Trong số những món ăn đặc biệt nguồn gốc từ hải sản mà dân 'nhậu' ưa thích nhất, có lẽ phải kể đến các món từ Cua như 'Cua rang muối', 'Cua xào gừng', rồi 'Cua lột chiên bơ'.. Bên cạnh đó còn có các món đặc biệt nổi tiếng tại Miền Bắc như ' Miến cua', Nem (Chả giò) nhân Cua bể..
Với những bà nội trợ Việt Nam thì Cua, dù là Cua biển hay Cua đồng, qua bàn tay khéo léo chế biến, cũng sẽ trở thành những món ăn tuy đơn giản nhưng đượm đặc tính dân tộc mà người Việt tha phương luôn luôn mong có dịp được thưởng thức: các món Bún riêu, Canh bún, Canh cua rau đay là những món khó quên nổi.
Nông dân và dân miền quê từ Bắc đến Nam chắc chắn sẽ không bao giờ quên các món Mắm từ cua như Mắm còng, Mắm cáy, Mắm Ba khía..
Văn chương dân gian có những câu:
..Con cua lệch đệch theo hầu
Cái chày rơi xuống.. vỡ đầu.. con cua..
để mô tả việc giã cua bằng chày và còn những câu như 'Ngang như cua.. Nhát như cáy..'
Nghệ thuật nấu ăn của Phương Tây cũng có những món ăn nổi tiếng như Crabe farcie (cua phá-xí), Soupe Bouillabaisse à la Marseillaise nấu từ cua và cá theo kiểu 'hằm bà lằng' ? nhưng kỳ lạ nhất có lẽ là món Salade d'Araignée, rồi Araignée farcie, cứ tưởng là làm bằng thịt nhện (?) nhưng thật ra từ loài cua có tên là.. Spider crab!
Cua là tên để gọi chung một đại gia đình sinh vật không xương sống thuộc nhóm thân có đốt (Arthropod) được bọc bên ngoài bằng 'áo giáp' hay mai (Crustacean). Nhóm Cua thật sự hay Brachyura gồm khoảng 4500 loại có đặc tính chung là phần bụng thu hẹp, giấu toàn bộ trong phần ngực, còn phần đầu của cơ thể lại phình to ra. (Tiếng Hy lạp: Brachy = ngắn ; ura = đuôi)
Cua, tuy có liên hệ mật thiết với Tôm (Xin đọc Đặc tính Dinh dưỡng và Trị liệu của Cá và Thủy sản, Tập 1), nhưng theo tiến trình của Tiến hóa, Cua đã thay đổi để có thể bò được, đào hang và bơi lặn. Thân thể của Cua được bao bọc bởi một lớp vỏ bằng chất chitin, có thêm một lớp sáp bên ngoài. Bụng của cua, sau khi thu hẹp lại, giữ vai trò của một túi đựng trứng. Gắn vào thân của cua là 5 đôi chân, dùng để di chuyển và 2 đôi râu, dùng làm ăng-ten. Đôi chân trước được biến thành đôi càng kẹp (pincers) giữ vai trò tự vệ và kiếm ăn. Xét trên nhiều phương diện sinh học thì Cua có thể được xem là một sinh vật đủ phát triển.
Cua có thể lớn, nhỏ tùy loài: Lớn nhất như Japanese Spider crab có đôi chân rất dài, đo từ đầu càng này tới đầu càng kia được đến 3.6m và nhỏ nhất như Pea crab bề ngang chỉ vài mm, Dã tràng chỉ chừng 2cm..
Japanese Spider Crab = Cua nhện khổng lồ Nhật Bản
Cua cũng có môt hệ thần kinh tương đối phát triển và có khả năng thay đổi kiểu sống tùy theo môi trường. Khả năng này đã giúp cua có thể sinh tồn dù trong các điều kiện thật khó khăn. Khi chân cua bị kẹt hay bị kẻ thù giữ chặt, cua có thể tự cắt bỏ chân này và tái tạo lại khi thay vỏ. Thực phẩm của cua rất đa dạng: bao gồm các động vật nhỏ không xương sống khác, cá con, bùn bã hữu cơ, xác động vật hư rữa.
