|
CÁ VỒ ĐÉM (PANGASIUS
LARNAUDII)
Trần Minh Quân
.png)
"Dọng
đầu không tét, là
con cá Vồ.."
(Vè con cá-Văn
chương bình dân Nam
bộ)
Cá Vồ, một
loài cá trong họ
Pangasiidae, được
xem là một loài có
nhiều "tai tiếng" về
vấn đề vệ sinh khi
đua về nuôi trong
các ao, hô tù hãm
gần như không có
nước lưu thông. Một
số hình ảnh, do
những người có "ác
ý" đã cố tình phổ
biến, trong mục đích
tạo "tai tiếng" cho
các loài cá như cá
Tra, cá Basa, đang
là những sản phẩm
xuất cảng mạnh của
Việt Nam..Tuy nhiên,
cá Vồ đém và những
"cầu cá" trên sông
cũng có thể được
xem, theo như những
tác giả chuyên viết
về chuyện đồng quê,
là một trong những
nét "đặc thù" của
Văn hóa miền Nông
thôn Nam bộ..
Ngoài cá Vồ
đém, trong danh mục
cá còn có cá Vồ cờ,
một loài cá lớn rất
hiếm gặp tại Việt
Nam, nổi tiếng trong
giới câu cá, sẽ được
trình bày trong một
bài riêng..
Tên khoa học và
cá tên gọi khác:
Pangasius
larnaudii thuộc
họ cá Pangasiidae.
Tên Anh-Mỹ:
Spot pangasius,
Spotted catfish,
Black-ear catfiah.
Kmer: Trey
po hay trey pau.
Lao: Pa
bueng, pa hou mat.
Thái: Pla
chai por, pla tepo..
Nhà ngư học
Bocourt đã đặt tên
cho cá để ghi nhớ
Linh mục Launardie,
người đã giúp ông
trong việc phân loại
cá vào những năm
1860.
Vài đặc điểm sinh
học:
Thân dài,
phần trước của thân
có tiết diện tròn,
phần sau dẹp một
bên.
Đầu dẹp,
bằng, trán rộng.
.png)
Đầu
cá vồ đém
Răng nhỏ
và mịn: răng vòm
miệng tạo thành một
đường vòng cung liên
tục với nhiều chỗ
lõm hoặc tách rời ỡ
giữa, thành 2 đám
riêng.
Râu nhỏ
và ngắn, râu mép kéo
dài có khi gần đến
gốc vây ngực. Đường
bên phân nhánh ngoằn
ngèo chạy dài từ mép
trên lỗ mang đến
điểm giữa của gốc
vây đuôi.
Mặt lưng
và thân của đầu có
màu xám-đen, ánh
xanh lục, nhạt dần
xuống phía mặt bụng.
Bụng màu
trắng-bạc. Phía trên
của gốc vây ngực có
một đốm đen to. Vây
lưng màu xám đậm và
vây ngực hồng nhạt,
có gai cứng.
Vây đuôi màu
xám có viền trắng.
Vây hậu
môn có 28-32 tia
mềm, ngọn các tia
vây (3,4,5 và 6) có
màu đen.
Màng da giữa
các tia vây bụng
cũng màu đen..
Kích
thước: tối đa
150cm, thường khai
thác từ 50-80cm.
Trọng lượng nặng
nhất được ghi nhận
là 4.6kg.
Vồ đém
thuộc loại cá ăn
tạp, có thể ăn
rất nhiều loại
thực phẩm khác
nhau kể cả cặn
bã thải từ người
và động vật..
Cá Vồ
đém có thêm những
đặc tính sinh học
khác như:
- Khả năng
chịu đựng rất cao,
sống được tại những
môi trường ít
oxygen, nên có thể
sống chen chúc, mật
độ cao và nước ít
lưu thông, thay đổi.
- Màu của
thịt trắng, không bị
ảnh hưởng bởi các
điều kiện được nuôi,
kể cả thực phẩm.
- Cá rất
béo khi nuôi nhất là
bằng cám gạo, có lẽ
do khả năng chuyển
biến tinh bột cao.
- Cá có
khuynh hướng ăn thịt
các cá nhỏ khác nên
không thể nuôi ghép
với các loài cá chép
nuôi khác như trám,
trám cỏ..
- Mức tăng
trưởng của ấu trùng
(nuôi trong môi
trường nhân tạo)
được ghi nhận như
sau: Dài 3.5mm sau
khi nở 2 giờ; dài
8.4mm sau 4 ngày;
8.8mm sau 8 ngày và
23mm sau 18 ngày..
