Trần Minh Quân

 

 

NGAO (ỐC) VÒI VOI GEODUCK

 Trần Minh Quân 

 

     Nạn nhân đầu tiên trong cuộc chiến ‘tà rịp’ do TT Trump khởi xướng, theo hãng Thông tấn AP là.. Geoduck hay Ốc vòi voi..

     “Theo bản tin ngày 7 tháng 5 năm 2025 của Hãng Thông tấn AP: cuộc chiến tariff giữa Mỹ và Tàu đã gây thiệt hại lớn cho công nghiệp khai thác ốc vòi voi; làm cho 90% thợ lặn gốc thổ dân Squamish tại Washington thất nghiệp; giới xuất cảng geoduck sang Tàu tại Seattle ngồi chơi, chờ thời. Trước khi có vụ tariff, giá ốc lên đến 100 USD/pound tại các nhà hàng ăn làm món dành cho các dịp lễ lớn hoặc chiêu đãi đặc biệt. TB Washington bán sang Tàu mỗi năm cả triệu pounds geoduck..’

   Bản tin ghi thêm “ Mỹ lỗ nhưng Canada lời”.. Giá đang từ 12 USD/pound vọt lên 17 USD. Canada đánh bắt mỗi năm 2.75 triệu lbd; trị giá khoảng 43.5 triệu USD.

Geoduck theo AP

    Hai con geoducks, trình bày kèm món  sashimi vòi voi, tại Nhà hàng Chelsea Farms Oyster Bar, ở Olympia, Washington, Hình dẫn chứng của AP).

A- Vài điều tản mạn

         Ngao vòi voi (Geoduck) là loài ngao nước mặn, rất lớn, có vỏ mỏng dễ vỡ, sống vùi nơi thềm biển, dọc duyên hải Canada (British Columbia) và các Tiểu bang Tây bắc Hoa Kỳ, như  Alaska, Washington, Oregon (rất hiếm khi  bắt được).

 – Tên gọi của Ngao, Geoduck phát xuất từ thổ ngữ Lushootseed (một bộ lạc thổ dân tại Tây-Bắc Mỹ), có nghĩa là ‘vùi dưới sâu’. Danh từ này được biến đổi dần thành ‘gweduc’ rồi goeduck hay gooey duck.

   Một bài báo ‘rất xưa’ của Tờ The Tacoma Daily Ledger, phát hành tháng 7 năm 1917, kể rằng : “.. Thổ dân sinh sống trong khu vực Puget Sound, gọi tên con ngao là ‘hyas-squish-squish’.. Ông John F. Gowey, một tay săn bắn vịt trời chuyên nghiệp, trong một ngày.. không bắn được vịt.. bực tức bắn vào một tia nước, phun lên từ ngao, rồi đào bắt con ngao cho bõ tức! Con ngao có tên ’diễu’ là Gowey’s duck (!) và sau đó tên trở thành Gooey Ducks..”

   – Bộ phim Ratatouille của Công ty Disney/Pixar có nói đến món ăn “Sweetbread à la Gusteau”, trong thành phần có trứng của geoduck..

     – Trường Đại học Evergreen State College (TB Washington) chọn geoduck làm con vật biểu tượng (mascot).

Mascot Đại học Evergreen

B- Đặc điểm sinh học

       Geoduck có nguồn gốc từ vùng biển Tây-Bắc Mỹ và Canada. được xem là loài ngao hai mảnh (bivalve) biển sống vùi dưới đất lớn nhất thế giới. Con trưởng thành cân trung bình từ 0.5 đến 1.5 kg, tuy nhiên có những con nặng đến 7.5kg và có ‘vòi’ vươn dài gần 2m.

 Geoduck cũng là một sinh vật có tuổi thọ cao (trong giới động vật): Chúng có thể sống trung bình khoảng 146 tuổi, con thọ nhất sống được trên 160 tuổi. Các nhà nghiên cứu cho rằng geoduck sống được lâu là do kiểu sống ‘ẩn dật’ nên ít bị các sinh vật khác săn bắt ăn thịt. Tại Alaska, rái biển (sea otter) và cá nhám loài dogfish, là 2 loài chính ‘thích món’ geoduck, và Sao biển (starfish) cũng rất thích gặm vòi geoduck.

  Geoduck có khả năng sinh sản rất mạnh . Con cái, trong suốt đời sống, có thể sản xuất đến 5 tỷ trứng (so với con người, một phụ nữ chỉ có thể sinh sản được khoảng 500 trứng/năm). Trong mỗi mùa sinh sản, geoduck cái phóng ra chừng 1-2 triệu trứng. Trứng thụ tinh lớn chừng 0.8mm và sẽ trải qua 7 giai đoạn biến thái trước khi thành ‘sinh vật thực thụ’. Chúng tăng trưởng rất nhanh trong 10-15 năm đầu và sau đó gần như ngừng lại; vận tốc tăng trưởng thay đổi. Tại môi trường sống thích ứng, geoduck có thể tăng trưởng mỗi năm đến 30mm trong 3-4 năm đầu của đời sống.