Con cua giương đôi mắt
Cua có mắt kép và nhìn khá tốt, các cơ quan khứu giác và vị giác khá phát triển, giúp cua tìm đúng nguồn thực phẩm và tìm cua khác phái để phối ngẫu. Có những loài Cua có cả một phương thức phối ngẫu đặc biệt bao gồm những nghi thức và kỹ thuật thông tin như quạt nước, quơ càng qua lại.. Cua đực thường chống chọi nhau và đánh nhau để dành cua cái.
Tất cả các loài cua đều được phân chia ra đực, cái rõ rệt: việc phối ngẫu thường chỉ diễn ra vào lúc cua cái ở vào trạng thái lột vỏ. Cua cái đẻ rất mạnh (3-5 triệu trứng mỗi con) Trứng được giữ trong bọc, sau đó nở thành ấu trùng, rồi trải qua vài giai đoạn biến thái trước khi trưởng thành.
Cua có thể sống được đến 12 năm. Cua phân bố rộng, có thể nơi biển, nước ngọt, và nước lợ..
Vỏ cua chứa một lượng cao cuticule. Lớp cuticule có thể ngấm các muối calcium carbonate và phosphate ở trạng thái vô định hình hay dạng tinh thể, giúp vỏ cua trở thành cứng rắn. Các diễn biến lột xác để trưởng thành của cua bao gồm giai đoạn cua mới lột có vỏ mềm do chưa ngấm muối calcium. Chất màu của vỏ cua tập trung trong lớp cuticule bên ngoài hay trong các tế bào chứa sắc tố. Thành phần chính của chất màu là một hỗn hợp carotene, gọi dưới tên chung là zoo-pigments ; ngoài ra còn có chất màu zoocyanin tạo màu xanh nơi mai cua sống. Zooerythrin do zoocyanin chuyển đổi khi cua nấu chín , mai có màu đỏ-cam.
Cua chiếm khoảng 20% tổng số lượng giáp xác biển đánh bắt và nuôi trên toàn thế giới. Mỗi năm lượng tiêu thụ lên đến 1,5 triệu tấn. Trong số lượng tiêu thụ này loài Portunus trituberculacus chiếm 1/5, các loài quan trọng khác là Portunus pelagicus.. Các loài cua Blue crab (Callinectes sapidus), Dungeness crab (Cancer magister) và Scylla serrata cung cấp mỗi năm mỗi loài khoảng 20 ngàn tấn..
Vì có đến trên 4500 loài Cua nên trong phạm vi dinh dưỡng chỉ xin trình bày về một số cua thường được dùng làm thực phẩm và cũng xin tạm chia Cua thành 3 nhóm:
1. Cua biển: Alaska King crab, Blue crab, Dungeness crab, Rock crab, Ghẹ..
2. Cua đồng
và
3. Cua nước lợ : Cáy, Còng, Ba khía..
(Một số nhà sinh học chia Cua thành 2 nhóm : Cua bơi (swimming crab) và cua sống trên cạn (land crab).
1. CUA BIỂN HAY CUA NƯỚC MẶN
Đây là nhóm cua có giá trị thực phẩm quan trọng và được khai thác nhiều nhất trên thế giới. Số lượng cao nhất tập trong tại vùng biển Bắc Thái bình dương, nhất là khu vực Biển Behring là nơi mà các loài King crab (giống Paralithodes) và Snow crab (giống Chionocetes) chiếm lượng khai thác hàng đầu. Các thịt cua này được chế biến ngay khi vừa đánh bắt, một số ít đến với giới tiêu thụ dưới dạng cua tươi.
Trong vùng phía Tây Đại Tây dương, bao gồm vùng Vịnh Mexico, và Nam Mỹ xuống đến Ba Tây loài được khai thác nhiều nhất là Blue crab. Đây là loài mà lượng đánh bắt chiếm vị trí thứ 3. Tại vùng biển Thái bình dương dọc Hoa Kỳ, loài Dungeness crab là loài thông dụng nhất. Ngược lại tại vùng biển Âu châu, loài Common crab là loài thường gặp tại các Chợ thực phẩm.
