“ Sông
sâu nước
chảy có
nguồn /
Con sam
có cặp
theo
luồng
nước
sông /
Hỡi ai
biết cặp
con sam
/ Mình
đồng
chân sắt
mắt lại
trên
lưng /
Uống
nước
thôi cầm
chừng /
Đói no
xin nhờ
vợ ta
đừng có
theo ai
/
Ấy là
đôi cặp
con sam
/ Sam ơi
sam lội,
sam vùi
dưới sâu
/ “...
.. “ Ấy
là duyên
nợ con
sam /
Sam ơi
sam lội
cho
chồng ấm
no..”
Chuyện
văn
hóa
về Sam
:
Câu đố
dân gian:
“ Chặt
không
đứt, bứt
không
rời
Phơi
không
khô,
chụm
không
cháy..”
(là
con
gì?)
Văn
chương
bình
dân:
“Thà
rằng ăn
cá cho
cam
Lấy
khách,
con
phải
để..
cái
đuôi
sam
trên
đầu..”
(chế
giễu
kiểu
tết
tóc
thành
cái
đuôi..của
người
Hoa,
từ
thời
Nhà
Thanh....)
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Hình
:
Tóc..
đuôi
sam
Tỉnh
Châu
Đốc,
Miền Tây
Việt Nam
có ngọn
Núi Sam,
còn gọi
là Ngọc
Lãnh
Sơn, chỉ
cao
284m, có
nhiều
chùa
miếu nổi
danh như
Miếu Bà
Chúa Xứ.
Tên do
hình thù
của núi
giống
như con
Sam quay
về hướng
Tịnh
Biên..
và cũng
có thể
do ngày
xưa khi
núi còn
chìm
dưới
biển là
nơi tập
trung
sinh
sống của
Sam?
Chuyện
luật
pháp
Hoa
Kỳ
Sam,
từng
là
chủ
đề
tranh
chấp
quyền
hạn
giữa
Chính
quyền
Tiểu
bang
Virginia
và
Chính
quyền
Liên
bang
Hoa
Kỳ.
Tháng
10
năm
2000,
theo
yêu
cầu
của
Cơ
quan
National
Marine
Fisheries
Service
(NMFS),
Lực
lượng
Phòng
vệ
Duyên
hải
Mỹ
(US
Coast
Guard)
đã
gửi
chiến
hạm
đến
vùng
ven
biển
Virginia,
để
thi
hành
Luật
của
Atlantic
States
Marine
Fisheries
Commission
(Ủy
Ban
Điều
hành
Đánh
bắt
Hải
sản
Ven
Đại
Tây
Dương),
liên
quan
đến
việc
đánh
bắt
và
khai
thác
Sam
(horseshoe
crab)
mà
Tiểu
bang
Virginia
không
chịu
tuân
thủ,
Theo
luật,
ngư
dân
Virginia
có
thể
bị
phạt
đến
10
ngàn
USD,
cho
lần
vi
phạm
đầu
tiên,
dù
chỉ
bắt
một
con
sam;
khi
tái
phạm
(lần
2),
tiền
phạt
lên
đến
200
ngàn
và
10
năm
tù.
Sau
cùng,
đến
ngày
23
tháng
10
Virginia
chịu
thua
và
đành
chấp
nhận
điều
lệ
của
Liên
Bang
về
đánh
bắt
Sam.
Ngày
5 tháng
2 năm
2001, Bộ
Thương
Mại Hoa
Kỳ đã
thiết
lập một
khu vực
bảo tồn
Sam, bao
gồm 1800
dặm
vuông,
đặt dưới
quyền sở
hữu của
Chính
Phủ Liên
bang, từ
Nam
Jersey
xuống
đến gần
Ocean
City
(Maryland).
Vài
Đặc
điểm
sinh
học
:
Tên
gọi: Horseshoe
crab:
Limule,
Crabe
fer-à-cheval
(Pháp)
;
Kabutogani
(Nhật);
Tàu
:
hấu.
Tên
khoa
học: Họ
sinh
vật
Limulidae
(tên
cũ
Xiphosuridae)
gồm
3
chi,
4
loài
Chi
Limulus,
loài
duy
nhất Limulus
polyphemus.
