|
ỐC
BÀO
NGƯ
(ABALONE)
Trần Minh Quân
Bào ngư ăn lúc còn sống tốt nhất?
Một
trong
những
'hải
vị'
đắt
giá
được
dùng
trong
những
bữa
tiệc
sang
trọng
là
Bào
ngư
(Abalone).
Bào
ngư
không
chỉ
quý
và
hiếm
với
người
Trung
Hoa
mà
hiện
nay
còn
rất
được
ưa
chuộng
tại
Nhật
và
Hoa
Kỳ.
Tuy
đa
số
Bào
ngư
được
bán
trên
thị
trường
dưới
dạng
đóng
hộp
nhưng
Bào
ngư
tươi
sống,
hiện
đang
được
nuôi
tại
các
trại
nuôi
hải
sản
ở
California
và
Oregon
mới
chính
là
những
'hải
vị'
đắt
giá
nhất.
Một
miếng
sandwich
bào
ngư
tươi
hiện
nay
gíá
lên
đến
50USD.
Mỗi
năm
Hoa
Kỳ
nhập
cảng
khoảng
250
tấn
bào
ngư
từ
Taiwan
và
khoảng
3500
tấn
từ
Trung
Hoa.
Giá
bán
lẻ
thịt
bào
ngư
tươi
làm
sẵn
tại
Hoa
Kỳ
ngày
nay
lên
đến
khoảng
150
USD/pound.
Nhật
hiện
nay
là
quốc
gia
tiêu
thụ
nhiều
bào
ngư
(awabi)
nhất
trên
thế
giới.
Bào
ngư,
do
hình
dáng
giống
như
một
cái
tai
nên
còn
được
gọi
dưới
nhiều
tên
dân
gian
như Ear
shell,
Sea
ear hoặc Ormer (do
gọi
tắt
từ
tiếng
Pháp,
Oreille
de
mer).
Abalones still alive is best eaten raw? (Bào ngư ăn lúc còn sống tốt nhất?)
Ngoài
vai
trò
làm
thực
phẩm,
Bào
ngư
còn
là
một
nguồn
dược
liệu
đáng
chú
ý
cho
cả
dược
học
cổ
truyền
Trung
Hoa
và
Dược
học
Tây
Phương
ngày
nay.
Vỏ
bào
ngư
hay
Thạch
quyết
minh
đã
là
một
vị
thuốc
trong
Đông
dược
từ
hàng
ngàn
năm
trước.
Các
hoạt
chất,
trích
được
từ
thịt
bào
ngư
như
Paolin
đang
được
nghiên
cứu
để
dùng
làm
thuốc
kháng
sinh
và
thuốc
trị
siêu
vi.
Ngọc
lấy
từ
bào
ngư
được
dùng
làm
đồ
trang
sức
có
giá
trị
khá
cao.
TÊN
KHOA
HỌC
VÀ
CÁC
TÊN
KHÁC
:
Bào
ngư
là
tên
gọi
chung
cho
các
động
vật
thân
mềm
trong
chi Haliotis,
thuộc
họ Haliotidae.
Tên
Anh-Mỹ:
Abalone,
Ormer,
Ear-shell,
sea
ears.
Tây
ban
Nha:
Oreja
de
mar,
Abulon,
Aulone
(Mexico)
Úc:
Muttonfish,
muttonshells.
Pháp:
Ormeau,
Six-yeux,
Oreille
de
mer.
Trung
Hoa:
Pau-yu.
Ốc
bào
ngư
=
Abalone
=
Ormeau
VÀI
ĐẶC
ĐIỂM
SINH
HỌC
:
Bào
ngư,
khoảng
trên
100
loài,
được
xếp
trong
ngành
(phylum)
sinh
vật
'nhuyến
thể
=
thân
mềm'
(mollusca)
chung
với
sò,
hến,
ốc,
mực..
Sự
phân
loại
tiếp
theo
xếp
bào
ngư
vào
lớp
'chân-bụng'
(gastropods)
là
nhóm
ốc
thân
mềm
nhưng
nằm
trong
một
vỏ
cứng.
Bào
ngư
có
vỏ
bên
ngoài
gần
như
một
khối
dẹt.
Từ
mép
vỏ
gần
miệng
có
từ 7
đến
9 gờ
xoắn,
tạo
thành
các
lỗ
(do
đó
có
tên
gọi
là
ốc
cửu
khổng).
Các
lỗ
này
cách
nhau
không
đều
được
dùng
để
thở
và
trao
đổi
nước.
Vỏ
bào
ngư
khá
đẹp,
mặt
bên
ngoài
có
nhiều
vân
tím,
nâu,
xanh
xen
kẽ
với
nhau,
tùy
từng
loài
sinh
sống
trong
các
môi
trường
thích
ứng;
mặt
trong
có
xà
cừ
óng
ánh.
Vỏ
ngoài
khá
cứng
được
cấu
tạo
phần
chính
bằng
những
lớp
Calcium
carbonate
xếp
chồng
lên
nhau.
Bào
ngư
bám
chặt
vào
đá
do
những
bắp
thịt
khá
mạnh
thay
thế
cho
đôi
chân.
Chúng
dùng
chân
để
di
chuyển,
co
giãn
khối
thịt,
như
các
loài
ốc
khác,
nhưng
chân
không
thích
hợp
để
bò
hay
bám
trên
bãi
cát.
Khi
gặp
nguy,
bào
ngư
dùng
chân
bám
thật
chặt
vào
giá
thể
và
hạ
thấp
phần
vỏ
để
che
đậy
cơ
thể.
Bào
ngư
trưởng
thành,
phát
dục
tương
đối
sớm
ngay
khi
vỏ
còn
nhỏ,
khả
năng
đẻ
trứng
tăng
rất
cao
theo
kích
thước
của
vỏ:
Bào
ngư
vỏ
lớn
2.2cm
có
thể
đẻ
mỗi
lần
trên
10
ngàn
trứng,
nhưng
bào
ngư
cỡ
20cm
đẻ
mỗi
lần
đến
11
triệu
trứng.