Vùng biển Việt Nam có một số loài phổ biến như Cua biển (Scylla serrata), Cua bơi, Cua hoàng đế..
* King crabs:
King crab là một nhóm cua chỉ sinh sống tại vùng nước lạnh. Trong nhóm King crab chỉ có giống Paralithodes là được khai thác thương mãi :
- Alaska King crab hay Red King Crab (Paralithodes camtschaticus):
Là loài cua khá lớn nặng đến 12kg: Đường kính của mai có thể đến 28cm, sải chân đến 1.8m. Cua có màu đỏ rượu chát. Cua phân bố trong vùng biển từ Bắc Vancouver BC đến Behring, đôi khi tại vùng biển Bắc Nhật. Càng cua khá mạnh, có thể kẹp đứt cán chổi. Thịt cua Alaska rất được ưa chuộng tại Hoa Kỳ. Cua cái có khả năng đẻ từ 50 đến 400 ngàn trứng/năm. Cua Alaska sống đến 25 năm và thời gian để đôi cua sửa soạn cho việc phối ngẫu kéo dài đến 18 ngày, chờ đợi cho đến giai đoạn lột vỏ của cua cái. Cua Alaska hiện được xem là.. quá nhiều, có thể tạo mất quân bằng sinh thái cho khu vực biển Barents : Cua được đưa vào Murmanksk Fjord trong thập niên 60 để tạo nguồn đánh bắt cho ngư phủ Nga, nhưng sau đó cua phát triển mạnh dọc ven biển Na Uy và ăn tất cả những gì chúng gặp..
Download
King crab = Paralithodes camtschaticus
- Blue King crab (Paralithodes platypus) phân bố trong vùng đảo St Matthew và Pribilof tại Alaska, nặng đến 8kg, được bán chung với loài trên, vì khi nấu chín, mai và vỏ cua cũng đổi sang màu đỏ như loài trên.
* Snow crab = Queen crab:
Tên Snow crab (Crabe des neiges, Cangrejo de las nieves) trên thị truờng bao gồm loài Chionoecetes opilio và 3 loài khác gọi là tanners crab (C. bairdi, C. tanneri và C. angulatus).
- Snow crab: Trưởng thành sớm, sống tương đối lâu và sinh sản rất mạnh.
- Chionoecetes opilio: Có mai tròn và hơi phình ra về phía cuối; chân dài và phẳng, màu nâu nhạt. Thường chỉ bắt cua đực vì cua cái nhỏ hơn khá nhiều. Cua có mai lớn chừng 12.5cm, nặng chừng 1.4kg, phân bố tại vùng biển lạnh Đại Tây dương, nơi độ sâu từ 25 đến 2500m. Thịt khá chắc và ngon, thường được bán trên thị trường dưới dạng đóng hộp và đông lạnh.
Chionoecetes opilio
Tại vùng biển Bắc Thái bình dương, loài đánh bắt là C. tanneri. Snow crab và Tanners crab tăng trưởng bằng cách lột vỏ: Khi cua còn nhỏ (mai lớn chừng 40mm), cua sẽ lột vỏ nhiều lần trong năm, nhưng khi trưởng thành mỗi năm chỉ lột vỏ một lần. Sau khi lột, mai cua sẽ ở trạng thái mềm trong từ 3-5 tháng.
Tổng số lượng đánh bắt hàng năm theo FAO lên đến gần 100 ngàn tấn (2006), Canada dẫn đầu với ..95 ngàn tấn.
* Dungeness crab: Dungeness crab; Pháp: Dormeur du Pacifique ; Tây ban nha: Buey del Pacifico (Cancer magister): Là loài thường gặp nhất suốt dọc ven biển Tây Bắc Hoa Kỳ, từ Alaska xuống đến Santa Cruz, California: Mùa khai thác bắt đầu vào tháng 12 và kéo dài cho đến tháng 8 năm sau (trong mùa 1979-80, lượng đánh bắt đạt con số kỷ lục đến 9 ngàn tấn hay 18.2 triệu pounds).