Download
Sam biển Limulus polyphemus
Chi
Tachypleus,
2
loài
Tachypleus
gigas
và
T.
tridentatus.
Tachypleusgigas
Tachypleustridentatus
Chi
Carcinoscorpus,
1
loài Carcinoscorpius
rotundicauda.
Carcinoscorpius rotundicauda
Đặc
điểm
chung
của
Các
loài
Sam
(Đại
cương)
Trong
giới
sinh
vật
có
một
ngành
(phylum)
đặc
biệt
là Chelicerata. Đa
số
các
‘chelicerates’
sống
trên
đất
liền
như
nhện,
bọ
cạp,
mối,
rận..;
chỉ
có 2
loài
sống
nơi
biển
cả
là
Sam
và
Nhện
biển.
Sam
là
một
sinh
vật
tiền
sử
xuất
hiện
trên
trái
đất
từ
450
triệu
năm
trước,
qua
được
nhiều
đợt
gần
tuyệt
chủng
và
còn
tiếp
tục
tồn
tại
đến
nay;
con
Nhện
biển
thì
lại
kỷ
quặc
hơn
vì
chỉ
có
chân,
mà
không
có
thân!
Horseshoe Crab = Sam biển
Gia
đình
Sam
hiện
chỉ
có 4
loài:
3
loài
sống
vùng
biển
nước
mặn;
một
sống
tại
vùng
nước
lợ
nơi
cửa
sông,
rừng
ngập
mặn.
Về
phân
bố
địa
lý
có 3
loài
sống
ở
Đông
Nam
Á,
Mỹ
châu
chỉ
có
một
loài
nước
mặn
sống
tại
khu
vực
Đại
Tây
dương..
Tất
cả 4
loại Sam
đều có
cấu tạo
cơ thể (morphologie)
và sinh
học
tương tự
như nhau,
và có
một số
chi tiết
khác
nhau về
hình
dạng để
giúp
phân
biệt.
Download
Cơ
thể
:
Cơ
thể
Sam
gồm
3
phần:
Phần
đầu
gồm
cả
ngực
;
Phần
bụng
và
Phần
đuôi.
Ba
phần
này
có
khớp
liên
kết
với
nhau.
Phần
đầu-ngực
của
Sam
có: giáp,
mắt
(gồm
một
đôi
đơn
và
một
đôi
kép).
Giáp
(carapace)
bao
phủ
phần
lưng
(hay
phần
trước
của
thân
Sam) = prosoma ; và
một
phần
của opisthostoma(phần
sau
của
thân
hay
phần
bụng).
-
Prosoma có
gắn
6
đôi
‘chi'
gồm
chelicerae
(kìm
nhỏ)
và
quanh
miệng
có 5
đôi
chân
vừa
để
di
chuyển,
vừa
để
bắt
mồi.
Riêng
đôi
chân
cuối,
lớn
hơn,
được
dùng
làm
điểm
tựa
khi
Sam
đào
hố
để
đẻ
trứng.
- Opisthosomamang
6
đôi
chi,
dẹp,
trong
đó
một
đôi
là
nắp
sinh
dục
=
genital
operculum;
còn
5
đôi
có
dạng
chiếc
lá,
giữ
vai
trò
hô
hấp
và
để
bơi.
-
Đuôi là
cơ
quan
tự
vệ,
có
khả
năng
xoay
mọi
hướng,
giúp
Sam
di
chuyển
nhanh và
làm
điểm
tựa
để
Sam
lật
lại
khi
bị
té
ngửa.
Đuôi
còn
gọi
là telson,
nhọn.
(Sam
rất
hiền,
không
tấn
công
nên
đuôi
tuy
sắc
nhưng
không
dùng
làm
vũ
khí).
Sam
có
thể
tái
tạo
chân,
càng
sau
khi
bị
rụng
như
Cua.
Download
Sam biển lộn ngược
Nội
tạng Sam:
Sam
có
một
‘mề
=
gizzard'
để
tiêu
hóa
thức
ăn.
Các
men
tiêu
hóa
được
tiết
vào
một
ống
ruột
dài
do
một
bộ
phận
gọi
là
hepatopancreas.