* Khu vực phân bố:
Cá Vồ
đém phân bố rộng tại
những thủy vực của
các sông Mekong
(Việt, Kampuchea,
Lào) và Chao Phraya
(Thái), trong các
vùng giới hạn từ vĩ
tuyến 20 độ Bắc đến
10 độ B.
- Tại
Kampuchea: Cá
gặp trong vùng phía
dưới Thác Khone, cho
đến vùng Biển hồ
Tonle Sap. Cá được
nuôi trong bè trên
Biển hồ và ướp đá để
bán sang Thái.
- Tại
Lào: Cá gặp tại
những nhánh sông,
phụ lưu của Mekong,
trong tỉnh
Champasak, cá di
chuyển vào các khu
đồng ngập nước vào
mùa lũ lụt.
- Tại
Myanmar (Miến điện): Cá
gặp trong mùa di
chuyển ngược dòng
vào các tháng 5-9
trong các sông vùng
tỉnh Loei.
- Tại
Thái Lan: Cá gặp
tại thủy vực các
sông Mekong, Chao
Phraya và Maeklong.
Trong những thập
niên 1950-60, cá
được xếp vào loài cá
"quý" dành riêng cho
người "sang", không
bán tại chợ. Hiện
đang được nuôi trong
bè tại những đọan
sông nước lưu thông.
-
Tại Việt Nam: Cá
phân bố rộng tại
Long Khánh, Hồng
Ngự (sông Tiền)
và An Phú, Vàm
Nao (sông Hậu),
hiện đang đuợc
nuôi rất phổ
biến tại nhiều
"ao" cá gia đình
trong vùng đồng
bằng sông Cửu
Long..
* Di chuyển và
Chu kỳ đời sống:
Theo MRC,
chỉ có một quần thể
duy nhất Pangasius
larnaudii và quần
thể này di chuyển
từ khu vực gần Pakse
(Lào) xuống suốt dọc
dòng Mekong, Biển Hồ
Tonle Sap đến vùng
đồng bằng các sông
Tiền và Hậu (Việt
Nam).
Các nhà ngư
học chuyên về họ cá
Pangasiidae đưa ra
một số giả thuyết
về khu vực đẻ trứng
của cá Vồ đém:
Theo
Rainboth (1996) thì
cá đẻ tại những vùng
đồng ruộng ngập
nước, khi mùa nước
bắt đầu dâng lên..
Theo Bardach
(1959) thì Vồ đém đẻ
trứng tại vùng sông
Mekong gần
StungStreng
(Kampuchea) và ấu
trùng mất 6-8 ngày
để trôi giạt đến
vùng sông Bassac
(Nam Lào). Tuy nhiên
cá mái bụng có trứng
cũng đánh bắt được
khi chúng di chuyển
về vùng thượng của
thác Khone vào đầu
mùa khô nên cũng có
thể đẻ trứng tại
đây..
Cá Vồ
đém đẻ trứng vào
đầu mùa mưa
(tháng 5-7) và
ấu trùng di
chuyển vào những
vùng ruộng, đồng
ngập nước để
kiếm thực phẩm
và ở tại đây
trong suốt nùa
nước lụt. Cá nhỏ
và cá trưởng
thành trở lại
sông Mekong khi
nước bắt đầu rút
xuống, một số cá
lớn, nhất là tại
vùng thượng
nguồn, có thể
vẫn ở lại giữa
dòng trong suốt
mùa
"gió-mùa=monsoon".
Trong mùa khô,
cá di chuyển về
những vùng nước
sâu: khu vực
Kompong Cham là
một trong những
nơi trú ngụ của
Vồ đém trong mùa
khô. Khi cá
trưởng thành
phát dục, chúng
di chuyển ngược
dòng về nơi sinh
nở..
Cá
Vồ: Vấn đề văn hóa
và vệ sinh:
Tại vùng
nông thôn Nam bộ, Cá
Vồ rất nổi tiếng,
không phải chỉ lá
cá, mà vì .."Cầu
tiêu cá vồ".
Cầu
tiêu cá vồ đã
trở thành một
"quốc sách" của
chính phủ CSVN
Thủ tướng Chính
phủ đã phải ra
Chỉ thị 200/TTg
năm 1994: "Ngăn
cấm việc dùng
phân tươi bón
cây hoặc nuôi cá
trên sông, rạch
và các ao
hồ..công
cộng"..tuy nhiên
đến nay
(2011)..vấn đề
cầu cá vồ vẫn
còn y như
cũ..(dẹp xong
rồi..lại làm
lại).
