Trần Minh Quân

Ảnh minh họa cá Tra Chuột của jpeg;base64
Tên cá Tra Chuột có phần xa lạ với đa số người dân thành thị miền Nam Việt Nam. tuy nhiên đối với người sinh sống tại các vùng quê bên bờ các sông Tiền và sông Hậu thì loài cá này, tuy gọi là Tra, nhưng lại khác hẳn Tra nuôi, chỉ ưa thich ăn các sò, hến nhỏ nên còn được gọi là cá Xác Sò. Tra Chuột được xem là esạchf hơn Tra nuôi và Vồ đốm.
Tên khoa học và các tên khác:
Helicophagus waandersii thuộc họ cá Pangasiidae.
Thái: Pla yon nhu; Lào: Pla na nu; Kampuchea: Trey pra kandor. Mã Lai: Patin muncung.
Cá Tra Chuột được xếp vào chi Helicophagus, thuộc Bộ (Order) cá da trơn (Siluriformes). Chi Helicophagus được phân biệt với chi Pangasius (gồm nhiều loài Tra nuôi, Tra bần, Basa, Bông lau, Vồ..) bằng một số đặc điểm hình dạng của đầu cá như: mõm thuôn dài (chiếm < 16 % chiều dài của đầu), mũi phía sau nằm giữa mũi trước và khoang mắt). Helicophagus chỉ có 3 loài H. leptorhynchua, H. typus và H. waandersii. Loài H. typus được xem là chỉ có mặt tại thủy vực các sông ở Sumatra và Borneo, trong khi đó 2 loài H leptorhynchus và H. waandersii có thể gặp tại một số lưu vực các sông khác tại Đông Nam Á.
Các nhà nghiên cứu thuộc FAO, MRC và ĐH Cần Thơ đều cho rằng loài Tra Chuột gặp tại lưu vực các sông Chao Phraya và Mekong là Helicophagus waandersii trong khi đó một số khác như Ng Heok Hee, Maurice Kottelat (ĐH Singapore) thì cho là Helicophagus leptorhynchus.
Một số đặc điểm sinh học:
Đặc điểm hình dạng:
Theo Fishbase:
Helicophagus waandersii
Kích thước tối đa: 70.0 cm nặng 5-7 kg
Gai lưng: 2; Vây lưng có 7 tia mềm; Vây hậu môn có 37-40 tia
Helicophagus leptorhynchus
Kích thước tối đa 47.2 cm, nặng 2-4 kg
Gai lưng: 1; Vây lưng có 6-7 tia mềm; Vây hậu môn: 35-42 tia
Mõm tương đối thuôn dài, miệng hẹp có 2 đôi râu: Râu mép ngắn, râu hàm dài hơn. Đầu dài hơn và mắt to hơn H. waandersii. Vây hậu môn dài hơn.
Thân thuôn dài, dẹp một bên, màu xám bạc, hay hồng nhạt. Các vây màu đỏ nhạt.
Tra Chuột có thể dài đến 79 cm
Thực phẩm chinh của cá trưởng thành là sò, ốc, nhuyến thể.
Theo MRC, có thể có nhiều quần thể khác nhau của H. waandersii sống rải rác nơi các khu vực phân bố. Một số quần thể tập trung quanh các nhánh sông lớn và dùng sông Mekong làm nơi trú ngụ trong mùa khô.
– Khu vực phân bố:
Theo MRC, Helicophagus waandersii phân bố tại Đông Nam Á nơi thủy vực các sông Mekong và Chao Phraya, tại Sumatra.
Tại thủy vực sông Mekong, cá thường gặp tại các khu vực hạ lưu và là loài chính sinh sống nơi đoạn giữa Mekong (từ Thác Khone xuống đến vùng thượng lưu sông Loei). Tra Chuột cũng thường gặp tại những nhánh sông lớn như sông Songkram, Sesan/Srepok.
Tại Việt Nam, theo Khoa Thủy Sản ĐH Cần Thơ, Tra Chuột có mặt tại Vĩnh Xương, Hồng Ngự (sông Tiền). Mẫu cá đánh bắt có chiều dài 4.7-26.7 cm, và tại An Phú, Cần Thơ (sông Hậu) mẫu cá dài 7.1- 23.9 cm. Cá hầu như không có mặt nơi vùng cửa biển.