Bào
ngư
thường
đẻ
vào
lúc
chiều
tối
và
rạng
sáng.
Trứng
(nhỏ
li
ti,
khoảng
150-180
micron)
và
tinh
trùng
được
phóng
thả
theo
các
lỗ
thoát
và
trôi
theo
dòng
nước.
Tỷ
lệ
thụ
tinh
rất
thấp.
Mùa
đẻ
trứng
thay
đổi
tùy
loài,
thường
trong
các
tháng
1-2.
Trứng
thụ
tinh
biến
đổi
thành
ấu
trùng
sống
như
ăn
các
vi
tảo
cho
đến
khi
tạo
được
vỏ.
Sau
khi
tạo
vỏ,
bào
ngư
con
chìm
sâu
xuống
đáy
để
bám
vào
đá
hay
khe
nứt,
kẽ
đá
bằng
chân
khá
mạnh.
Thực
phẩm
của
bào
ngư
thay
đổi
tùy
giai
đoạn
phát
triển
và
phần
chính
là
các
vi
tảo
và
vi
sinh
vật.
Bào
ngư
tăng
trưởng
rất
chậm,
thời
gian
thay
đổi
tùy
loài:
Bào
ngư
đỏ
phải
mất
đến
10-15
năm
để
lớn
được
24-25cm.
illustration
of
the
abalone
life
cycle
(minh
họa
vòng
đời
bào
ngư)
Abalone Spawning
Abalone Spawning (bào ngư sinh sản)
Female abalone releasing eggs (Bào ngư cái đẻ trứng)
Male abalone releases sperm (Bào ngư đực phóng tinh trùng)
Life cycle of abalone (Vòng đời của bào ngư)
Bào
ngư
phân
bố
hầu
như
tại
khắp
nơi
trên
thế
giới,
dọc
ven
biển
ngoại
trừ
các
vùng
duyên
hải
Đại
tây
dương
thuộc
Nam
Mỹ,
vùng
Caribbean.
Vùng
biển
phía
Đông
Hoa
Kỳ
chỉ
có
một
loài
duy
nhất
được
xem
là
rất
hiếm.
Đa
số
bào
ngư
sinh
sống
tại
những
vùng
biển
lạnh
trên
thế
giới.
BÀO
NGƯ
TẠI
BẮC
MỸ :
Tại
vùng
biển
Thái
bình
dương
Bắc
Mỹ
có 9
loài
bào
ngư,
trong
đó
có
một
số
loài
có
giá
trị
kinh
tế
cao
và
đã
được
nuôi
trong
các
trại
dưỡng
ngư:
-
Haliotis
cracherodï:
Bào ngư đen (Black abalone). Vỏ ngoài màu đen hoặc xanh-đen sậm, mịn ; có 5 đến 9 lỗ thoát. Chân bám cũng màu đen. Thịt đỏ tươi, lớn tối đa 20cm (trung bình 10-15cm), gặp trong vùng từ Mendocino, California xuống đến vịnh Baja, sống trong vùng triều giữa và vùng biển cạn nơi độ sâu chừng 6m.
Bào ngư đen (Black abalone)
-
Haliotis
walallensis:
Bào ngư dẹp (Flat abalone). Vỏ ngoài vàng hay nâu nhạt, có 5-6 lỗ thoát, dẹt và hẹp. Chân bám màu xanh nhạt và mỏng manh. Phân bố từ vùng biển British Columbia (Canada) xuống đến San Diego (California) nơi vùng cận triều độ sâu từ 7-25m. Có thể lớn đến 12.5cm, trung bình 10cm.
.png)
Haliotis walallensis = Bào ngư dẹp (Flat abalone)
-
Haliotis
fulgens:
Bào ngư xanh (Green abalone). Vỏ ngoài màu nâu có 5-7 lỗ thoát. Chân bám màu xanh lục. Phân bố phần lớn trong vùng biển California, từ Point Conception xuống đến Baha Magdalena, thường sống bám vào khe đá nơi có nhiều thực vật thủy sinh, rong-rêu. Có thể lớn đến 25cm.
.png)
Haliotis fulgens = Bào ngư xanh (Green abalone)
-
Haliotis
kamtschatkana:
Bào ngư pinto (Pinto abalone, Northern abalone). Loài abalone đặc trưng của vùng biển Alaska, và là loài bào ngư nhỏ nhất, con lớn tối đa chỉ khoảng 8cm. Chân bám màu nâu-vàng nhạt. Vỏ có 3-6 lỗ, màu thay đổi theo môi trường sống. Thịt màu kem trắng ở giữa, phía ven màu cam nhạt.
Haliotis kamtschatkana = Bào ngư pinto (Pinto abalone, Northern abalone)
-
Haliotis
rufescens:
Bào ngư đỏ (Red abalone). Vỏ nặng, ít thuôn, bên ngoài có những đường xoắn không đều, màu đỏ san hô, chỉ có 3-4 lỗ. Có thể lớn đến 31.3cm, trung bình 25cm. Bào ngư nuôi tại California được đưa ra thị trường khi lớn 0.8-0.9cm. Phân bố từ vùng Sunset Bay (Oregon) xuống đến Baja (California), nơi vùng cận triều ở độ sâu đến 30m. Đây là loài bào ngư đang được nuôi tại các trại thủy sản Mỹ).
Haliotis rufescens = Bào ngư đỏ (Red abalone)
Cycle
de
vie
d'Haliotis
rufescens
(Vòng
đời
của
Haliotis
rufescens)
Haliotis pourtalesï : Là loài bào ngư duy nhất tại vùng biển Đông Hoa Kỳ. Vỏ màu cam-đỏ rất nhỏ, chỉ cỡ 3cm, sống dưới sâu trong vùng từ N. Carolina xuống đến Brasil. Được xem là một loài bào ngư hiếm.
