|
"ló ra miệng túi, là cá Thòi lòi"
Thòi lòi là một sinh vật lạ, tuy là cá nhưng lại nhẩy 'loi choi', sống chui trong những hang đất bùn nhưng kiếm mồi trên mặt nước. Cá Thòi lòi, hay Cá 'mắt lồi' được xem là loài cá 'xấu xí' nhất, sinh sống tại những vùng nước lợ, chúng có những cấu tạo sinh học rất đặc biệt, giúp thích ứng được với môi trường sống. Thịt thòi lòi được xếp vào loại ngon, đang trở thành 'đặc sản' trên thị trường ăn nhậu tại Việt Nam.
Theo sự phân loại sinh vật học, Thòi lòi thuộc họ cá Gobiidae và họ này được chia thêm thành họ phụ Oxudercinae.
Thòi lòi sinh sống tại những khu vực đầm lầy nơi tiếp giáp cũa thủy triều lên xuống và tại nơi những khu rừng ngập mặn, Cá có một cấu tạo sinh học rất đặc biệt để có thể sống trong các điều kiện sinh thái khó khăn này. Trên thế giới có khoảng 34 - 35 loài thòi lòi và tại Việt Nam có thể có 4 - 5 loài(?.
Theo FAO, tại thủy vực sông Mekong (Kampuchea và Việt Nam) có 2 loài thòi lòi là: Periophthalmodon schlosseri = thòi lòi lớn và Boleophthalmus boddarti = thòi lòi đốm xanh.
Đối với những nhà sinh vật học, thòi lòi có thể được xem là "sinh vật trung gian" một mắt xich kết nối, trong sự 'tiến hóa' giữa cá và loài lưỡng thê = amphibian).
Thòi lòi cũng còn được nuôi tại Âu-Mỹ như một loài cá "cảnh".
Tên khoa học và các tên khác:
Periophthalmodon schlosseri thuộc họ cá Oxudercina.
Tên Anh-Mỹ: Giant mudskipper.
Tây ban Nha: Pez del fango.
Periophthalmodon schlosseri - Giant mudskipper.
Boleophtalmus boddhartii.
Tên Anh-Mỹ: Blue-spotted mudskipper, Boddhart's goggled-eyed goby.
Họ phụ Oxuderdinae gồm 3 loài: Boleophtalmus, Periophtal modon và Periopthalmus.
Sự phân chia dựa trên các đặc điểm cơ thể chính:
- Boleophthalmus: Không có râu dưới miệng.
- Periophthalmus: Chỉ có một hàng răng nơi hàm trên.
- Periophthalmodon: Hàm trên có 2 hàng răng.
Thòi lòi phân bố tại vùng nhiệt đới, trong các khu vực biển Ấn độ -Tây Thái bình dương: Singapore, Bedok, Changi, Pulo Obi. Sumatra, Java.. Ấn Độ, Bán đảo Mã Lai, Sarawak, Thái Lan và thủy vực sông Mekong (Việt Nam, Kampuchea.
Tại Việt Nam, Thòi lòi có mặt tại Vàm Sát - Cần Giờ (khu vực rừng ngập mặn), Gò Công, Thạnh Phú - Bến Tre (khu ven biển ngập mặn), Cà Mâu..
Đặc điểm mô tả và sinh học:
Periophthalmodon schlosserii.
Thòi lòi có đầu hình trụ, Mắt nhô hẳn trên phần sống đầu. Mõm thẳng đứng. Miệng có hai hàng răng ở hàm trên, hàng răng bên ngoài dạng răng chó; hàm dưới chỉ có một hàng. Lưỡi tròn, cụt gần như sát miệng. Vây lưng có 8 - 9 tia cứng (rất ít khi 7 tia), vây ngực có 15 - 17 tia.