Tên cua được đặt theo địa danh thành phố Dungeness tại Tiểu bang Washington (15 miles phía Đông Port Angeles, nơi mỗi năm vào tháng 10 có Ngày Hội Cua Dungeness). Cua lớn trung bình có mai rộng chừng 20cm, nặng 1-2kg. Mai trên màu đỏ nâu, yếm dưới màu vàng nhạt. Cua sinh hoạt dưới biển sâu, các tàu đánh cua thường thả thùng và rọ để bắt cua ở độ sâu từ 9 đến 20m.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Tại Oregon, luật chỉ cho phép bắt cua đực lớn hơn 15cm, cua cái phải thả lại xuống biển (có thể phân biệt cua đực và cái bằng phần yếm: cua đực có yếm nhọn và cua cái có yếm tròn) Dungeness crab là loại cua quan trọng nhất được khai thác tại vùng phía Tây Hoa Kỳ, sản lượng trung bình khoảng 17 ngàn tấn/ năm. Năm 2004, Hoa Kỳ xuất cảng trên 380 tấn.
- Blue crab: Blue crab; Pháp: Crabe bleu, Tây ban Nha: Cangrejo azul (Callinectes sapidus): Là loài cua nổi tiếng nhất tại Hoa Kỳ. Cua phân bố dọc ven biển phía Đông Hoa Kỳ: Từ Delaware Bay xuống đến Florida, tuy nhiên phần lớn được đánh bắt tại Chesapeake Bay.
Hiện nay cua đã được di nhập vào vùng Đông của Địa Trung hải như Pháp, Tây Ban nha.. và cả tại lưu vực sông Nile (Ai cập).
Tên Callinectes = bơi lội giỏi ; sapidus = có vị ngon. Cua lớn trung bình 21cm, sống được 3 năm. Cua sinh sống nơi vùng nước cạn, thích hợp với độ sâu dưới 35m. Sản lượng đánh bắt khoảng 105 ngàn tấn (1999). Cua cũng được đưa ra thị trường dưới dạng cua lột.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
A
Atlantic blue crab
* Red crab: Tên gọi chung này gây một số nhầm lẫn vì có đến 3,4 loài cua .. được gọi là 'Red crab':
-Cancer productus: Lớn bằng cua Dungeness, sinh sống dọc bờ biển Tây Bắc Hoa Kỳ, từ Alaska xuống đến Baja, California. Cua có mai màu đỏ sậm (còn gọi là Red rock, vì thường sống dưới hốc đá).
Red rock crab
Luật Oregon không giới hạn việc bắt cua đực hay cái, độ lớn-nhỏ, nhưng giới hạn ở 24 con/ngày cho mỗi người. Thịt red rock nhỏ ngon hơn con lớn.
- Geryon quinquedens: Một loài cua trong nhóm Snow crab (chân dài) phân bố từ Nova Scotia xuống đến Cuba.
- Lithodes antarcticus hay Southern King Crab đánh bắt ngoài khơi Chile.
Download
Lithodes antarcticus or Southern King Crab
* Rock crab:
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Pacific rock crab
- Pachygrapsus crassipes, cua nhỏ cỡ 4cm, mai màu đỏ gạch sậm hoặc xanh có vằn, sống nơi hốc đá dọc bờ biển, chạy rất nhanh, ăn cá chết. Có khá nhiều tại Oregon..
Striped Shore Crab = Pachygrapsus crassipes
- Spider Crab: Pháp: Crabe araignée; Tây Ban Nha: Centolla. Loài cua này phân bố trong vùng Địa Trung hải và Bắc Đại Tây dương.