Các
bộ
phận
bài
tiết
chất
thải
là
những
hạch
đồng
trục,
mở
ra
ngoài
tại
đáy
của
đôi
chân
thứ
tư.
Hạch
thần
kinh
chính
kết
thành
một
vòng,
bao
quanh
thực
quản.
Bộ
phận
sinh
dục
(gonads)
chiếm
gần
như
toàn
bên
trong
thân..
Sinh
học:
Sam
thường
sinh
sống
tại
vùng
ven
biển,
trong
các
vịnh
hay
đầm
nước
mặn
(ngoại
trừ
loài Sam
nước
lợ), nhất
là
nơi
tầng
đáy
có
cát
pha
bùn,
độ
sau
4-10m.
Sam
bơi
chậm
và
bò
như
cua
(do
đó
có
tên
là..
crab).
Tuy
có
thể
bơi
ngửa,
nhỏ
sức
đẩy
của
các
nắp
mang,
nhưng
Sam
thích
chui
dưới
bùn,
dùng
đuôi
và
đôi
chân
sau
cùng
đẩy
tới
phía
trước..
Sam
cái
thường
lớn
hơn
Sam
đực
khoảng
30%
Download
Sam biển
Khoảng
tháng
4
đến
tháng
8,
Sam
đực
bơi
vào
bờ,
dọc
vùng
bãi
cát,
chờ
để chặn Sam
cái.
Sam
đực
dùng
đôi
chân-hàm
để
bám
dính
vào
con
Sam
cái
không
rời (Yêu
nhau
như
đôi
vợ
chồng
Sam).
Đôi
Sam
cùng
vào
bờ,
Sam
cái
mang
con
đực
trên
lưng,
Sam
cái
dùng
chân
đào
hố,
sâu
chừng
15cm,
đẻ
vào
hố
từ
200-1000
trứng,
sau
đó
bỏ
đi.
Sam
đực
phun
tinh
trùng
vào
hố,
để
trứng
thụ
tinh. Sam
đực
'lẻ
bạn'
cũng
thường
bơi
theo
đôi
sam
và
giúp
phóng
tinh
, để
tăng
thêm
tỷ
lệ
thụ
tinh
cho
trứng.
Download
Sam biển
Thời
gian
giao
phối,
làm
ổ,
thường
diễn
ra
khi
triều
lên,
trong
khoảng
3
ngày
trước
khi
trăng
tròn
và
kéo
dài
thêm
3
ngày
sau
đó.
Trứng
Sam
lớn
chừng
1-3mm,
có
nhiều
tròng
đỏ..
Sau
khi
giao
phối,
Sam
đực
dùng
cát
lấp
trứng.
Khi
triều
xuống,
cát
nóng
sẽ
giúp
ấp
trứng..
Sau
6
tuần,
trứng
nở
thành
ấu
trùng,
cỡ
5mm,
không
có
đuôi.
Sau
khi
qua
3
giai
đoạn
phát
triển,
Sam
con
có
đuôi
dài
dần
và
trở
thành
như
Sam
trưởng
thành,
ở
dạng
thu
nhỏ.
Sau
16
lần
lột
xác,
Sam
trưởng
thành
và
đến
3
tuổi
có
thể
xác
định
được
phái
tính.
Download
Sam biển lột xác
Thức
ăn của
Sam là
các
nhuyễn
thể nhỏ,
sâu,
trùng tơ,
rong rêu.
Sam
không
lột
xác
cho
đến
khi
trưởng
thành,
nên
vỏ
thường
bị
các
sinh
vật
đeo
bám
(epibionts=sống
bên
trên)),
Loài
chính
bám
bên
ngoài
vỏ
Sam
là
các
diatoms
thuộc
các
loài
Navicula,
Skeletonema,
có
khi
còn
bị
các
sinh
vật
lớn
hơn
đeo
bám
như
sea
anemone,
sò-ốc
nhỏ
và
cả
rong,
rêu.
Sinh
vật
đeo
bám
bên
ngoài,
không
gây
tổn
hại
cho
ký
chủ
bị
bám
(neutralistic);
sống
bám
có
thể
chỉ..
nhờ
di
chuyển,
tuy
nhiên
cũng
có
thể
gây
những
thay
đổi
bên
ngoài
vỏ
của
ký
chủ.
