Giá trị dinh dưỡng:
Cá chình được xem là một thực phẩm bổ dưỡng, chứa nhiều chất béo. 100g thịt cá chình (nấu chín bằng nhiệt khô) chứa:
- Calories236
- Chất đạm 23.65g
- Chất béo 14.95g
- Calcium 26mg
- Sắt 0.64mg
- Magnesium 26mg
- Phosphorus 227mg
- Potassium 349mg
- Sodium 65mg
- Kẽm 2.08mg
- Đồng 0.029mg
- Manganese 0.04mg
- Selenium 8.3µg
- Thiamine (B1) 0.183mg
- Riboflavine (B2) 0.051mg
- Niacin (B3) 4.487mg
- Pantothenic acid 0.28mg
- Folate 17µg
- Vitamin B1 22.89µg
- Vitamin A 3787µg hay 1137 IU
- Choline 67mg
Thành phần chất béo (trong 100g) của cá Chình:
- Chất béo tổng cộng 14.95g
- Chất béo bão hòa 2.4g
- chưa bão hòa đơn (mono) 7.35g
- chưa bão hòa đa (poly) 0.95g
- Acid béo Omeg-3670mg
Omega-6200mg
- Cholestero l137mg
Trong một Hội nghị quốc tế tại Tokyo vào tháng 10 năm 1990, các nhà khoa học Anh cho biết thịt cá chình chứa nhiều DHA có tác dụng bồi bổ sức khoẻ, giúp tăng hoạt động của não, hạn chế sự tăng trưởng của bướu ung thư.
Máu cá chình:
Máu cá chình được ghi nhận là có độc tính đối với người và các động vật có vú khác, tuy nhiên sau khi đun, nấu các proteins gây độc này bị mất tác dụng. Huyết thanh của máu cá chình đã được dùng để nghiên cứu trong lãnh vực miễn nhiễm học và GS Charles Richet đã đoạt giải Nobel khi dùng huyết thanh này để nghiên cứu về các phản ứng quá mẫn (anaphylaxis) thử nghiệm trên chó. BS Justin de Lisle đã nghiên cứu về máu cá chình tại Viện Pasteur Paris từ đầu thế kỷ 20.
Huyết thanh máu cá chình là một dung dịch trong, màu xanh lục nhạt và có phản ứng kiềm khá mạnh. Huyết thanh này có độc tính mạnh khi chích cho thỏ và gây các phản ứng như co giật, giãn nở đồng tử mắt, chảy nước bọt, hoại huyết và làm tim ngưng đập, liều gây độc được ghi nhận là 0.1 ml/5kg.
Các nhà nghiên cứu Nhật tại ĐH Tokyo đã ly trích và tinh khiết hóa được chất độc này và xác định được đây là một hợp chất phức tạp loại protein. Chất độc này gây tử vong cho chuột và cua thử nghiệm: liều LD 50 khi chích qua tĩnh mạch chuột là 670µg/kg (-1) và khi chích vào khoang thân cua là 450. Hợp chất loại protein này có phân tử lượng khoảng 100 kDa. (Protein Journal Số 27/2008)
Cá chình trong ẩm thực:
Thịt cá chình tuy không được ưa thích tại Bắc Mỹ như Hoa Kỳ, nhưng lại là món ăn đắt giá tại Âu châu và nhất là tại Nhật.
Thịt cá chình khá béo, những món ăn từ cá tươì tương đối nhiều mỡ. Phương pháp tốt nhất khi ăn cá chình tươi là lột da, rửa sạch, chặt thành khúc và nướng than hay xông khói, hoặc nấu súp, đun lửa nhỏ..
Âu châu:
Món cá chình nổi tiếng nhất tại Âu châu là món Anguilles au vert = Eel in green sauce của Bỉ: cá lột da, cắt khúc, nấu chung với hành, rượu trắng sau đó nấu với rau spinach và làm đặc bằng lòng trắng trứng..
.png)
Anguilles au vert = Eel in green sauce
Pháp có khá nhiều món như cá chình nấu theo các kiểu catigot, matelote, bouilleture, à la flamande.. Cá bột được gọi là civelles hay piballes.
Món Catigot d'Anguilles là món truyền thống của vùng Provence: Cá được nấu với rượu chát trong niêu sành.. đút lò theo kiểu..kho tộ.
.png)
Catigot d'anguilles de Martine
Một trong những món đặc sắc nhất của Restaurant Marquée mà các khách phương xa tìm đến để thưởng thức là Matelote d'anguilles, đây cũng là món mà các Tổng thống Pháp luôn luôn dùng đễ đãi các vị Nguyên thủ các Quốc gia khi đến thăm nước Pháp.
Matelote d'anguilles
Người Anh rất thích lươn elvers bột chiên giòn. Giá elvers hiện nay tại London lên đến 700 bảng Anh/kg.