Download
Đàn cua nhện
- Maja squinado: Là loài thường gặp nhất, nổi tiếng về khả năng miên trạng, chỉ bắt đầu xuất hiện vào tháng 5 (Maja). Vỏ mai màu đỏ-cam hay nâu, có thể lớn chừng 20cm. Cua có khả năng ngụy trang rất khéo, trông giống một hòn đá, để tránh kẻ thù, có thể tự 'dán' rong rêu trên vỏ. Cua cái nhỏ hơn cua đực và có thể mang đến 75 ngàn trứng. Thịt cua khá ngon, rất được ưa chuộng tại Pháp và Tây Ban Nha.
Maja squinado
Tại vùng biển Phan Thiết Việt Nam, có loài cua 'Đỏ móng' và tại Nha Trang, Phan Rang, loài cua 'Cúm núm' thuộc nhóm Spider crab, trong Binh Thuan Today có bài mô tả loài cua này như sau: 'Nó xấu đau đớn với điểm ớn mắt đầu tiên là thân hình quái dị'.Trong khi các loài cua ghẹ thường thấy có mai dẹp thì cua đỏ móng tròn lủm bám đầy rong rêu, sần sùi trông rất bẩn. Điểm kinh dị thứ 2 là nó sở hữu 8 chiếc que dài loằng ngoằng đầy lông lá và thay vì to đùng, dũng mãnh thì 2 chiếc càng của nó bé xíu chỉ bằng 1/3 que chân..'
* Stone Crab: Đây là loài cua mà Tiểu bang Florida đã nhận là loài cua 'riêng':
Download
Stone crab
- Menippe mercenaria: Phân bố từ vùng Vịnh Texas qua đến Carolina. Mai màu đỏ-nâu sậm, có thể lớn khoảng 12.5cm. Cua có càng khá lớn (một càng lớn và một càng nhỏ). Ngư phủ, khi bắt được cua, thường chỉ bẻ lấy 2 càng, và vứt cua trở lại biển.. và sau đó càng sẽ được tái sinh. Cua sống vùi dưới đáy bùn hay trong kẽ đá. Cua đực lớn hơn cua cái và có càng to hơn. Cua cái sinh sản rất mạnh có thể đẻ tứ 160 ngàn đến 1 triệu trứng. Trên thị trường chỉ có bán càng cua, nấu chín hay đông lạnh..
Menippe mercenaria
- Cua biển Âu châu: Loài cua biển thường gặp nhất tại Âu châu được đặt tên là Common European Crab hay Edible crab (Pháp: Tourteau, Dormeur; Tây Ban Nha: Buey; Đức Taschenkrabs).
- Cancer pagurus phân bố tại các vùng biển phía Tây và Bắc Âu châu, đôi khi tại vùng Tây Địa Trung Hải. Mai lớn tối đa chừng 25-30cm, nặng đến 4kg. Mai thường có màu hồng nhạt hay đỏ nâu, đầu chóp của càng màu đen. Thịt cua từ càng màu trắng khá ngon, trong mai có thịt màu nâu, kể cả gan được xem là một món ngon đặc biệt. Số lượng đánh bắt hàng năm lên đến trên 40 ngàn tấn trong đó Anh 20 ngàn và Pháp khoảng 8 ngàn tấn.
Cancer pagurus
* Cua biển Á châu: Cua biển tại Á châu (kể cả Việt Nam) thuộc nhóm cua 'bơi' (swimming crab), họ Portunidae. Một số loài đánh bắt tại vùng biển Việt Nam như:
- Portunus pelagicus (Blue swimming crab, Flower crab), ngư phủ Việt gọi loài này là Ghẹ xanh: Cua lớn từ 15-20cm, Mai con đực xanh lam nhạt có đốm trắng, cua cái màu nâu đốm trắng, khi cua lột có thể ăn thịt toàn bộ. Đôi chân bò thứ 5 có dạng mái chèo.
Portunus pelagicus ghẹ đực&ghẹcái
- Portunus trituberculatus = Ghẹ chấm.
Portunus trituberculatus = Ghẹ chấm
- Portunus sanguinolentus: mai màu xanh-vàng có 3 khoang màu tím rất rõ.