   Geoduck có 2 phái tính riêng biệt:

– Tinh hoàn con đực ‘chín muồi’ trong các tháng 4 và 5, sẵn sàng cho mùa sinh sản trong các tháng 6 và 7. Geoduck ‘trưởng thành về sinh dục khi đến 3 tuổi và khả năng sinh tinh trùng kéo dài đến 103 tuổi (!). Con đực trưởng thành sinh dục khi khối lượng nhỏ và sớm hơn con cái..

– Geoduck cái có những buồng trứng khá lớn, chứa cả trăm triệu trứng, nhưng lại biết đẻ ‘nhín’ Một lần đẻ, chỉ phóng ra từ 1-2 triệu trứng. Trứng thụ tinh theo cột nước, treo lơ lửng trong cột. Trứng nở và trở thành ấu trùng sau 16 đến 47 ngày. Ấu trùng chuyển từ dạng ‘dissochonch’, ăn vi tảo sang giai đoạn sống tự lập trên thềm biển, dùng chân (có lông nhỏ) để di chuyển và vùi nhanh dưới cát bùn. Geoduck thường chọn những nơi triều thấp nhất để tránh bị đào bắt Geoduck hút các vi tảo, rong qua một ống hút dài, lọc để lấy riêng phần dinh dưỡng và thải chất bã qua một ống thải riêng khác nơi vòi.

    Lượng đánh bắt trong thiên nhiên giảm sút rất nhiều. Canada và Mỹ đã phải đặt ra những luật lệ và định ra mức được phép đánh bắt hàng năm, rất giới hạn.

 Để đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ gia tăng (nhất là khách.. Tàu, Nhật, riêng thị trường Mỹ hiện nay cũng tiêu thụ đến 80 triệu USD/năm), Tại Canada và Mỹ hiện có những trại thủy sản nuôi geoduck (Mỹ tập trung tại vùng Puget Sound), nuôi ấu trùng geoduck, vớt ngoài thiên nhiên, về nuôi  trong thùng nhựa PVC lớn, Thùng đặt trong vùng biển có rào, mật độ trung bình lên đến 44 ngàn thùng trong mỗi acre biển.. Thời gian thu hoạch khoảng 5-6 năm..

Hình ‘Cơ thể học’ (anatomy) của Geoduck tiêu biểu, (mẫu bắt tại Nam Hàn).

– a: hình lưng (dorsal view), ligament = giây chằng

 – b: hình ngang (lateral) perostracum = vòi
– c: bên trong của vỏ trái

 – d: bản lề

                                       Anatomy

      Vài loài geoduck thường gặp:

   Có tổng cộng 10 loài panopea được các nhà sinh vật học mô tả trong đó loài Thái bình dương là loài có giá trị kinh tế cao nhất.

.1- Panopea generosa = P. abrupta (Pacific geoduck clam)

    Phân bố từ vùng Đảo Forrester (Alaska) dọc ven biển Thái bình dương, xuống đến Vịnh Baja (California). Lớn trung bình 17-23cm, nặng 3.6kg. Con kỷ lục nặng đến 8.16 lbs, bắt năm 2000 tại Adelma Beach, Discovery Bay, TB Washington. Vỏ tuy lớn nhưng bản lề lại nhỏ, nên ngao không khép kín được để chứa nổi vòi có thể dài 0.9m; vòi chiếm ½ trọng lượng cơ thể con vật. Vỏ mỏng, bên ngoài màu xám trắng, bên trong có ánh xà cừ.  Ngao khi còn nhỏ, có chân khá phát triển, sau đó chân càng nhỏ đi, khi ngao tăng trưởng. Sống vùi dưới bùn-cát ở độ sâu 1.2 – 1.8m, có khi vươn vòi phun nước thành tia trên mặt biển..

Con geoduck 6.53 lbs bắt tại Discovery bay  (2000)

   Tại Canada, geoduck đang là một nguồn lợi kinh tế quan trọng. Trong thời gian 1996-2000, lượng đánh bắt lên đến 2 triệu pounds, trị giá 40 triệu đô la Canada..
 

2- Panopea zelandica (Deep water King Clam)

  Phân bố quanh vùng biển New Zealand; được khai thác thương mại từ 1989. Vùng Golden Bay tại South Island cung cấp được khoảng 100 tấn/năm. Lớn trung bình 6-14cm, vòi vươn dài đến 30cm; nặng 0.6kg; sống được khoảng 80 năm. Vùi dưới đất cát hay bùn ở vùng nước cạn từ 5-25m.

3- Panopea abbreviata

    Loài geoduck của khu vực Tây-Nam Đại Tây Dương, thường gặp tại Argentina.

C- Món ăn từ Ngao vòi voi..