Download
Con sam biển
Những
loài
Sam
:
1-
Sam
Đông
Nam
Á (Việt
Nam)
Tachypleus
tridentatus
Những
tên
khác: Sam đuôi
tam
giác,
Sam
Nhật,
Sam
Tàu.
Vùng
phân
bố: từ
Biển
Đỏ,
Ấn
Độ
dương
đến
Thái
bình
dương
dọc
ven
biển
Nhật
xuống
đến
Việt
Nam..
Tại
Việt
Nam,
Sam
xuất
hiện
quanh
năm
từ
Trà
Cổ (Quảng
Ninh),
Nha
Trang,
Phan
Thiết,
xuống
đến
Cần
Giờ
(Vũng
Tàu)..
Tại
Nhật,
Sam
sinh
sống
trong
vùng
biển
Seto
vào
mùa
Xuân
nhưng
‘thiên
di'
về
vùng
các
đảo
Kyushu
và
Honshu
để
giao
phối
và
đẻ
trứng.
Hình
dáng
chung
bên
ngoài
trông
giống
như
một
chiếc
mũ
sắt,
phần
mai
rất
cứng,
mình
tròn
dẹt…
Đuôi
có
gờ,
đầu
nhọn, hình
tam
giác..
Trọng
lượng
trung
bình:
Sam
cái
1.5
đến
3.5kg;
Sam
đực
1-2kg.
2-
Sam
Ấn
độ -
Thái
bình
dương
Tachypleus
gigas.
Phân
bố
tại
những
vùng
biển
nhiệt
đới
phía
Nam
và
Đông-Nam
Á
châu,
từ
Vịnh
Bengal
qua
Biển
Đông,
nhiều
nhất
tại
Ấn
Độ,
Malaysia,
Singapore,
Indonesia,
Thái,
Việt
Nam
và
Philippines.
T.
gigas
sống
tại
vùng
đáy
có
cỏ,
cát
và
bùn,
nơi
độ
sâu
đến
40m,
và
là
loài
Sam
duy
nhất,
thấy
khi
bơi
trên
mặt
đại
dương.
Có
thể
sống
tại
khu
vực
nước
lợ
có
độ
mặn
xuống
đến
15
PSU,
nhưng
trứng
chỉ
nở ở
trên
20
PSU..
Kích
cỡ
chừng
50cm
(cả
đuôi),
vỏ
rộng
chừng
26cm,
chắc
màu
xanh
lục.
Tuy
mang
tên
là
‘gigas'
(khổng
lồ)
nhưng
Sam
Ấn,Thái
lại
có
phần
nhỏ
hơn
loài T.
tridentatus (Sam
đuôi
tam
giác).
Nặng
trung
bình
1.8
đến
2kg.
Chu
kỳ
sống
của
T.
gigas
tương
đối
dài
và
thay
đổi
qua
nhiều
trạng
thái.
Trứng
nhỏ,
đường
kính
cỡ
3.7mm.
Thân
Ấu
trùng
khi
nở
có 3
thùy,
không
đuôi
lớn
chừng
8mm.
Sam
đực
trải
qua
12
lần
lột
để
trưởng
thành
về
sinh
dục;
Sam
cái
qua
13
lần
lột.
Sam
đực,
có
thể
phân
biệt
với
Sam
cái,
nhờ
đôi
càng
trước
rất
ngắn.
Đôi
sam
T.gigas
không
bao
giờ
rời
nhau,
Sam
đực
luôn
bám
dính
sam
cái!
Tại
Thái
Lan,
Sam
đực
được
gọi
là maeng
da,
tiếng
lóng
dùng
gọi
các
tay
ma
cô,
sống
bám
lưng
các
cô
gái..
bất
hạnh!
3-
Sam
Bắc
Mỹ =
Atlantic
horseshoe
crab.
American
horseshoe
crab,
Limulus
polyphemus.
(Limulus
=
askew
;
polyphemus
gốc
từ
Polyphemus,
người
khổng
lồ
một
mắt
trong
Thần
thoại
Hy
lạp,
vi
Sam
bị
hiểu
nhầm
là
chỉ
có..
một
mắt).