 
Periophthalmodon schlosserii
Thân dài tối đa chừng 27cm. Theo mô tả của Eggert: Thân màu nâu xậm có những vết loang có ánh xanh, phần bụng màu nhạt, một dải màu nâu chạy dọc theo thân từ mắt đến vùng vai, dải này màu rõ hơn nơi cá con. Vây lưng thứ nhất màu vàng nhạt hay nâu, vây lưng thứ nhì màu nâu nhạt có một sọc xậm hơn chạy dài nơi khoảng giữa vây. Vây bụng và vây hậu môn vàng nhạt.
Thòi lòi chăm sóc con rất kỹ: Chúng dùng miệng để xây tổ dưới bùn. Quanh nơi miệng hang là một vách thấp để giữ nước khi thủy triều rút xuống. Hang đi vào thường có đường kính bằng thân của cá, chừng 8cm, nhưng trên mặt hang có thể dài cả thước, và nằm sâu đến 1.2m, có khi một tổ có nhiều ngách hang khác nhau. Thòi lòi đẻ trứng sâu trong hang, và thường trong hang không có oxygen nên thòi lòi hớp nước trong miệng để đem vào hang. Trứng được đẻ và đặt nơi nóc hang sâu. Trứng bám được vào vách hang nhờ có sợi kết dính. Ấu trùng sau khi nở, ở nguyên trong hang đến khi thân hình có dạng thòi lòi, và có lẽ ở tại chỗ đến khi có khả năng tự kiếm ăn.
Thòi lòi có tập tính "bảo vệ vùng, giữ chủ quyền", nhất là khi giao phối, nuôi con. Chúng trở nên khá hung dữ, tấn công các loài khác khi cảm thấy "khu vực" của mình bị lấn chiếm.
Thòi lòi thuộc loài ăn thịt, thực phẩm chính của chúng là giáp xác nhỏ, sâu bọ,trùn.. bắt trên mặt bùn hay khi chúng bơi dưới nướ có khi ăn cả những con thòi lòi nhỏ hơn.
Khi thủy triều lên cao, Thòi lòi có thể ở trên mặt nước, bám vào rễ cây hay đá gần miệng hang và khi thủy triều xuống thấp chúng chui vào hang hay đào bới trên mặt bùn.
Thòi lòi, khi sống bơi lội trong nước, thở bằng mang như cá, tuy nhiên chúng không thể chỉ sống mãi trong nước như cá: cá bị ngạt thở khi bị vớt khỏi nước vì các sợi mang kết dính lại, không còn khả năng hấp thu oxygen; trong khi đó thòi lòi có thể giữ nước nơi những "phòng" mang khá lớn, những phòng mang này tự đóng kín lại khi thòi lòi ra khỏi nước (theo kiểu scuba của thợ lặn) giúp cho mang vẫn ẩm ướt khi chúng nhô lên mặt bùn. (Mang của thòi lòi có nhiều sợi phân nhánh, hình que dày). Thòi lòi xoay mắt để di chuyển nước trong mang, nhờ đó giữ mang phồng lên và cung cấp được oxygen.
Thòi lòi có thể sống khi ra khỏi nước
Thòi lòi còn có thêm khả năng thở được không khí: Chúng hấp thụ được oxygen qua một hệ thống màng mỏng chứa nhiều mạch máu nằm phía sau miệng và cổ họng (khoang miệng - yết hầu), thòi lòi cũng hấp thu được oxygen qua da, miễn là giữ được da ẩm ướt. Đây là lý do chúng nằm cuộn người nhưng vẫn thò đuôi dưới nước (khiến một số người tưởng lầm là thòi lòi thở bằng đuôi). Do cần phải có nước liên tục qua mang nên chúng không thể sống xa nguồn nước.
Thòi lòi có thể di chuyển nhờ hai vây ngực giống như hai cánh tay, nhưng không phải theo kiểu bước chân của người. Chúng tạo những bước nhảy ngắn bằng cách 'trân cứng' thân rồi dùng vây ngực để phóng tới trước, theo kiểu 'đi bằng nạng' của người, do đó để lại những dấu vết đặc thù trên bùn.