Portunus sanguinolentus male
Portunus sanguinolentus female
- Scylla serrata (Serrated crab, Indo Pacific swamp crab, Crabe de palétuviers) hay Cua biển (Cua lụa), có thể lớn 20cm, nặng trên 2kg . Đây là loài cua có giá trị thương mãi cao tại Việt Nam. Mai thường màu nâu-đỏ nhạt hay gần như đen, càng màu đỏ sáng.
Scylla serrata
- Charybdis feriatus (Mask crab, Crucifix crab) hay Cua bơi, Ghẹ hoa: lớn 15-20cm, mai có những vết đặc biệt như vằn hay hình thập gìá.
Charybdis feriatus = Cua bơi, Ghẹ hoa
- Ranina ranina, cua Huỳnh đế hay Hoàng đế thường gặp tại vùng biển quanh đảo Phú Quý (Phan Thiết), được xem là một món đặc sản, đặc biệt khi nấu cháo.
Ranina ranina = cua Huỳnh đế hay Hoàng đế
2. CUA NƯỚC NGỌT HAY CUA ĐỒNG :
Nhóm cua này được gọi dưới các tên Freshwater crab, River crab đóng góp nhiều vào các vai trò cân bằng sinh thái, đồng thời cũng là một nguồn thực phẩm đáng kể tại các quốc gia nghèo tại Á châu như Bangladesh, Ấn độ, Thái lan, Việt Nam.. Nhóm này có các họ cua như Potamidae, Graspidae, Parathelphusidae..
Tại Việt Nam, loài Cua đồng thường gặp nhất là Somanniathelphusa sinensis sinensis thuộc họ Parathelphusidae. Cua rất phổ biến tại các khu thủy vực nước ngọt, nhất là tại các ruộng lúa. Chúng đào hang nơi bờ ruộng, xấp nước. Mùa nóng, cua thường ẩn nấp dưới gốc lúa hay dưới các đống rơm, rạ. Kích thước tương đối lớn: 30 -35mm, mai hình hộp có gờ cao; Cua cái có 4 đôi chân bụng, đẻ mỗi lần từ 100 đến 350 trứng, trứng không qua giai đoạn ấu trùng mà phát triển trực tiếp thành cua con.
Cua đồng = Somanniathelphusa sinensis sinensis
Đây là loài cua được Đông, Nam dược dùng làm thuốc dưới tên Điền giải.
Cua ra (hay cua cara), Eriocher sinensis (Chinese River crab) thuộc họ Portunidae, có lẽ là loài cua nước ngọt tại Á châu đang được chú ý nhất. Cua ra có nguồn gốc tại các vùng nước ngọt cận nhiệt đới giữa Đông Nga (Vladivostok) và Nam Trung Hoa, Triều tiên, Nhật và Đài loan. Cua du nhập vào Bắc Âu từ cuối thế kỷ 19, hiện có mặt tại Bắc Mỹ và Hawaii.
Toàn thân cua được bao bọc bởi một lớp vỏ cứng, mai màu đen-lục, bụng màu nhạt hơn, mai (hay giáp đầu) hình vuông hơi tròn: 6cm x 5.4cm. Đôi mắt có thể quay ngược. Cua có 5 đôi chân ngực, cặp chân bò thứ nhất biến đổi thành càng-kẹp, mặt ngoài của càng kẹp có nhiều lông. Cua ra tuy sinh sống nơi sông ngòi nội địa nhưng thường di chuyển ra nơi cửa sông, vùng nước đục và lợ, để giao phối và sinh sản. Cả cua đực lẫn cua cái đều chết sau khi sinh sản. Cua ẩn nấp ban ngày dưới các thực vật thủy sinh, dưới cát và chỉ ra ngoài kiếm ăn vào ban đêm. Cua trưởng thành nặng 100-200g nhưng cũng có con nặng đến 500g.
Cua ra hay cua cara = Eriocher sinensis
Cua hiện đang được nuôi tại những trại, vùng trồng lúa và ao hồ ở Trung Hoa, Triều tiên. Năm 1989, Trung Hoa thu hoạch được trên 3 ngàn tấn cua ra và phát triển nhanh đến 2003, sản lượng lên đến 368 ngàn tấn và 2004 đến 416 ngàn tấn. Nam Hàn chỉ thu hoạch khoảng trên 30 tấn (Thống kê của FAO). Ngoài ra năm 2004 Trung Hoa xuất cảng 800 tấn cua sống qua các thị trường HongKong, Nhật và Nam Hàn.