.png)
Haliotis pourtalesï
* Tại Hoa Kỳ, hầu như chỉ bào ngư đỏ là loài chính được khai thác trong mục đích thương mãi, tuy nhiên việc khai thác và đánh bắt trong thiên nhiên hầu như đã bị cấm. Bào ngư bán trên thị trường là do từ các trại nuôi tại California và tại Hawaï.
.png)
Haliotis pourtalesï
* California: Số lượng bào ngư đánh bắt lên đến một con số kỷ lục là 5.4 triệu pounds vào năm 1957 và sau đó giảm nhanh xuống chỉ còn 460 ngàn pounds vào 1993 và hầu như không còn được phép đánh bắt nữa.. Trong khi đó, California (2008) cho phép bắt Bào ngư đỏ dưới dạng 'thể thao': Chỉ được phép lặn xuống bắt bào ngư bằng phương pháp tự nhiên, cấm dùng các trang bị để lặn sâu như bình hơi (Scuba). Kích thước được phép bắt tối thiểu là 18cm, mỗi ngày mỗi người được bắt tối đa 3 con và mỗi năm tối đa 24 con. Việc chuyên chở cũng bắt buộc là bào ngư còn nguyên, và cấm bán lại.
Haliotis pourtalesï
* Alaska: Loài khai thác là Pinto abalone. Số lượng cao nhất là 315 ngàn pound năm 1979 và chỉ còn 35 ngàn pounds năm 1993. Chính phủ Tiểu bang đã đưa ra nhiều luật lệ giới hạn số lượng cũng như kích thước (tối thiểu được phép bắt: 3.75 inches), mùa đánh bắt (chỉ trong vòng 6 ngày mỗi năm)..
Pinto abalone Alaska abalone
* British Columbia: Cũng gặp tình trạng tương tự như Alaska, loài Pinto abalone được khai thác để cung cấp cho nhu cầu tiêu thụ tại Nhật. Lượng đánh bắt từ 1 triệu pounds (470 tấn) năm 1977 xuống chỉ còn 110 ngàn pounds vào năm 1990. Việc khai thác bị cấm hẳn từ 1991.
Pinto abalone
BÀO
NGƯ
TẠI
VIỆT
NAM
VÀ
ĐÔNG-NAM
Á
CHÂU:
Trong
các
vùng
biển
quanh
Nhật
Bản
và
dọc
duyên
hải
Trung
Hoa,
Việt
Nam
có
một
số
loài
bào
ngư
đang
được
khai
thác,
kể
cả
nuôi
tại
các
trại
dưỡng
ngư.
Tại
Việt
Nam,
bào
ngư
phân
bố
trong
vùng
Vịnh
Hạ
Long,
Bạch
long
vĩ,
quanh
các
đảo
tại
Khánh
Hòa
như
hòn
Nội,
hòn
Tre..,
vùng
Côn
đảo,
Phú
quốc,
quần
đảo
Trường
Sa..
MỘT
SỐ
LOÀI
THƯỜNG
GẶP
NHẤT:
-
Halitosis
diversicolor
:
Bào ngư chín lỗ. Đây là loài thường được dùng trong Dược học cổ truyền Trung Hoa để làm thuốc. Vỏ ngoài hình bầu dục thuôn hay bán cầu dẹt, màu xám hay đỏ sậm, có 6- 9 lỗ thoát. Vỏ khá dày nhiều gờ nhô không đều, tương đối khó bể, vỡ, dài trung bình 7-9cm, ngang 5-6cm, cao chừng 2cm.
.png)
Halitosis diversicolor = Bào ngư chín lỗ
-
Halitosis
ovina:
Bào ngư hình trứng (Sheep's ear abalone) Dương bào. Vỏ tương đối tròn, có khoảng 4-5 lỗ thoát. Dài 4-8cm, ngang 2.5-6cm, cao 0.8-2cm.
.png)
Halitosis ovina = Bào ngư hình trứng (Sheep's ear abalone) Dương bào
-
Halitosis
asinina:
Bào ngư hình vành tai (Ass's ear abalone). Vỏ tương đối mỏng, có thể lớn đến 12cm, trung bình khoảng 9cm. hình thuôn dài và hơi hẹp giống như tai lừa, có 5-7 lỗ thoát, màu thay đổi từ xanh - olive đến nâu. Mặt trong của vỏ có xa cừ óng ánh xanh lục và hồng nhạt, rất đẹp. Mức độ tăng trưởng chậm, phải mất 3 năm mới đạt 7.5cm.
Halitosis asinina = Bào ngư hình vành tai (Ass's ear abalone)
-
Halitosis
discus:
Bào
ngư
Nhật
(Japanese
abalone)=
Bán
đại
hào. Vỏ
thuôn
dài,
màu
nâu-xám,
mỏng,
có
nhiều
khối
nhăn
thô,
có
4-5
lỗ
thoát.
Dài
8-12cm,
ngang
6-8cm,
cao
2-3cm.
.jpg)
Haliotis
discus
(disk
abalone) Bào
ngư
Nhật
(Japanese
abalone)
=
Bán
đại
hào
BÀO
NGƯ
TẠI
ÚC
VÀ
CÁC
NƠI
KHÁC:
Vùng
biển
quanh
Úc
châu,
Tân
Tây
Lan..
cũng
có
một
số
loài
bào
ngư
riêng
như:
-
Halitosis
laevigata
=
Greenlip
abalone: Vỏ
hình
trứng
dài
11-14cm,
ngang
8.5-11cm,
cao
3-6.5cm,
màu
đỏ
gạch,
mịn
có 9
lỗ
thoát.
.jpg)
Halitosis
laevigata
=
Greenlip
abalone
-
Halitosis
rubra
=
Blacklip
abalone: Vỏ
trung
bình
khoảng
7.5cm,
màu
đỏ
sậm.