Loài
Sam
duy
nhất
của
vùng
Đại
Tây
dương
Bắc
Mỹ,
và
vùng
Vịnh
Mexico,
phân
bố
từ
Maine
xuống
đến
Mexico.
Chiều
dài có
thể đến
60cm,
tuy
nhiên
trung
bình Sam
đực
khoảng
36-38cm
và Sam
cái
45-48cm.
Tại Hoa
Kỳ, độ
lớn của
Sam thay
đổi dọc
theo bờ
biển
đánh bắt
từ Bắc
xuống
Nam :
Sam tại
Cape
Cod, to
nhất
60cm cả
đuôi,
nặng
4.8kg và
tại
Florida
nhỏ nhất
(đực
16cm/
cái
21cm)
4-
Sam
nước
lợ : Con
so , Mangrove
horseshoe
crab,
Round-tailed
horseshoe
crab,
Limule
à
queue
ronde..Carcinoscorpius
rotundicauda.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Phân biệt con sam và con so
Sam
đuôi
tròn
(con
So)
phân
bố
tại
vùng
biển
nhiệt
đới
Đông
Nam
Á,
Ấn
Độ,
Bangladesh
và
có
thể
gặp
cả
tại
Philippines,
Myanmar.
Sam
sống
tại
khu
vực
nước
lợ
nơi
ven
biển
và
cửa
sông,
nước
cạn,
có
đáy
bùn
pha
cát.
Kích
thước
nhỏ
nhất
trong
số 4
loài
Sam;
Con
cái
dài
trung
bình
30-32cm
(đuôi
chiếm
16-19cm);
bề
ngang
chừng
16-18cm.
Sam
đực
nhỏ
hơn
28-30cm
(đuôi
15-17cm)
và
bề
ngang
vỏ
14-15cm.
Thịt
và
trứng
có
thể
chứa
chất
độc
tetrodotoxin,
có
thể
gây
các
trường
hợp
ngộ
độc
đến
mức
tử
vong
(xem
phần
‘Nghiên
cứu
khoa
học).
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Hình :
Đuôi Sam
và đuôi
So
Dinh
dưỡng:
Thành
phần
có
thể
thay
đổi,
tùy
loài
và
tùy
nơi
đánh
bắt:
Độ
ẩm:
59,45-73.67
%
Protein
:
0.41-2.72%
;
Chất
béo
:
14.62-38.24
% ;
Carbohydrates
:
0.91-1.67%
Tro
:
2.09-9.30%
Calorie
:
134-241
tùy
phần
thịt
hay
trứng..
Sam
là
một
nguồn
cung
cấp
kynuretic
acid
(KA),
dùng
trong
thuốc
dân
gian,
như
thực
phẩm
chức
năng,
chất
chống
oxy-hóa..
T.
gigas (đánh
bắt tại
Malaysia,
chứa
nhiều
protein
thô,
chất béo,
carbohydrates
trong
phần
trứng
(roe)
hơn là
trong
phần
thịt.
Trong
‘roe' có
nhiều
khoáng
chất (K,
Ca, Na,
Fe..)
Roe cũng
chứa
nhiều
acid
amin,
quan
trọng
nhất là leucine (7.2g/100g);
Tỷ lệ
palmitic
acid
(21%),stearic
acid
(19%),
oleic
acid
(32.4%)
Nghiên
cứu
Khoa
học:
Một
số
nghiên
cứu Y-Dược về
Sam:
Sam
và
Siêu
vi
HIV:
Nghiên
cứu
tại
ĐH
Dược
Athens
(Hy
Lạp)
ghi
nhận
các
peptides
như
tachyplesin
và
polyphemusin,
trích
từ
máu
Sam,
có
các
hoạt
tính
chống
siêu
vi
HIV (Currents
topics
in
Medicinal
Chemistry
Số
13-2003).
Sam
và
Ung
thư:
-
Nghiên
cứu
tại
Khoa
Ung-bướu
Lombardi
Cancer
Center
, ĐH
Y
Khoa
Georgetown
(Washington
DC)
ghi
nhận tachyplesin,
một
peptid
kháng
sinh,
trích
từ
leukocytes
máu
Sam,
có
tác
dụng
ức
chế
sự
tăng
trưởng
của
các
tế
bào
ung
thư
tuyến
tiền
liệt.