.png)
Lươn elvers lăn bột chiên giòn
Người Hòa lan rất thích món Cá chình hun khói với những món nổi tiếng như Gebakken Paling "Philê cá chình chiên" (Fried fillets of eel); Gestoofde Paling met Appeltjes = Cá chình nấu với táo (cá cắt khúc, quết bơ đút lò chung với bánh mì vụn, chanh cắt miếng, ăn với khoai và táo..)
.png)
Gebakken Paling
Người Đan mạch ăn cá chình bột chiên giòn, hay trộn với trứng (Ristet roget Al med Roaeg).
.jpg)
Cá chình bột chiên giòn = Ristet roget Al med Roaeg
Món ăn từ cá chình được ưa chuộng nhất tại vùng Quebec Canada là Anguille au vin blanc (Cá chình nấu rượu nho trắng).
Matelote anguille au vin blanc = Cá chình nấu rượu nho trắng
Nhật và Á châu:
Tại Á châu, cá chình là món ăn ưa thich tại Trung Hoa, Triều tiên và nhất là Nhật. Giá cá tươi tại Hong Kong khoảng 1000 đô la HK/1kg và có khi lên đến 5000 HKD.
Người Nhật đã ăn cá chình từ thời.. thượng cổ, cá chình được xem là món ăn bổ dưỡng, rất tốt cho mắt. Được gọi là Unagi, cá chình là một món ăn 'truyền thống của Nhật.
.jpg)
Unagi
Phần lớn cá chình trên thị trường là do các trại nuôi thủy-hải sản cung cấp. Trước đây cá được nuôi trong các ao hồ nhân tạo, nhưng hiện nay được nuôi trong các bể có mái che, với các hệ thống điều hòa nhiệt độ. Phương thức ăn cá thông thường nhất là kabayaki (cá cắt khúc, xỏ que thép hay tre, quết nuớc sốt rồi nướng), hay ăn với cơm dưới dạng nabemono.
.jpg)
Kabayaki
Nhật tiêu thụ mỗi năm khoảng 100 ngàn tấn cá chình đủ loại. Thị trường kabayaki cần cá nặng trung bình cỡ 200g. Cá chình được xem là một món ăn đặc biệt dành cho các nhà đô vật sumo và các võ sĩ.
Người Trung Hoa, chế biến cá chình cầu kỳ hơn, và phân biệt lươn (thiện ngư) với cá chình (mạn lệ ngư). Cá chình được xem là lươn có vây hay lươn biển. Thịt cá chình thường được hầm chung với Hà thủ ô, hạt Sen, Nấm mèo, linh chi.. để làm thuôc trị bất lực, bổ thận. Các sách cổ Trung hoa ghi chép là Cá chình là loại cá 'trường sinh' vì sống lâu, không già, không bao giờ bắt được cá 'con' (vì chưa biết là cá chình phải di chuyển về nơi chúng sinh ra để đẻ trứng).
Cá chình trong Dược học cổ truyền:
Dược học cổ truyền Trung Hoa và Việt Nam dùng thịt và một số bộ phận của Cá chình để làm thuốc.
Cá chình được gọi là Mạn lệ ngư, cá lạc.
Thịt cá chình = Mạn lệ ngư nhục, được xem là có vị ngọt, tính bình với các tác dụng 'bổ hư luy', 'khư phong thấp', sát trùng. Thịt cá chình được dùng trị 'hư lao' nóng trong xương, phong thấp, tê đau; cước khí, phong ngứa. Trị trẻ em cam tích; phụ nữ băng lậu. Trị trĩ và ngứa lở ngoài da.
Máu cá chình = Mạn lệ ngư huyết, dùng chữa các chứng lở; dùng nhỏ mắt trong trường hợp bị đậu mùa, gây mắt mờ (?).
Xương cá chình = Mạn lệ ngư cốt, nướng cháy, nghiền thành bột, rắc vào vết thương, ghẻ lở để sát trùng..
Theo Tuệ Tĩnh (Nam dược Thần hiệu): Mạn lệ ngư- Cá lạc, vị ngọt, tính bình, không độc, công dụng trừ các chứng độc, trị phong sang, thuốc độc, sát trùng lao, chữa tê thấp đau lưng, mỏi chân.
Theo Hải thượng Lãn ông (Lĩnh nam Bản thảo):
'Mạn lệ ngư gọi là cá Lạc
Không độc, ngọt bình, trừ tật ác
Chữa thuốc độc, mụn lở, trùng lao
Lưng đau, tê thấp, chân yếu ớt
Trần Minh Quân
Tài liệu sử dụng:
- FAO Fisheries & Aquaculture- Species fact sheets : Anguilla anguilla and Anguilla japonica.
- The Oxford Companion to Food (Alan Davidson)
- Seafood - A connoisseur's guide and cookbook (A. Davidson)
- Seafood Watch: Unagi Final Report.
- Aquatic Species at Risk- The Americal Eel (COSEWIC Status Report2006)
- The Book of Eels (Tom Fort)