Khía cạnh văn
hóa:
Các Tác giả
chuyên viết về các
sinh hoạt nông thôn,
các truyện đồng quê
miền Nam VN đều đồng
ý là "Cầu cá là một
trong những nét văn
hóa đặc trưng của
miền Tây Nam Bộ"
(tuy không được
quảng cáo và ít phổ
biến)..
Tác giả Lê
Công Lý trong bài
"Cầu cá Miền Tây"
đã ghi lại nhiều
chi tiết đáng chú ý
như:
"Cầu tiêu
cá ở Miền Tây Nam Bộ
có lịch sử rất sâu
xa": "Từ lâu đời
người dân miền Tây
Nam Bộ đã quen thuộc
với loại cầu tiêu
bắc ở mé sông, mé
rạch, phân là nguồn
thức ăn cho cá trong
tự nhiên. Do bắc
trên sông rạch nên
gọi là cầu và đi
tiêu trên cầu này
thì gọi là..đi
sông". Giống cá được
chọn để nuôi là cá
Tra và cá Vồ vì sức
ăn mạnh, thích hợp
với ao tù, không
thích dòng nước chảy
mạnh và không tìm
cách thoát khỏi
ao..Tác giả cũng ghi
nhận loại nhà vệ
sinh này cũng có mặt
tại một số vùng
trũng của đồng bằng
Bắc bộ, cũng dùng để
nuôi cá, tuy không
phải là cá Vồ, và
được gọi là "cầu
tõm".
"Cầu
tiêu cá ở miền
Tây được làm từ
vật liệu cây lá
sẵn có nên hầu
như không tốn
kém gì, lại
thoáng mát,
không hôi thối
và tận dụng được
phân làm thức ăn
trực tiếp cho
cá". Do đặc tính
cây nhà lá vườn
và không có cửa
mà cầu cá mang
tính cách..rộng
mở, rất bình
đẳng..."Đặc
biệt, ở những ao
lớn, người ta
thường làm nhiều
chiếc cầu tiêu
sát cạnh nhau,
nên những người
..đi cầu ..cùng
một lúc, có thể
chuyện trò rôm
rả khiến cầu
tiêu cá trở
thành một kiểu
nhà văn hóa..có
một không hai.."
(dọc Quốc lộ 4,
từ Sàigòn về
Miền Tây, có rất
nhiều loại nhà
vệ sinh kiểu
này, nhất là tại
các bến Bắc Mỹ
Thuận và Cần Thơ
trước đây, khi
chưa có cầu, xe
đò phải ngưng để
chờ phà qua
sông).
.png)
Nhà cầu lộ thiên
Tác giả Trần Văn,
trong Chuyện đồng
quê viết:
".. Cá nuôi
thường trong các ao
nước tù, không luân
lưu, nước đen sệt
rất bẩn, hơn nữa
thức ăn thông thường
là phân của con
người thải ra.. Ai
có qua những bến bắc
như Mỹ thuận, Vàm
cống, Cái Vồn mà lại
chột bụng đi trên
các cầu có hầm nuôi
cá tra, cá vồ, sẽ
thấy cảnh tượng cá
nuôi tranh ăn mồi do
con người phóng uế,
nước bắn tung tóe
ướt cả đít.. Cá nuôi
hầm mà lại cho ăn
phân là chính chỉ
nuôi được cá vồ, cá
tra, còn các loại
khác như cá bông, cá
he, cá chài không
nuôi được vì các
loại này không hạp
với thức ăn ấy và
nước tù không luân
lưu.."
Văn chương
bình dân cũng có
những câu đố, bài
thơ về những nhà cầu
cá như:
"Cái nhà
rách rách.. nhưng
rất đông khách..(là
cái gì ?)
"Chèo ghe đi
bán cá Vồ..
"Nước chảy ồ
ồ..không có người
mua.."
Danh từ "cá
Vồ" đã được dùng để
chửi rủa và sỉ vả:
"đồ cá vồ".. và Nhà
thơ Tú Kếu đã viết:
"Một cục
vàng rơi, nước toé
tung
Một đàn cá
đói tới tranh
hùng.."
* Vấn đề vệ sinh
và môi trường:
Cầu cá vồ
trên nguyên tắc có
thể tạo ra một số
vấn đề "ô nhiễm" môi
trường sống, nhất là
cho những gia đình
sinh hoạt trên
thuyền hoặc cư ngụ
tại ven sông, ven
rạch.. sử dụng nước
sông làm nguồn nước
sinh hoạt..