Tachyplesin
tác
động
bằng
cách
khởi
động
các
Caspase-9,
Caspase
-8,
Caspase-3
và
một
số
ligand
Fas,
liên
hệ
đến
tiến
trình
apoptosis
(gây
tế
bào
tự
hủy)
nên
có
thể
làm
tế
bào
ung
thư
ngừng
tăng
trưởng
(Cancer
Research
Số
15-2001).
-
Nghiên
cứu
tại
ĐH
Thiên
Môn,
Phúc
Kiến,
ghi
nhận tachyplesin có
tác
động
gây
biến
đổi
cơ
cấu
của
tế
bào ung
thư
bao
tử,
loại
carcinoma
(giòng
BGC-832).
Sự
biến
đổi
này
có
thể
làm
ngừng
hay
chậm
sự
phát
triển
của
tế
bào
ung
thư (World
Journal
of
Gastroenterology
Số
6-2000).
-
Tachystatin
A:
Tachystatin
A,
một
peptid
kháng
sinh,
trích
được
từ
máu
Sam,
công
thức
được
xác
định
tại
ĐH
Hokkaido
(Nhật),
có
cơ
cấu
phân
tử
rất
giống
với
chất
độc Omega-agatoxin
IVA, ly
trích
từ
nhện
độc.Chất
độc
thuộc
loại'
chặn
kênh
calcium,
có
hoạt
tính
chống
nấm
gây
bệnh.
Các
tachystatins
A,
B, C
đều
có
hoạt
tính
kháng
sinh
chống
các
vi
khuẩn
gram
(-)
và
(+).
Tachystatin
C
được
xem
là
có
hoạt
tính
mạnh
nhất.
Các
tachystatins
kết
bám
vào
chitin.
Nghiên
cứu
tại
Thái
Lan
ghi
nhận:
Tùy
mùa
(?)
So
đánh
bắt
tại
Thái
có
thể
chứa
độc
tố
gây
ngộ
độc
(có
thể
gây
chết
người).
Trứng
So
có
chứa
tetrodotoxin
(TTX) như
trong
gan
cá
nóc,
chất
độc
này
tác
động
lên
hệ
thần
kinh
trung
ương
và
chịu
nhiệt
độ
cao
nên
không
mất
độc
tính
dù
nấu
chín. Bài
báo
cáo
ghi
nhận
71
trường
hợp
ngộ
độc
tại
Chonburi
trong
đó 2
người
thiệt
mạng
và
19
người
phải
dùng
máy
trợ
thở..
Mắt
của
Sam
đã
được
được
dùng
làm
chủ
đề
nghiên
cứu
về
thị
giác.
Giải
Nobel
Y
học
năm
1967,
được
trao
tặng
cho
BS
Keffer
Hartline
về
các
nghiên
cứu
hệ
thống
thần
kinh
thị
giác
(có
sự
đóng
góp
một
phần
do
các
khám
phá
về
mắt
của
Sam).
Trên prosoma của
Sam,
mỗi
bên
có
một mắt
kép chịu
trách
nhiệm
về
thị
giác
đơn
sắc.
Mắt
kép
này
gồm
5
mắt
đơn
phân
bố
trên
trên
vỏ
(2
median,
2
lateral
và 1
endoparietal),
và 2
mắt
đơn
khác
phía
dưới,
ngay
trước
miệng
(ventral
eyes),
có
nhiệm
vụ
định
hướng
cho
Sam
khi
bơi.
Scanning for viruses...
Add to Drive
Save to Photos
Hình:
Vị
trí
các
mắt
của
Sam
Mỗi
mắt
kép
có
khoảng
100
thụ
thể
gọi
là ommatidia,
là
những
cơ
cấu
phức
tạp
có
đến
300
tế
bào. (xem
bài
Chuồn
chuồn) Các
ommatidia
này
được
sắp
xếp
không
theo
trật
tự
nào
(như
kiểu
bình
thường
thành
6
cạnh
nơi
côn
trùng
thân
có
đốt).