– Di chuyển và sinh sản
Cá sinh sản vào khoảng đầu mùa lụt khi nước bắt đầu dâng cao (giữa các tháng 5-6) tại sông Mekong và có thể cũng tại các nhánh sông lớn. Sau khi trứng nở, ấu trùng trôi dạt xuôi dòng về các khu vực sinh sống tạm, và sau đó khi mùa khô đến, cá nhỏ tìm về các evũng, đầmf sâu. Cho đến nay chưa có nghiên cứu nào xác định giai đoạn phát dục của cá. H. waandersii được xem là loài cá đầu tiên trong họ Pangasiidae, khởi đầu cho cuộc di cư ngược dòng hàng năm: Ngay trong những tháng từ 3-5, khi mùa khô ở cực điểm, đợt di cư của cá (ở giai đoạn chưa trưởng thành) đã ekhởi phátf dài theo những đoạn sông giữa Thác Khone đến vùng Bắc Lào và Thái Lan, có lẽ do nhu cầu tìm thực phẩm. Khi mùa mưa (gió mùa) đến vào các tháng 5-6, một đợt edi cưf ngược dòng thứ nhì diễn ra, đây là đợt di chuyển của cá mái, bụng đầy trứng về nơi sinh đẻ.
Dựa trên những theo dõi thường xuyên về các sự di chuyển của các loài cá trên sông Mekong bằng cách thu thập các mẫu cá tại các trạm nghiên cứu đặt rải rắc từ hạ lưu Mekong như tại Đồng Tháp (VN) qua Kampuchea, lên đến Thác Khone (Lào) và cả vùng thượng lưu của Thác đến Ubon (Thái) , MRC cho rằng Thác Khone là nơi phân chia vùng sinh hoạt của những quần thể Tra chuôt. Những quần thể sống tại khu vực thượng lưu của thác di chuyển vào cuối mùa khô, khoảng cách di chuyển ngắn và ngược dòng để đẻ trứng, đồng thời sinh sống tại các nhánh sông lớn như Songkram, Nam ngung. Tại vùng phia dưới của Thác Khone, các quần thể Tra Chuột có thể có những đường hướng di chuyển khác nhau tùy theo giai đoạn đẻ trứng. Riêng tại Đồng Tháp, cá Tra Chuột con hầu như có mặt quanh năm.
Giá trị kinh tế:
Cá Tra Chuột không có giá trị kinh tế cao dùng để xuất cảng, như các loài cá tra nuôi, basa nên chưa được nghiên cứu để nuôi tại các trại dưỡng ngư hay tại các nhà bè có tính cách gia đình. Tuy nhiên đối với người dân cư ngụ dọc sông Mekong từ Lào, Thái Lan qua Kampuchea đến Nam Việt Nam thì Tra Chuột là một nguồn thực phẩm khá quan trọng vì cá quen tính ở lại nơi dòng sông thay vì di chuyển vào vùng đồng ruộng trong mùa nước lụt, và xuất hiện trong những mùa mà các loài da trơn khác hầu như vắng bóng.
Tại Việt Nam, đối với người dân nông thôn Nam Bộ tại vùng đồng bằng sông Cửu Long: Tra Chuột được ưa chuộng do đánh bắt trong thiên nhiên, cá câu được có thể dài đến 50 cm. Tra Chuột được xếp vào loại cá sạch hơn là cá nuôi trong ao-hồ, dùng dưới dạng cá tươi và thịt tương đối chắc, nhiều chất béo gần như thịt cá Bông Lau nên có thể dùng để chế biến nhiều món ăn (thay cho cá Bông lau) như Lẩu, canh chua, kho tiêu, kho nghệc
Tại Lào, cá chỉ lớn khoảng 30 cm và rất nhiều tại hầu như mọi phụ lưu của Mekong. Do nhiều chất béo nên thường được dùng với dừa để chế biến thành Nam pakoen (một loại nước sốt đặc biệt của Lào). Cá cũng được dùng trong món Pa chao (một dạng mắm cá) hay ướp muối (Sompa).
Tài liệu sử dụng:
Diversity of Pandasiid Catfishes from Sumatra ( R.Gustiano & L. Pouyaud)
Key Mekong fish species- Migration paths (MRC).
Helicophagus leptorhynchus (Ng Hoek Hee & Maurice Kottelat- The Raffles Bulletin of Zoology Số 48-2000)
Fishes of the Cambodian Mekong (FAO)
Fish and Fish Dishes of Laos (Alan Davidson)
Nguồn: https://www.tvvn.org/forums/threads/c%C3%A1-tra-chu%E1%BB%99t.28423/