Thành phần dinh dưỡng (theo số liệu của Underwater Harvesters Association)

100g phần thịt sống (ăn được) chứa:

* Calories                                   80

* Chất đạm                                 17g

* Chất béo tổng cộng                 0.4g

– bảo hòa                                  0.2g

– Cholesterol                            30mg

          Khoáng chất: Sắt (44mg) ; Sodium (300mg) ; Calcium (78mg).

Món ăn:

   Thị trường thương mại  thế giới cung cấp geoduck làm thực phẩm, khởi đầu vào 1970, và nhu cầu càng ngày càng gia tăng. Năm 2011, 1kg geoduck trị giá 33 USD. Giá trị thương nghiệp geoduck hiện lên đến khoảng 80 triệu USD/năm.

  Vòi geoduck được đánh giá cao do vị ngọt/mặn nhẹ, kết cấu dai nhưng giòn..

   Tại các Nhà hàng ăn hải sản, geoduck thường được giữ tươi sống trong các hồ kiếng có bơm oxygen, tùy khách lựa chọn, và cân tại chỗ trước khi .. chế biến thành các món ăn.

  Tuy nhiên vòi geoduck cũng được bán dưới dạng đông lạnh, phơi khô và giữ dưới chân không (sous-vide).

Chọn geoduck tại Restaurant

      Một thực khách Tàu đang chọn geoduck tại Nhà hàng ăn hải sản ở Sakya, HaiNam.

   Geoduck, tươi sống, nếu không nuôi trong hồ, có thể quấn trong vải ướt, và giữ nơi lạnh nhất trong tủ lạnh được 2-3 ngày.

  Vòi geoduck thường màu beige nhạt, nhưng trên thực tế màu của vòi không ảnh hưởng đến phẩm chất của phần thịt bên trong vòi. Khi chế biến geoduck, cần loại bỏ phần nội tạng như bao tử (màu sậm, to bằng quả trứng gà).

     Muốn bóc bỏ phần da cứng bên ngoài vòi, có thể để vòi dưới dòng nước nóng-ấm đến khi da phồng lên, dễ lột và lớp thịt màu kem nhạt bên trong lộ ra. Rửa sạch lại và loại bỏ các sắc tố nâu sậm, là có thể chế biến được. Cần chú ý là thịt geoduck khi nấu chín sẽ trở thành cứng và dai, rất nhanh; muốn giữ vị ngọt, nên cắt lát thật mỏng và nhúng sôi trước khi ăn. (kiểu ‘bò tái nhúng giấm’).

* Tại Nhật, Geoduck khá thông dụng  Các Nhà hàng Sushi, có tên là Mirugai; Thực đơn ghi món Nigiri (chú thích là giant clam, jumbo clam hay long neck clam). Nigiri cũng bán tại Nhà hàng Nhật ở Hoa Kỳ. Geoduck, xắt mỏng chấm soy sauce, (sashimi), có thêm wasabi tăng vị.

               Geoduck sashimi

* Tại HongKong, Taiwan.. Geoduck thường nấu cháo, nhúng lẩu, chiên đảo với sốt XO.

Tên Tàu của geoduck là Xiang Bá Bàng (xìang = tượng; bá = vòi; bàng = ngao). Geoduck được xem là món ăn tráng dương, kích thích ham muốn tình dục, do hình dáng giống bộ phận sinh dục Nam.

             Geoduck stir-fry kiểu Tàu

Vấn để ‘gây’ ngộ độc khi ăn?

   Khác với các loài ngao-sò khác, có thể gây ngộ độc khi ăn sống hay chưa nấu chín đủ. Trên nguyên tắc geoduck là loài ăn vi tảo có chứa những vi khuẩn đáng ngại. Trong nội tạng geoduck có nhiều vi khuẩn có thể gây ra PSP (paralytic shellfish poisoning), nhưng lại rất ít vi khuẩn này tìm thấy được trong phần vòi và cổ.. nên các Cơ quan Y tế chỉ khuyến cáo nên loại bỏ nội tạng..

    Tại Hong Kong, tháng 5-2005 (!) có một trường hợp, một người 62 tuổi có tiền sử xơ gan, ngộ độc vi khuẩn Psychrobacter phenylpyruvicus, sau khi ăn geoduck tươi; các triệu chứng ngộ độc gồm nóng sốt và tiêu chảy, được trị lành bằng kháng sinh. Đây là trường hợp đầu tiên ngộ độc do vi khuẩn psychrobacter trên thế giới  được ghi nhận (Journal of Infection Số 52-2006).

                               Trần minh Quân 5-2025

Ghi chú: Tại Âu châu, Canada.. có loài razor clam (couteau de mer), hình dạng giống lưỡi dao thợ cạo (thợ hớt tóc) là loài ngao-sò khác hẳn, tuy có vòi nhưng rất ngắn nằm gọn bên trong thân 2 vỏ khép kín (không vươn ra ngoài như ngao vòi voi). Xin mời đọc bài Razor clam..)

                    Couteau de mer..

 

Trần Minh Quân

 

 

 

 

Trở Về Trang Chính