3. CUA NƯỚC LỢ (MANGROVE CRAB)
Một số loài cua sinh sống tại những vùng nước lợ nơi cửa sông, và một số loài lại còn leo bám lên cây tùy theo nước thủy triều. Tại Việt Nam có một số loài đáng chú ý như Rạm, Cáy, Còng, Ba khía..
Cua Rạm (Sesarma dehaani): Thuộc họ Cua Porunidae. Cua rạm phân bố hầu như tại khắp vùng ven biển, cửa sông Việt Nam. Cua rạm cỡ nhỏ, rộng khoảng 4.5cm. Mai cứng hình 4 cạnh. Mắt có cuống, di động. Cua có một đôi càng và 4 đôi chân bò có lông, không cứng lắm. Cua sống ở nơi đáy bùn. Ngoài vai trò dùng làm thực phẩm, Cua Rạm hay Bành Kỳ còn được dùng làm thuốc trong Đông-Nam dược..
Cua Rạm = Sesarma dehaani
Cáy (Uca): Là một loài cua nhỏ, chỉ rộng 1-2cm; mai mầu nâu-đỏ, cứng và chắc có 4 cạnh. Đôi chân bò số 5 có vuốt sắc, càng có nhiều lông. Cáy sinh sống tại các bãi bùn, làm tổ quanh chân sú vẹt, chỉ tìm ăn quanh tổ. Cáy được dùng làm thực phẩm và làm mắm..
Cáy = Uca
Tại Âu-Mỹ, Uca bao gồm một số cua nhỏ gọi là Fiddler Crab thuộc gia đình Cua Ocypodidae, có đặc tính là có một càng thật to, so với càng còn lại rất bé. Cua hay quơ càng giống như một nhạc trưởng của một ban nhạc. Tại Cadiz (Phi châu) có loài Uca tangeri sống chui dưới hang trong bùn ven biển, ngư dân bắt cua chỉ bẻ lấy cái càng lớn rồi vứt cua trở lại, chờ đến năm sau cua sẽ có càng tái sinh mới. Càng được bán tại chợ dưới tên bocas de la isla, chứa nhiều thịt khá ngon.
Rạm: Là tên gọi chung cho các loài cua biển nhỏ thuộc họ Varuminae.
- Rạm Varuna litterata: Thân nhỏ, mai rộng 20-25mm, hình 4 cạnh khá chắc. Chân bò thứ 5 có dạng vuốt. Rạm sinh sống nơi đáy bùn, có thể dùng làm thực phẩm.
Rạm Varuna litterata
- Còng: Là tên gọi chung một nhóm cua nước lợ và nước mặn thuộc các họ Grapsidae và Ocypodidae. Còng có mai rắn chắc, hai càng không đếu nhau. Chân bò thứ 5 tận cùng bằng vuốt, không bẹt như dạng bơi chèo. Còng sống vùng có đáy cát, ăn tạp. Thường được dùng làm mắm.
Con còng
* Ba khía: Là nhóm cua nước lợ Episesarma thuộc họ cua Grapsidae. Ba khía thường leo lên cây khi thủy triều lên và ở lại nơi vừa trên mực nước, do đó được gọi là Tree climbing crab. Có 3 loài ba khía chính, phân biệt bằng màu sắc của càng:
- Episesarma versicolor: Càng 2 màu tím sậm và trắng;
Violet Vinegar Crab (Episesarma versicolor) = Ba khía
- Episesarma chengtongnensis: Càng 3 màu: đỏ, nâu và trắng.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Ba khía càng 3 màu
- Episesarma singaporensis: Càng một màu đỏ.. Mai có thể lớn 4-5cm.
Ba khía càng màu đỏ
Ba khía ăn tạp có thể ăn lá cây và xác động vật hư rữa..