(Bào
ngư
sống
trên
15
năm
có
thể
lớn
đến
20cm).
.jpg)
Halitosis
rubra
=
Blacklip
abalone
-
Halitosis
roei
=
Roe's
abalone
black-footed
: Vỏ
đỏ
chỉ
lớn
chừng
5cm.
.jpg)
Halitosis
roei
=
Roe's
abalone
black-footed
Loài
Halitosis
rubra
chiếm
khoảng
80%
số
bào
ngư
khai
thác
tại
Úc.
Thống
kê
năm
98-99
ghi
nhận
số
thu
hoạch
tại
NSW
là
323
tấn,
Victoria
1400
và
cao
nhất
là
Tasmania,
2600
tấn;
đa
số
được
xuất
cảng
sang
Nhật,
Taiwan
và
Hong
kong.
Cũng
như
tại
các
nơi
khác
trên
thế
giới,
Australia
có
luật
bảo
vệ
hải
sản
rất
nghiêm
ngặt
nên
mỗi
năm
chính
quyền
của
từng
tiểu
bang
đặt
ra
những
luật
lệ
riêng
qui
định
việc
cấp
giấp
cho
phép
bắt
bào
ngư.
Giấy
phép
trị
giá
đến
40
Úc
kim
để
bắt
bào
ngư
trong
vòng
6
tuần.
Tại
Western
Australia,
mùa
bắt
bào
ngư
bắt
đầu
vào
trung
tuần
tháng
11
và
chỉ
kéo
dài
trong
vòng
6
tuần.
Mỗi
tuần
chỉ
được
bắt
vào
ngày
Chủ
nhật,
và
mỗi
lần
bắt
trong
vòng
1
giờ
(từ
7
đến
8
giờ
sáng),
tối
đa
được
bắt
là
20
con.
Kích
thước
tối
thiểu
cho
phép
với
Greenlip
là
14.5cm
và
với
Blacklip
là
138mm.
Riêng
tại
Nam
Phi,
có
loài Haliotis
midae
=
Perlemoen hiện
đang
được
nuôi
tại
các
trại
thủy
sản.
.jpg)
Haliotis
midae
=
Perlemoen
Tại
Âu
châu,
trong
vùng
biển
Bắc
Đại
tây
dương
có
loài Halitosis
tuberculata,
lớn
tối
đa
chừng
12cm.
.png)
Ormeau
méditerranéen: Haliotis
tuberculata
BÀO
NGƯ
NUÔI
TẠI
CÁC
TRẠI
HẢI
SẢN:
Do
bị
đánh
bắt
quá
mức
để
cung
cấp
cho
nhu
cầu
tiêu
thụ,
số
lượng
bào
ngư
trong
thiên
nhiên
bị
giảm
hạ
đến
mức
có
thể
bị
tuyệt
diệt,
nên
ngay
từ
đầu
thập
niên
1960
các
nghiên
cứu
về
nuôi
bào
ngư
đã
được
thực
hiện
tại
Nhật,
Hoa
Kỳ,
Trung
Hoa
đồng
thời
một
số
trại
đã
được
thiết
lập
tại
Nhật.
Ngày
nay
việc
nuôi
bào
ngư
đã
phát
triển
tại
nhiều
quốc
gia
kể
cả
Hoa
Kỳ,
Mexico,
Nam
Phi,
Úc,
Nhật,
Trung
hoa,
Taiwan
cùng
nhiều
nơi
khác,
trong
đó
có
Việt
Nam.
Hoa
Kỳ : Hiện
có
khoảng
trên
20
trại
thiết
lập
dọc
duyên
hải
California
trong
đó 7
trại
đang
cung
cấp
bào
ngư
cho
thị
trường
tiêu
thụ:
trại
lớn
nhất
sản
xuất
đến
1
triệu
bào
ngư/
năm
(2011),
các
trại
nhỏ
chỉ
khoảng
5-60
ngàn
con.
Tổng
sản
lượng
lên
đến
gần
80
tấn.
Loài
bào
ngư
đỏ
chiếm
95%
trong
số
loài
được
nuôi.
Ngoài
ra
tại
Hawaï
cũng
có
vài
trại
nuôi
bào
ngư
tập
trung
vào
các
loài
Halitosis
fulgens
và
Halitosis
diversicolor
supertexta.
Nhật: Nhật
là
quốc
gia
có
những
kỹ
thuật
nuôi
bào
ngư
tân
tiến
nhất:
nuôi
bào
ngư
không
chỉ
lấy
thành
phẩm
như
thịt,
vỏ..
nhưng
còn
để
giúp
cải
thiện
môi
trường
biển.
Sản
lượng
mỗi
năm
lên
đến
25-30
triệu
con
dùng
phương
pháp
cấy
giống
nhân
tạo,
sau
đó
đưa
xuống
biển
nơi
có
độ
sâu
và
môi
trường
thích
hợp.
Trung
Hoa
: Trung
Hoa
có
trên
300
trại
nuôi
bào
ngư,
sản
xuất
mỗi
năm
trên
4000
tấn,
đa
số
là
Halitosis
diversicolor.
Ferme
d'élevage
d'ormeaux
de
Fujian
-
Chine
Taiwan
: Có
trên
400
trại
nuôi,
chưa
kể
rất
nhiều
trại
nhỏ
nuôi
theo
kiểu'
gia
đình'.
Sản
lượng
trên
2500
tấn
chỉ
đủ
cung
cấp
cho
thị
trường
địa
phương.
Úc
và
Tasmania
: Việc
nuôi
bào
ngư
đang
được
phát
triển,
sản
lượng
năm
2000
chỉ
khoảng
150
tấn.
Loài
được
nuôi
là
Halitosis
rubra
(Blacklip
abalone).
