay
Worcestershire.
-
Paiche in lemon
butter: Filet
cá chiên bơ rồi
ăn cùng sốt
chanh trộn bơ.
-
Paiche ăn với
cơm, làm chả
trứng (Tortilla=Omeletts
of paiche).
Món
độc đáo và cầu
kỳ nhất là Caviar
piracucu chế
biến từ buồng
trứng của
Arapaima. Trứng
cá được tách
riêng, ướp với
rượu nho hay
giấm làm từ
đường mía trong
nồi đất. Khối
nhão sau đó để
trên rây cho ráo
và hun khói..
Trần
Minh Quân
17/01/2012
Tài liệu sử
dụng:
Animal Fact
Files: Fish
(John Dawes).
The Different
Colour Varieties
of the Asian
Arowana : Sclero
phages Formosus
are Distinct
Species (L.
Pouyaud, Sudarto,
Guy Teugels)
Cymbium 2003,
27(4): 287-305
Brazil Travel:
Food and Culture
(Robrerio Braga)
Trang web:
Arofanatics.com
The World of
Arowana (Panda
Aquatic Center)
DFI History and
Type of Arowana
(1997)
Encyclopedia of
Endangered
Species (Bill
Freedman)
|