Tuy nhiên
trên thực tế, theo
các khảo sát tại
Việt Nam thì đến 70%
người dân nông thôn
Nam Bộ..không tin là
cầu cá Vồ nguy hại
đến sức khỏe và còn
tin rằng cầu
cá..giúp giải quyết
nhu cầu sinh lý bình
thường, giúp làm
sạch ruộng, đường sá
hơn đồng thời không
có mùi hôi thối và
ruồi nhặng..
Trong thời
gian thi hành "Quyết
định của Thủ tướng",
phá bỏ các cầu cá
ven sông, BS Lê Đại
Trí (Trung tâm giáo
dục sức khòe Long
An), dựa theo thông
kê khảo sát 2003 đã
đưa ra những nhận
xét khá thú vị:
Chương
trình "dẹp cầu cá
vồ" chỉ ..dẹp bỏ
nhưng..không giúp
thay thế. Do đó,
người dân mất nơi
giải quyết nhu cầu
nên đành.. phóng uế
"tự do" ngoài ruộng,
và làm môi trường dơ
ẩn hơn trước, có
những trường hợp
dùng bao nhựa.. rồi
sau đó vứt xuống
sông..
Người dân
nông thôn không đủ
tài chánh để đầu tư
vào việc xây dựng
những "nhà vệ sinh"
kiểu mẫu (tốn 2-3
triệu) vượt quá mức
thu nhập của những
gia đình trung lưu.
Vùng lũ lụt hàng
năm..không thể làm
được. Những gia đình
sinh hoạt trên
thuyền..không có sự
lựa chọn..
Dinh dưỡng và ẩm
thực:
Thành
phần dinh dưỡng:
Rất ít tải
liệu riêng về thành
phần dinh dưỡng của
cá Vồ đém được công
bố.
Số liệu của
FAO/WHO (2002) ghi:
100g cá tươi
chứa khoảng 15.4g
chất đạm, 8g chất
béo và 0.9g tro.
Một kết quả
phân chất tại ĐH
Khon Kaen, Nong Khai
(Thài) về thành phần
acid béo ghi:
- Acid béo
tự do chiếm khoảng
1.32 % .
- Trong acid
béo bão hòa (SFA),
acid palmitic chiếm
đến 24%, stearic
6.7%.
- Trong acid
béo chưa bão hòa
(PUFA), lượng
cis-9-oleic acid
chiếm 37.8%
- Acid béo
Omega-3: 1.96% và
Omega-6: 17.4%
Ẩm thực:
Cá Vồ đém
đóng một vai trò
quan trọng trong
nghề cá tại vùng
Biển Hồ Kampuchea.
Vồ đém cùng với cá
Hú (Pangasius
conchophilus) là
những nguồn cá đánh
bắt nhiều nhất trong
mùa mưa (trong các
tháng 5 và 6),
Kampuchea xuất cảng
một lượng khá lớn Vồ
đém sang Thái Lan..
Tại Lào và
Thái Lan, cá Vồ đém
được xếp vào loại cá
béo, thịt ngon và
được giới "sành ăn"
ưa chuộng. Một số
nguồn cung cấp được
lựa chọn riêng, nuôi
cá theo những điều
kiện vệ sinh, giới
hạn, lựa chọn thực
phẩm "sạch" để phân
biệt với cá nuôi tại
các ao hồ gia đình
thường tạo ra những
cảm giác "ghê tởm"
cho người tiêu thụ..
Tại Việt
Nam, có những gia
đình chỉ nuôi cá tại
ao, hồ.. nhưng không
"dám" ăn. Cá có khi
được chuyển sang ao
mương riêng có nước
thông thoát, nuôi
thêm bằng thực phẩm
vài ba tháng trước
khi bán hoặc tiêu
dùng..
Cũng
như các cá khác
trong họ
Pangasiidae, Vồ
đém được xếp vào
loại cá "béo".
Cá tươi dùng chế
biến thành những
món ăn như Canh
chua, Lẩu, Kho
dưới nhiều dạng:
kho tiêu, kho
sả, kho nghệ..
Cá
Vồ Đém Nấu Canh
Chua Măng + Kho
Tộ
Trần Minh Quân
5/2011
Tài liệu sử
dụng:
-
Fishes of the
Cambodian Mekong (FAO).
- Fishbase :
Pangassius larnaudii.
- Biological Reviews
of Important
Cambodian Fish
Species.
|