Thòi lòi có thể di chuyển nhờ hai vây ngực
Thòi lòi cũng có thể 'leo' nhờ cấu trúc của vây bụng, nơi vài loài vây bụng được cấu tạo như những ống hút để giúp chúng bám vào một mặt bằng thẳng xiên hay thẳng đứng, và chúng dùng vây ngực để kéo thân và trườn lên cao.
Thòi lòi co chân phóng mình khá xa
Ngoài ra, thòi lòi còn có thể co thân và phóng mình khá xa, có khi đến 60cm. chúng di chuyển trên mặt bùn dễ dàng như bơi dưới nước, và thật ra chúng di chuyển trên cạn nhanh hơn là bơi.
Một trong những cấu trúc đặc biệt về cơ thể giúp thòi lòi thích ứng với đời sống trên cạn là đôi mắt lồi thật to nằm trên đỉnh đầu (Tên Periophtalmus là mắt quay vòng tròn). Mắt có thể nhô lên, xoay vòng khi thân nằm dưới nước theo kiểu kính của tầu ngầm và không như các loài cá khác, thòi lòi thích bơi trong nước mà vẫn nhô đầu khỏi mặt nước, giúp chúng quan sát được chung quanh đến 360 độ. Để giữ được mắt luôn luôn ẩm ướt khi chúng sống trên cạn, mắt có thể thụt vào trong để hút nước còn chứa trong hốc mắt và thòi lòi có thể được xem là loài cá duy nhất có tròng mắt di động. Võng mạc của chúng phía trên, có những thụ thể hình que và phía dưới có những thụ thể hình nón, giúp chúng nhìn được những hình ảnh màu sắc nơi phía trên mắt và hình ảnh một màu nơi phía dưới.
Boleophthalmus boddharti:
So với loài trên, thòi lòi đốm xanh có phần nhỏ hơn, chỉ dài 13 - 22cm (trung bình 6 - 8cm) Mắt cũng nhô nơi đỉnh đầu. Răng hàm dưới mọc xiên. Miệng không râu. Vây lưng thứ nhất có bề cao lớn hơn chiều dài và có sợi dài nơi rìa của vây. Thòi lòi đốm xanh có thân màu nâu với từ 6 - 7 vạch chéo phân bố trên toàn thân; hai bên má ở phần đầu có nhiều đốm li ti màu xanh lam, trên vây cũng có đốm. Bụng trắng nhạt. Vây lưng có những đốm nâu nhạt hay màu bạc phân bố không theo hàng. Vây bụng có viền màu cam hay có thể toàn vây đều màu cam nhạt.
Đặc biệt hơn nữa là chúng thuộc loài ăn thực vật thủy sinh, kiếm mồi bằng cách ngúc ngắc đầu qua lại trên mặt bùn.