Việt
Nam
: Tại
Việt
Nam,
hiện
đang
có
một
số
chương
trình
thử
nghiệm
nuôi
bào
ngư
dựa
theo
các
phương
pháp
của
Trung
Hoa
và
Nhật:
Chọn
bãi
thiên
nhiên,
vùng
triều
thấp
có
nhiều
rong,
vi
tảo,
có
độ
muối
thích
hợp
(25-35%),
có
những
vách
và
hốc
đá,
dựng
thêm
giá
thể
và
sau
đó
rải
giống
để
chúng
tìm
bám
.
Thời
gian
thu
hoạch:
khoảng
2-3
năm
sau
khi
rải.
Loài
được
chọn
để
nuôi
là
Halitosis
ovata.
THÀNH
PHẦN
DINH
DƯỠNG:
100g
phần
thịt
ăn
được
chứa:
-
Calories
104
-
Chất
đạm
17.05g
-
Carbohydrates
5.89g
-
Chất
béo
tổng
cộng
0.75g
-
bão
hòa
0.15g
-
chưa
bão
hòa
0.15g
-
Cholesterol
84.7mg
-
Vitamins
:
-
B1
0.19mg
-
B2
0.14mg
-
B12
0.6µg
-
Niacin
1.6mg
-
Pantothenic
acid
3mg
-
Folic
acid
5.05µg
-
Khoáng
chất
:
-
Calcium
31.7mg
-
Đồng
0.19mg
-
Sắt
3.17mg
-
Magnesium
48mg
-
Manganese
0.04mg
-
Phosphorus
203mg
-
Sodium
0.82mg
Trong
chất
đạm,
có
đủ
19
loại
acid
amin
cần
thiết
cho
cơ
thể
với
số
lượng
tương
đối
cao
của
Threonine
(0.73mg),
Isoleucine
(0.75mg),
Valine
(0.7mg),
Glutamic
acid
(2.31mg).
Xét
chung,
tuy
thịt
Bào
ngư
có
giá
trị
dinh
dưỡng
tương
đối
cao,
như
giá
quá
đắt,
nên
không
thể
là
một
thực
phẩm
thông
dụng.
Bào
ngư
chỉ
được
xem
như
một
món
ăn
cầu
kỳ
dành
cho
những
người
thích
thưởng
thức
'món
ngon,
vật
lạ'
Khoa
dinh
dưỡng
'mới'
tại
Trung
Hoa
cho
rằng
thịt
bào
ngư
có
khả
năng
'tư
Âm,
bổ
Khí'
làm
hạ
Nhiệt
trong
nội
tạng,
tăng
cường
sinh
lực
cho
nam
giới,
giúp
sáng
mắt,
trị
được
ho
và
thông
tiểu.
THÀNH
PHẦN
CỦA
VỎ
BÀO
NGƯ:
Thành
phần
hóa
học
của
vỏ
bào
ngư
(các
loại
dùng
làm
thuốc
trong
Dược
học
cổ
truyền
Trung
Hoa)
có
một
số
khác
biệt
tùy
loài
sử
dụng
:
-
Vỏ
Halitosis
ovina
: Chứa
trên
90%
calcium
carbonate,
một
ít
Mg,
Na,
Si,
Fe
và
Al..
cùng
các
khoáng
chất
vi
lượng
Ti,
Mn,
Ba,
Cu,
Ct,
Zn..
Sau
khi
thủy
giải
lấy
được
17
loại
acid
amin
và
conchiolin.
-
Vỏ
Halitosis
diversicolor
: Cũng
chứa
Calcium
carbonate
và
các
yếu
tố
vô
cơ
như
Ca,
Na
cùng
các
khoáng
chất
vi
lượng.
Lượng
tro
không
thủy
giải
được
chiếm
0.45%.
Bên
trong
vỏ,
có
một
hợp
chất
óng
ánh
như
ngọc
hay
conchiolin,
khi
thủy
giải
bằng
hydrochloric
acid,
lấy
được
các
acid
amin
như
glycin,
aspartic
acid,
alanine,
serine...
-
Vỏ
Halitosis
discus
:
Chứa
trên
90%
calcium
carbonate,
phần
hợp
chất
hữu
cơ
chiếm
3.67%..
NGHIÊN
CỨU
KHOA
HỌC
VỀ
BÀO
NGƯ:
Trong
thịt
của
một
số
loài
bào
ngư
như
Haliotis
discus
có
một
sắc
tố
loại
choline,
liên
hệ
đến
chlorophylle.
Sắc
tố
này,
tập
trung
trong
gan
và
tạng
phủ
bào
ngư,
dưới
tác
động
của
ánh
sáng
(phản
ứng
loại
photodynamics),
có
thể
biến
đổi
thành
một
độc
chất.
Người
ăn
khi
ra
ngoài
ánh
sáng
bị
các
phản
ứng
ngoài
da
như
mẩn
đỏ,
ngứa,
nóng
rát
bỏng
và
có
thể
lở
da..
Những
thử
nghiệm
nơi
mèo,
chuột,
cho
dùng
độc
tố,
rồi
đưa
ra
ánh
sáng
mặt
trời
ghi
nhận
mèo,
chuột
bị
chẩy
nước
bọt,
nước
mắt
và
có
khi
bị
co
giật
nhẹ.
Nước
bào
ngư
đóng
hộp
có
khả
năng
sát
trùng.
Do
từ
nhận
xét
này,
các
khoa
học
gia
đã
ly
trích
được
từ
thịt
bào
ngư
một
số
hợp
chất
phức
tạp
có
hoạt
tính
kháng
sinh,
tạm
đặt
tên
là
Paolin
I và
Paolin
II.
Hai
chất
này
có
thể
tách
riêng
bằng
sắc
ký
trao
đổi
ions
trên
cột
cellulose.
Cả
hai
đều
tương
đối
bền
đối
với
nhiệt
(chịu
được
nhiệt
độ
95°C
trong
45
phút)
và
có
cấu
trúc
phân
tử
loại
protein,
không
bị
phân
hủy
bởi
pepsin.