Mỗi
ommatidium
liên
hệ
với
một
thần
kinh
riêng,
hơn
nữa
sợi
thần
kinh
lại
to
lớn
và
dễ
tiếp
cận
nên
các
nhà
nghiên
cứu
có
thể
đo
và
quan
sát
được
trực
tiếp
các
luồng
thần
kinh
thị
giác
khi
chịu
kích
ứng
của
ánh
sáng.
Các
nhà
nghiên
cứu
cũng
quan
sát
được
hiện
tượng
inhibition
latérale
(ngăn
cản
vùng
nhìn
bên
cạnh
của
thị
giác)'.
Các
thực
nghiệm
khác
giúp
chứng
minh là
các Sam
đực đã
dùng ánh
sáng và
cảm nhận
về hình
dáng để
tìm được
'bạn
tình' cả
ban ngày
lẫn ban
đêm..Mắt
‘bên
cạnh'
của Sam
có độ
phân
giải
hình ảnh
lên đến
40 X 25
pixels.
Nghiên
cứu
vềmáu
Sam
:
Máu
Sam
(như
máu
các
nhuyễn
thể)
có
một
protein
chứa
đồng’
hay
hemocyanin
với
nồng
độ
khoảng
50g/
lít.
Máu
các
sinh
vật
này
không
có
hồng
cầu
hemoglobin.
Hemocyanin
không
màu
khi
bị
khử
oxy,
nhưng
đổi
thành
màu
màu
xanh
lam
sẫm
khi
được
‘gắn'
oxy.
Máu
lưu
thông
trong
cơ
thể
của
chúng,
khi
sống
tại
các
môi
trường
ít
oxy,
có
màu
vàng-nhạt,
xám-trắng
nhưng
sẽ
chuyển
sang
màu
lam-sẫm
khi
chúng
tiếp
xúc
với
không
khí..
Hemocyanin
chuyển
vận
các
dịch
ngoại
bào..
Máu
Sam
chứa
loại
tế
bào
máu
đặc
biệt amebocytes,
có
vai
trò
quan
trọng
trong
việc
phòng
vệ Svam
chống
lại
các
tác
nhân
gây
bệnh
xâm
nhiễm
.
Amebocytes
chứa
các
hạt,
và
trong
hạt
có
một
yếu
tố
giúp
đông
máu coagulogen;
yếu
tố
này
được
phóng
thích
ra
ngoài
tế bào
khi
có
sự
xuất
hiện
của
các
endotoxins
do
vi
khuẩn
tiết
ra..
Sam
không có
khả năng
miễn
nhiễm
cảm thụ,
nên
coagulogen
là tác
nhân bảo
vệ Sam
chống
nhiễm
trùng.
Công
dụng
1-
Công
nghệ
sinh
học
Sam
là
một
trong
những
‘công
cụ'
quan
trọng
trong
Công
nghệ
thử
nghiệm
y
học.
Một
hoạt
chất
ly
trích
được
từ
tế
bào
amoebocytes
trong
máu
Sam,
đã
là
một
cấu
tử
quan
trọng
của TestLimulus
amebocyte
lysate
(LAL), thử
nghiệm
để
phát
hiện
và
định
lượng
các
endotoxin
vi
khuẩn
có
thể
có
trong
các
dược
phẩm
và
giúp
xác
định,
tìm
ra
một
số
bệnh
do
nhiễm
khuẩn.
Trong
thập
niên
1950s,
Frederick
Bang
và
Jack
Levin
đã
quan
sát
thấy
Protein
trong
tế
bào
máu
Sam,
đóng
cục
ngay
khi
tiếp
xúc
với
endotoxins
của
các
vi
khuẩn
như
E.
coli,
Salmonella).
Công
việc
khai
thác
nguyên
liệu
thô,
dùng
cho
Test
LAL,
liên
hệ
đến
hoạt
động
đánh
bắt
Sam
trong
thiên
nhiên
và
trích
máu
Sam.
Mỗi
năm,
riêng
tại
Hoa
Kỳ
có
trên
500
ngàn
con
Sam
bị
đánh
bắt
dọc
duyên
hải
Đại