Những tài liệu về đánh, bắt cá của Fishbase và FAO ghi rất đơn giản: Thòi lòi có thể đánh bắt bằng câu, lưới (cast-nets) thả trên mặt bùn, bẫy (nets strung) nhưng trên thực tế ngư dân vùng biển miền Tây trong vùng đồng bằng sông Cửu Long có những phương pháp đánh bắt thòi lòi rất độc đáo:
Thòi lòi có tập tính làm hang trú ngụ rất đặc biệt: "Có khi chỉ một con thòi lòi nhưng nó làm tới ba cái hang trú ngụ ngoài hang chính còn có một nơi tránh nạn được gọi là nùi rọ. Nùi rọ là một nhánh đâm giữa lưng chừng hang chính tạo thành hình chữ Y. Nhờ nùi rọ cá vẫn sống dù miệng hang có bị bịt kín. Một lượng lớn oxy được lưu giữ tãi nùi rọ giúp cá sống tới 2 - 3 ngày.Khi gặp trường hợp nguy hiểm, cá sẽ chui vào nùi rọ ẩn náu dù cho hang chính có bị phá tan tành. Những người bẫy cá chuyên nghiệp sẽ dùng chân thọc vào hang phá nùi rọ trước khi đặt bẫy". Lúc phá nùi rọ, nhờ nước từ trong hang trào lên sẽ tìm được ngách trú ẩn của cá, và người đặt bẫy sẽ đưa chà di (dụng cụ bắt cá đan bằng lá dừa nước, dùng khoảng 10 lá kết lại thành hình miệng phễu, và túm kín một đầu) vào sâu trong miệng hang chừng 20cm, dùng bùn trám kín và chờ chừng 30 phút. Do khoang chưa oxy bị phá và cửa chính cửa hậu bị bịt kín, nên cá sẽ chui lên miệng hang và bò vào chà di. (Khang Minh trong Biên khảo "Bẫy cá thòi lòi")
Soi cá vào ban đêm, dùng đèn sáng rọi ngay mắt, cá bị chói đành nằm chịu bắt như loài ếch nhái. Câu thòi lòi bằng:"bắt trùn, tuột hết ruột, lấy cọng lá dừa xỏ thành khoanh tròn, cột vào dây câu. Chuẩn bị thêm một cái thau lớn, rắc tro hay cám khô sẵn. Nước ròng, bãi bùn lộ ra, thòi lòi chạy, nhảy cùng khắp. Nhử cho cá cắn vào mồi, nhẹ nhẹ giật lên và khéo léo sao cho cá rơi vào thau để gần đó thòi lòi dính tro, cám mất sự linh hoạt và nằm chịu trận" (Nguyễn Kim-Cá thòi lòi, ăn rồi còn nhớ)
Thịt thòi lòi có giá trị dinh dưỡng tương đối cao. Một nghiên cứu tại ĐH Nông Nghiệp Michael Okpara (Nigeria) về thành phần các dưỡng chất từ các sinh vật "bất thường" (trong đó có thòi lòi, cào cào..) dùng để nuôi gia cầm ghi nhận Thịt thòi lòi chứa:
- Chất đạm thô 54.82 % (tinh theo trọng lượng khô)
- Chất chiết từ ether (chất béo) 4.89%
(International Journal of Poultry Science Sỗ-2005)
Một nghiên cứu khác tại ĐH Xiamen (Trung Hoa) về thành phần các acid amin trong chất đạm của các loài thòi lòi (Periophtalmus cantonensis, Boleophthalmus petinirostris) đánh bắt trong vùng biển Haican (Xiamen) ghi nhận;
Tỷ lệ chất đạm (theo trọng lượng ướt = thịt tươi): 6.68 - 9.80
(tính theo trọng lượng khô: 44.3 - 50.4 %)
Các acid amin căn bản cần thiết như Methionine, Phenylala nine, Lysine, Arginine, Histidine, Threonine, Leucine chiếm khoảng 47.3 - 48.06% của tổng số các acid amin.
(Journal of Xiamen University-Natural Science Số 1-1994)
Tại khu vực ven biển vùng đồng bằng sông Cửu Long, và khu vực Cần Giờ, và cả Sàigòn, thòi lòi được chế biến thành nhiều món ăn khá hấp dẫn từ đơn giản đến cầu kỳ như:
Kho tiêu: đây là món ăn được xem là "thịt bò của nhà nghèo" vì thịt thòi lòi ngọt, ít xương và rẻ hơn cá lóc đồng.
Nấu cháo Tiều, nấu canh chua, (dùng me, bần, trái giác và thích hợp nhất là với tầm ruột đâm nhuyễn), nấu lẩu.
Chiên hoặc nướng như nướng trui.
Gỏi thòi lòi trộn lá lìm kìm (lá lìm kìm được mô tả là một loại lá rừng dây leo đặc biệt của vùng nước lợ có vị chua và hơi chát: mùa nắng thiếu nước, lá khô quắt nhỏ và đắng chát nhưng mùa mưa, lá tươi non có vị chua nhẹ và thơm..)