Paolin
I có
lẽ
là
một
mucoprotein,
phân
tử
lượng
từ
5000-10,000.
Ngoài
ra,
còn
một
hợp
chất
khác,
gọi
là
Phần
C
tan
trong
nước
trích
từ
bào
ngư
cũng
có
các
hoạt
tính
kháng
sinh
và
kháng
siêu
vi.
Điều
đáng
chú
ý là
các
hợp
chất
trích
từ
bào
ngư
có
hoạt
tính
cả
'in
vivo'
(khi
thử
trực
tiếp)
lẫn
'in
vitro'
(khi
thử
trong
ống
nghiệm).
Paolin
I và
Phần
C có
khả
năng
làm
giảm
tử
vong
nơi
chuột
thử
nghiệm
gây
nhiễm
Staphylococcus
pyogenes
đến
27%,
và
ngăn
chặn
được
sự
tăng
trưởng
của
Staphylococcus
aureus
đã
đề
kháng
Penicillin.
Thử
nghiệm
trên
khỉ,
gây
nhiễm
bằng
các
siêu
vi
polio
và
Cúm
loại
A
nơi
tế
bào
thận
:
khi
cho
dùng
Paolin
II
và
Phần
C
trước
đó
24
giờ,
hoại
tính
ngăn
chặn
nhiễm
trùng
lên
đến
99%.
(Chemistry
of
Marine
Natural
Products-
P.
Scheuer).
Theo
nghiên
cứu
tại
ĐH
Jeju
(Nam
Hàn)
thì
trong
phần
thịt
của
bào
ngư
loài
Haliotis
discus,
có
hợp
chất
phức
tạp
histone
H2A.
Từ
histone
này,
có
thể
ly
trích
được
một
peptide
phức
tạp
gồm
40
acid
amin,
đặt
tên
là
Abhisin
có
khả
năng
kháng
sinh
rất
mạnh
trên
nhiều
loại
vi
khuẩn
gram
+ và
gram
-
Abhisin
còn
có
khả
năng
làm
giảm
sự
phát
triển
của
tế
bào
ung
thư
máu
loại
THP-1
đến
25%
(Fish
Shelfish
Immunology
Số
27-2009).
Nước
chiết
từ
bào
ngư
có
khả
năng
ức
chế
sự
tăng
trưởng
của
Staphylococcus
aureus,
E.coli
và
Pseudomonas
aeruginosa,
khi
thử
in
vitro.
Nước
chiết
từ
vỏ
(phần
bên
trong)
bào
ngư
có
khả
năng
bảo
vệ
được
gan
của
chuột
thử
nghiệm
bị
gây
nhiễm
bằng
Carbon
tetrachloride:
Nghiên
cứu
ghi
nhận
mức
ALT
nơi
chuột
thử
nghiệm
thấp
hơn
so
với
chuột
đối
chứng.
(Complementary
and
Alternative
Healing-
Hing
kwok
Chu).
Nghiên
cứu
tại
ĐH
Gwangju
(Nam
Hàn)
ghi
nhận:
Dịch
chiết
từ
nội
tạng
bào
ngư
có
khả
năng
làm
giảm
sự
phát
triển
của
bướu
ung
thư
(khối
lượng
và
trọng
lượng)
và
giảm
di
căn
(metastasis)
chứng
minh
bằng
sự
giảm
phù
lá
lách
và
bằng
sinh
thiết
tế
bào
ung
thư
phổi
ở
giai
đoạn
di
căn.
Hoạt
tính
chống
ung
thư
phổi
có
thể
do
ức
chế
tiến
trình
bội
sinh
tế
bào
(Cox-2)
đồng
thời
giúp
tăng
sinh
và
tăng
hoạt
các
tế
bào
T
loại
CD8+.(PubMed
:
PMID
20961430)
BÀO
NGƯ
TRONG
ẨM
THỰC:
Trước
đây
bào
ngư
được
khai
thác
dưới
các
dạng
tách
vỏ
lấy
thịt
phơi
khô
hay
hun
khói,
đóng
hộp
hay
bán
dưới
dạng
tươi
nhưng
hiện
nay
đa
số
xuất
cảng
sang
Nhật
ở
dạng
tươi
hay
toàn
con
đông
lạnh.
Tại
Hoa
Kỳ
thịt
bào
ngư
tươi
thường
chỉ
được
bán
tại
một
số
nhà
hàng
đặc
biệt
ở
California
dưới
dạng
sashimi
và
dạng
steak
tươi.
Một
tá
bào
ngư
đỏ
được
bán
từ
500-600
USD.
Bào ngư ăn lúc còn sống tốt nhất?
Steak
bào
ngư
tươi
được
chế
biến
như
sau:
Nạy
vỏ
bào
ngư
tươi
mới
bắt,
bỏ
đầu
và
nội
tạng;
dùng
dao
nhỏ
cắt
tỉa
chân
bám
(bào
ngư
đỏ
và
xanh
thường
để
ngâm
trong
24
giờ
để
thư
giãn
trước
khi
tỉa
chân
bám)
thời
gian
nghỉ
này
giúp
bắp
thịt
giảm
sự
co
thắt
của
bắp
thịt.
Chân
bám
và
thịt
được
lạng
mỏng
theo
chiều
ngang
và
sau
đó
được
làm
mềm
bằng
cách
đập
bằng
búa
gỗ
để làm
vỡ các
thớ
thịt
dọc
thân.
Tỷ
lệ
steak
lấy
được
vào
khoảng
15%
phần
thịt
tươi
tách
từ
bào
ngư.
Toàn
bộ
thịt
của
bào
ngư
được
xem
là
ăn
được.
