|
|
Sá Sùng
Trần Minh Quân
Sá sùng là tên gọi chung cho một
nhóm động vật biển có hình dạng như những
con giun đất sống dưới cát nơi bãi biển ở
những vùng triều và dưới triều tại tầng đáy.
Tên sá sùng do từ tên Trung Hoa ‘Sa trùng’ =
con sâu cát.
Tại Việt Nam, sá sùng được xếp vào
loại ‘đặc sản’ chỉ có tại một số nhà hàng ăn
uống ở những tỉnh ven biển và không phải lúc
nào cũng có. Sá sùng cũng được quảng cáo là
có lợi cho ‘sức khoẻ’, là thuốc bổ… kể cả
‘tráng dương’? Sá sùng khô được dùng để nấu
nước phở cho thêm vị ngọt?
Sá sùng, tuy có thể là một tên
xa lạ với đa số người Việt, nhưng trên
thực tế với tên Anh ngữ Sipuncula=
Peanut Worms là một hải sinh có mặt hầu
như tại khắp nơi trên thế giới và đã
được các nhà khoa học thuộc nhiều ngành
khác nhau như sinh vật, sinh hoá, dược
học.. nghiên cứu từ hàng chục năm gần
đây.
Ngành sinh vật Sipuncula gồm khoảng
gần 400 loài, phân bố tại tất cả những vùng
biển nước ấm và cả nước lạnh, ở mọi độ sâu
từ những vùng triều thấp cho đến nơi sâu
6,800m. Có những loài sống vùi dưới cát,
dưới bùn, nơi kẽ đá, sống ẩn trong vỏ ốc đã
bị vứt bỏ, trong hang ống và có cả loài sống
bám vào đá, vào xương động vật…, sống bám
vào những tảng rong biển.
Sá sùng có hình dạng bên ngoài như
một con giun đất, với điểm đặc biệt nhất để
nhận diện là miệng, được bao quanh bằng 18
đến 24 xúc tu (râu tua nhận cảm giác), tất
cả đều có thể lộn vào bên trong cơ thể.
Đường tiêu hóa nối liền phần miệng với phần
hậu của cơ thể trước khi soắn ngược lại và
kết thúc bẳng hậu môn nằm trên phần lưng của
cơ thể gần cạnh nơi vòi. Thân sá sùng giống
như một khúc xúc xích thuôn dài, không có
đốt, không ngăn vách và đối xứng (có thể
chia thân thành 2 phần giống y như nhau qua
một trục theo đường dọc). Thân có những cơ
vòng và cơ dọc xếp thành lớp. Màu của thân,
tùy loài, có thể từ màu nâu, xám và có khi
có những đốm nhỏ màu xanh lục hay tím hồng
và dài thường khoảng 10cm, cá biệt đến 30cm.
Đa số sá sùng có khả năng co rút cơ thể lại,
cuộn tròn giống như một hạt đậu khi bị đe
dọa, và chúng tránh ánh sáng bằng cách rút
nhanh vào các kẽ đá hay chui xuống cát. Sá
sùng di chuyển tới phía trước bằng cách lộn
vòi, miệng vào trong và co thắt thân; chúng
ít khi bơi lội nhưng có thể bơi bằng cách
cong queo thân theo mọi hướng. Râu tua có
thể ‘tự tạo’ thành râu mới khi bị mất. Sá
sùng không có hệ tuần hoàn máu: Trong cơ thể
có một chất lỏng để vận chuyển oxygen và các
chất dinh dưỡng.
Sá sùng tại Hoa Kỳ:
Tại Hoa Kỳ, tên gọi chung cho các
loài Sipuncula là Peanut Worms. Chúng
có mặt tại những vùng biển dọc 2 bên Thái
Bình Dương và Đại Tây Dương.
Sipuncula được chia thành 3 nhóm:
- Hermit Sipunculan (như
Phascolian strombus) sống ẩn trong
các vỏ ốc, sò.
.png)
- Rock-Boring Sipunculan (như
Themiste alutacea) sống bám vào đá,
san hô.
Themiste chỉ
dài chừng 2cm, khi bị bóc khỏi đá
chúng co người cuộn lại thành dạng
một trái lê nhỏ màu hồng-xám.
-
Borrowing Sipunculan (như Sipunculus
nudus), sống vùi dưới cát. Mẫu
đào được trong vùng Vịnh Balboa khi
co lại dài 3cm, đường kính 1.2cm.
Sá sùng tại Việt Nam:
Tại Việt Nam, sá sùng tập trung
tại những vùng bãi cát pha bùn trong khu
vực Vịnh Bắc Việt (Minh Châu, Quản Lạn,
Đông Linh..) vùng Nha Trang (Cửa Bé, hòn
Rùa, Bích Đầm), Cam Ranh và Côn Đảo.
Chúng sống phần lớn trong khu vực
‘triều’ giữa, mật độ tùy thuộc vào thành
phần chất nơi tầng đáy và độ cao của bãi
triều.
Hai loài sá sùng chính thuộc chi
Sipunculus được ghi nhận:
Sipunculus
nudus: Sá sùng nhỏ, dài khoảng
10cm, nặng 10-12g (trọng lượng gồm
cả cát nằm trong cơ thể), thân thon
tròn hình ống, mầu hồng nhạt. Phần
giữa thân có 30 sợi cơ dọc bao quanh,
phần vòi thu hẹp so với phần thân.