Gỏi thòi lòi trộn lá lìm kìm
Tác giả Nguyễn Kim trong bài "Cá thòi lòi, ăn rồi còn nhớ" đã ghi lại về các món ăn chế biến từ thòi lòi như sau:
"Cá thòi lòi không mỡ, nhưng thịt hơi tanh, phải chà nhớt kỹ. Tuy vậy, lúc cá chín có để nguội lại cũng không tanh. Cá sạch, ướp tương, gừng, thịt ba rọi, muối, đường, tiêu.. để một lúc cho thấm. Kho bằng nồi đất, lửa liu riu, hâm hai ba lần cá săn thịt thấm cùng gia vị, nước mỡ càng ngon. So sánh độ thơm ngon không thua kém bống cát, bống tượng. Ăn cơm kèm dưa leo, rau sống thật khoái khẩu.. Hoặc làm món chiên, nấu cháo, tẩm gia vị, phơi nắng dốt rồi nướng cũng chẳng ai chê. Ở miệt Cần Giờ, Ly Nhơn..cá thòi lòi bắt nhiều, ăn không hết, người ta xẻ thịt, ướp mặn, phơi khô.. nướng.. uống nước trà, nhấm nháp.. Ăn kiểu dã chiến thì dùng thanh tre, trúc xiên cá rồi nương than.."
Thịt thòi lòi được xem là có nhiều đặc tính bổ dưỡng, được dùng tại Ấn Độ để trị thiếu máu, suy dinh dưỡng, trị trẻ em đái dầm, tiểu nhiều. Tại Việt Nam, thòi lòi nấu cháo hay kho tiêu.. được xem là một món ăn bổ dưỡng cho phụ nữ sau khi sanh nở.
Trên thị trường "Thực phẩm chức năng" có quảng cáo một loại chế phẩm mang tên Virile For Men nguồn gốc từ Malaysia.
Chế phẩm dưới dạng kem thoa, trong công thức ghi các thành phần gồm:
Thòi lòi (Periophtalmodon schlosseri).
Dâm dương hoắc (Epimedium Sagittatum).
Trích tinh Muira Pauma (Ptychopetalum olacoides), một cây thuốc từ Brazil.
(Kem thoa được quảng cáo là có khả năng giúp gia tăng sự cảm xúc và giúp điều khiển khả năng sinh dục, khi thoa vào bộ phận sinh dục phái nam. Sự hiệu nghiệm của chế phẩm đòi hỏi phải thoa kem liên tục ít nhất là 3 tháng (?) Phần "hoạt chất" được dùng từ Thòi lòi là amino acid alanine, trích từ thịt thòi lòi và được giải thich là đóng vai trò quan trọng trong sự tổng hợp pyruvate cần thiết cho hoạt động của cơ bắp..)
Quảng cáo cũng cho biết chế phẩm đã được "trình bày" tại Đại Hội lần thứ 4 của Asia Pacific Society for the Study of the Ageing Male (Bali, tháng 5/2007), tuy nhiên không thấy công bố các kết quả thử nghiệm khoa học (?).
Một nghiên cứu tại Viện ĐH Quốc Gia Singapore ghi nhận Thòi lòi và Cá lóc đều có khả năng gia tăng lượng alanine trong bắp thịt (gấp 3 lần), trong gan (gấp 4 lần) và trong huyết tương (gấp 2 lần) khi chúng hoạt động trên cạn. Thòi lòi có thể chuyển biến một số acid amin sang dạng pyruvate để sau đó thành alanine. Các chuyển biến này giúp thòi lòi và cá lóc tránh được sự ngộ độc do ammonia tạo ra, khi vượt quá giới hạn, trong cơ thể khi chúng ở trên cạn. Khác với cá lóc là thòi lòi duy trì được các hoạt động biến dưỡng do có thể dùng được năng lượng từ một số aid amin để kéo dài thêm thời gian lâu hơn sống được trên cạn.
|
|
|