Tại
Hoa
Kỳ,
giới
tiêu
thụ
thường
chỉ
ăn
phần
cơ
bắp
của
bào
ngư,
trong
khi
đó
tại
Nhật,
bộ
phận
sinh
sản
được
xem
là
'đặc
sản',
tách
riêng
và
ăn
tươi
sống.
Phần
chân
bám
còn
lại
sau
khi
tỉa
để
lấy
steak,
được
băm
vụn
để
làm
thịt
'burger',
tuy
nhiên
do
giá
cao
nên
thường
được
đóng
hộp,
hoặc
dùng
nấu
'súp'..
Tại
California,
Nhà
hàng
Hoppe's
Garden
Bistro
ở
Cayucos,
luôn
luôn
có
các
món
bào
ngư
(đỏ)
tươi
sống
(nuôi)
giá
từ
40
-100
USD
cho
150g
bào
ngư
chế
biến
dưới
nhiều
dạng
khác
nhau
từ
cắt
mỏng
ăn
tươi
đến
sốt
bơ..
Người Châu Âu không mấy ưa chuộng bào ngư, ngoại trừ vùng Breton (Pháp) với món ăn như Ormeaux au Beurre Breton trong đó thịt bào ngư được chiên bơ, rồi đút lò với hành phi rượu muscadet, cùng tỏi bằm, ngò..
.jpg)
Ormeaux
au
Beurre
Breton
Các
quốc
gia
Á
châu
như
Trung
Hoa,
Nhật,
Hàn
quốc,
Việt
Nam
đều
xem
bào
ngư
như
một
thực
phẩm
quý
và
hiếm:
Các
tiệc
cưới
Việt
và
Tàu
đều
có
món
bào
ngư
để
tăng
thêm
phần
sang
trọng.
Một
số
món
ăn
có
bào
ngư
được
quảng
cáo
như
:
Gỏi
sứa
bào
ngư,
Súp
bào
ngư,
hải
sản,
măng
tây;
Súp
bào
ngư
tóc
tiên;
Bào
ngư
xào
nấm
đông
cô..
.jpg)
Súp
bào
ngư
tóc
tiên
Bào
ngư
sốt
dầu
hào
/
Bào
ngư
sốt
dầu hào
Tại
Nhật:
Thịt
bào
ngư
tươi
và
sống
được
dùng
trong
awabi
sushi,
hay
có
thể
hấp
chín,
ướp
muối,
bằm
vụn
nấu
liu
riu
trong
xì
dầu
(soy
sauce).
Nội
tạng
bào
ngư
uớp
muối
hay
để
lên
men
là
thành
phần
chính
của
tottsuru.
BÀO
NGƯ:
VỊ
THUỐC..
TRONG
THUỐC
BẮC,
THUỐC
NAM:
Dược
học
cổ
truyền
Trung
Hoa
và
Việt
nam
dùng
vỏ
bào
ngư
và
thịt
để
làm
thuốc.
Dược
liệu
(vỏ)
được
gọi
dưới
tên
Thạch
quyết
minh
(Shi-jue-ming).
Vị
thuốc
đã
được
ghi
chép
trong
Danh
Y
biệt
lục.
Tên
Thạch
quyết
=
Bám
chắc
vào
đá;
minh
=
giúp
làm
sáng
mắt.
DƯỢC
HỌC
KAMPO
Nhật:
gọi
là
Sekketsumei
Triều
Tiên:
Sôkkỳôlmyông.
Trung
Quốc
Dược
học
đại
từ
điển
gọi
vị
thuốc
là
Pháp
ngư.
Vỏ
bào
ngư
được
xem
là
có
vị
mặn,
tính
hàn;
tác
động
vào
các
kinh-mạch
thuộc
Can
và
Thận.
(Theo
Trung
dược
Đại
từ
điển
thì
tác
động
vào
Can
và
Phế)
Theo
Viện
dược
liệu
Việt
Nam
vỏ
bảo
ngư
được
chế
biến
như
sau:
'Bào
ngư
bắt
về,
rửa
sạch
cát
và
rêu
bám
ngoài
vỏ,
rồi
rửa
lại
bằng
nước
muối,
sau
đó
cậy
vỏ,
lấy
thịt,
bỏ
ruột,
phơi
khô.
Có
khi
luộc
cả
con
rồi
gỡ
thịt,
bóc
lấy
vỏ
mà
dùng
(cách
này
dễ
làm
hơn,
nhưng
dược
liệu
không
đẹp
và
phẩm
chất
kém
hơn).
Khi
dùng,
để
sống
hoặc
nung
lên,
tán
bột'
THẠCH
-
QUYẾT
MINH
CÓ
CÁC
TÁC
DỤNG:
Hạ
Hỏa,
giáng
Dương
tốt
nhất
trong
các
trường
hợp
Nhiệt
tại
Can,
với
Dương
thăng
gây
nhức
đầu,
chóng
mặt,
đỏ
mắt.
Thường
dùng
chung
với
vỏ
Sò (Mẫu
lệ =
Mu-li),
và
nếu
đỏ
mắt
thì
thêm
hoa
Cúc.
Giúp
sáng
mắt:
Hỏa
tăng
tại
Can
gây
ra
chứng
mắt
sợ
ánh
sáng,
lên
lẹo,
đỏ
và
mờ.
Thạch
quyết
minh
được
dùng
phối
hợp
với
Sinh
địa
và
Sơn
thù
du..
Liều
thường
dùng:
9-30g
dưới
dạng
thuốc
sắc,
hay
bột
tán
mịn.
DƯỢC
HỌC
CỔ
TRUYỀN
VIỆT
NAM
CŨNG
DÙNG
VỎ
BÀO
NGƯ
LÀM
THUỐC
:
Tuệ
Tĩnh,
trong
Nam
dược
thần
hiệu
đã
ghi:
'Thạch
quyết
minh
= Vỏ
ốc
cửu
khổng,
vị
mặn,
tính
bình,
không
độc,
chữa
đái
buốt,
di
tinh,
nóng
âm
ỷ,
chữa
đau
mắt
và
mắt
mờ.'
Hải
thượng
Lãn
ông,
trong
Lĩnh
nam
Bản
thảo,
quyển
thượng:
'Thạch
quyết
min',
vỏ
ốc
cửu
khổng.
Không
độc,
mặn
lạnh
chữa
lâm
thông
Phong
nhiệt,
di
tinh,
lao
nóng
xương
Màng
mắt,
thanh
manh,
mau
tìm
dụng..'
(lâm
thông=
đái
rắt;
Thanh
manh=
mắt
mờ
tuy
không
bị
màng
che)
Trong
quyển
hạ,
Cụ
ghi:
'Cửu
khổng
sinh
ra
chốn
hải
tề
Nhất
là
chín
lỗ,
chọn
đem
về
Tính
lương,
ôn
mát,
bình
không
độc
Lấy
phục
long
can
nung
lửa
phi
Ngâm
với
đồng
tiện,
rây
cho
nhỏ
Mắt
tối,
uống
vào
lại
sáng
ghê..'
Hiện
nay,
vỏ
bào
ngư
vẫn
được
dùng
trong
thuốc
Nam
để
trị
các
bệnh
váng
đầu,
quáng
gà
và
mắt
kém.
Ngoài
ra,
vỏ
bào
ngư
và
các
loại
vỏ
sò,
ngao
đều
được
dùng,
sau
khi
nung
để
trị
đau
bao
tử,
ợ
chua..
Thịt
bào
ngư
=
Ngư
nhục
bào,
được
xem
là
có
vị
ngọt/mặn,
tính
ấm
dùng
bổ
dưỡng,
tăng
cường
thể
lực,
làm
tóc
lâu
bạc,
giúp
giảm
ho,
lợi
sữa.
Tại
Trung
Hoa,
thịt
bào
ngư
được
dùng
để
trị
tiểu
đường,
bổ
khí
huyết
và
hạ
huyết
áp.
NGỌC
TỪ
BÀO
NGƯ
:
Bào
ngư
cũng
như
Trai
có
khả
năng
sản
xuất
được
ngọc
từ
cơ
thể
(xin
đọc
bài
Trai
Ngọc
trong
Đặc
tính
dinh
dưỡng
của
Cá
và
Thủy
sản,
tập
2
trang
193).
Ngọc
từ
bào
ngư
tương
đối
hiếm.
Phương
thức
tạo
ngọc
của
bào
ngư
cũng
tương
tự
như
trai-ngọc
(Pinctada),
tuy
nhiên
cấu
trúc
của
ngọc
có
đôi
phần
khác
biệt
như
thay
vì
do
sự
xếp
lớp
chồng
lên
nhau
dầy
kín
của
conchiolin
và
carbonate
nơi
ngọc
trai,
sự
xếp
lớp
nơi
ngọc
bào
ngư
có
thể
ở
dạng
tổ
ong.
Ngọc
từ
bào
ngư
có
nhược
điểm
là
không
đều,
các
khối
ngọc
rất
đa
dạng,
có
khi
rất
to:
dài
đến
5cm,
ngang
1-2cm
và
thuờng
cong
dạng
sừng
trâu
và
không
tròn
trịa
để
có
thể
làm
thành
chuỗi.
Ngọc
bào
ngư
đã
được
dùng
làm
vật
trang
sức
tại
Nhật
từ
thời
xa
xưa,
có
lẽ
từ
thế
kỷ
thứ
3.
Việc
cấy
ngọc
bào
ngư
nhân
tạo
đã
được
Louis
Bouton
(Academie
des
Sciences
de
Paris)
thực
hiện
từ
1898,
nhưng
ít
được
áp
dụng
rộng
rãi
vì
bào
ngư
dễ
bị
chết
trong
khi
cấy
và
ngọc
bào
ngư
không
có
giá
trị
thương
mãi
cao.
Đa
số
ngọc
thu
hoạch
đều
do
lấy
ra
được
trong
khi
chế
biến
thịt
bào
ngư.
Ngọc
bào
ngư
óng
ánh,
màu
sắc
do
pha
trộn
giữa
xanh
lam,
tím
nhạt,
cam,
xanh
lục,
hồng
và
bạc.
Ngọc
tự
nhiên
tròn
đều
và
đối
xứng
rất
hiếm
chỉ
xẩy
ra
trong
tỷ
lệ
1/100
ngàn.
Viên
ngoc
kỷ
lục
trên
thế
giới
được
tách
từ
bào
ngư
do
Peter
Trương,
một
người
Việt
Nam,
bắt
được
tại
Mendocino
(California)
vào
ngày
29
tháng
11
năm
2010.
Viên
ngọc
có
dạng
sừng
trâu
màu
xanh
lam-lục
được
Gemological
Institute
of
America
xác
định
là
718
carat.
.jpg)
Viên
ngoc
kỷ
lục
trên
thế
giới
718
carat.
Ngọc lấy từ ốc bào ngư
Hiện nay, ngọc bào ngư chưa được phổ biến tại Hoa Kỳ và Âu châu nhưng khá thông dụng tại Úc và Tân tây Lan.
Ngoài ngọc, xa cừ tách từ phần vỏ phía trong của bào ngư cũng được dùng trong công nghiệp chế tạo đồ trang sức như nữ trang, nút áo, khảm vào đồ gỗ và nhạc cụ..
Trần Minh Quân 3/2011
Tài liệu sử dụng:
- Từ điển Động vật và Khoáng vật dùng làm thuốc tại Việt Nam (Võ văn Chi)
- Cây thuốc và Động vật làm thuốc ở Việt Nam , Tập 1 (Viện Dược liệu)
- Monterey Bay Aquarium : Seafood Watch-Abalone.
- Seafood Network Information Center : Abalone
- Chinese Herbal Medicine Materia Medica (Bensky/Gamble)
|
|
|