Miệng nằm tại chót cùng của vòi, có
nhiều xúc tu bao quanh; trực tràng
và hậu môn cũng nằm gần vòi. Rất
linh hoạt, vùi xuống cát rất nhanh.
Sipunculus
robustus: Sá sùng chuối (?), lớn
hơn, thân màu nâu nhạt, có thể nặng
đến 80-90g, số cơ dọc nơi thân ít
hơn, dưới 30 sợi. Hoạt động chậm hơn
loài trên.
.png)
Tại các vùng biển có sá sùng,
việc đi tìm bắt các sinh vật này đã trở
thành một ‘nghề truyền thống’ dành cho
các phụ nữ (như tại các đảo Vân Đồn,
Quản Lạn tỉnh Quảng Ninh). Nghề bắt sá
sùng được xem là rất nặng nhọc: ‘Họ lầm
lũi vác cái mai vừa dài, vừa nặng, tay
sách rỏ, chân đi ủng, mặt mũi bịt kín và
đi dọc bãi cát dài rộng trong nhiều giờ.
Chốc lại phóng chiếc mai cùng với chân
dậm trên mai nhanh nhẹn hất cát và nhẹ
nhàng thò tay bắt sá sùng không tiếng
động..’ và bí quyết để tìm bắt sá sùng
được tiết lộ rất đơn giản như sau: ‘Ban
đêm, khi nước lên, sá sùng ngoi lên tìm
thức ăn quanh miệng hang, đến sáng khi
nước rút lại thụt xuống để lại vết ngoằn
nghèo trên cát. Muốn đào chúng phải đi
sớm, lúc đó dấu vết chưa bị xóa và sá
sùng chưa rút sâu xuống cát..’ Sá sùng
rút càng sâu khi nắng lên cao: Nếu sáng
sớm chỉ cần đào từ 10-20 cm, thì đến gần
trưa phải đào đến 60-70 cm. Trung bình
một ngày đào bắt từ khoảng 5 giờ sáng
đến gần trưa một phụ nữ có thể bắt được
từ 0.5 đến 1kg sá sùng, bán cho người
mua với giá 2-3 USD/kg.
Giá trị dinh dưỡng và các nghiên cứu
khoa học:
Về phương diện dinh dưỡng, một
số nghiên cứu tại Trung Hoa và Việt Nam
ghi nhận sá sùng chứa nhiều chất đạm
(protein) trong đó có đến 18 loại acid
amin, kể cả những acid amin cần thiết
cho cơ thể và nhiều khoáng chất, gồm cả
một số yếu tố vi lượng.
Một số kết quả phân chất cho thấy:
Trong sá sùng khô có khoảng 10.3
% acid amin tự do gồm glycin (3.2%),
alanin (2.5%), glutamic acid (0.25%),
succinic acid (0.35%) (là những acid
amin tạo vị ngọt cho sá sùng).
Trong số các acid amin khác còn
có Taurin (3.2%), Gamma-aminobutyric
acid, serine, aspartic acid..
Khoáng chất (1.2%). Các nghiên
cứu tại Việt Nam và Trung Hoa cho thấy
thành phần khoáng chất trong cơ thể sá
sùng tùy thuộc vào điều kiện của cát và
đất bồi tại vùng bãi biển nơi sá sùng
sinh sống. Riêng sá sùng trong vùng
Quảng Ninh chứa (theo ppm=1 phần triệu):
Sắt (441), Manganese (3.7), Nickel
(4.7), Chrom (10.1), Đồng (1.8), Kẽm
(21.9), Cadmium (0.3)..
Nghiên cứu
tại Đại Học Nông Nghiệp Quảng Châu
ghi nhận khi thủy giải sá sùng bằng
men papain, sẽ lấy được một hỗn hợp
chứa rất nhiều oligopeptid (60.60%)
và nhiều khoáng chất như P, Fe, Mg,
Mn, Zn, Cu và Se.. Oligopeptid được
cấu tạo bằng các acid amin, bao gồm
những acid amin cần thiết cho cơ thể.
Hỗn hợp này có hoạt tính chống oxy
hóa rất mạnh khi thử bằng 1,2,3
phentriol.(Journal of Food Science
and Biotechnology Số 03-2007).
Một nghiên
cứu khác ghi nhận khả năng chống lão
hóa của dịch chiết sá sùng bằng nước
muối, sau đó thu chất trầm lắng bằng
alcohol và thử trên chuột và ruồi
drosophilia: Thời gian sống của
chuột gia tăng rõ rệt khi cho ăn
thực phẩm trộn thêm dịch chiết sá
sùng; thời gian sống cùa drosophilia
cũng kéo dài hơn khi thêm nồng độ
0.156% dịch chiết vào thực đơn.
Nghiên cứu tại ĐH Hải Dương Học,
Thanh-Đảo (Trung Hoa) về thành phần của sá
sùng: Ly trích sá sùng bằng methanol đã lấy
được 4 hợp chất gồm cholesterol, stearic
acid, cyclo-(L-Pro-L-Ala) và Thymidine
(Chinese Journal of Marine Drugs Số
05-2008).
Hoạt tính trên Hệ Miễn Nhiễm của
chuột của các polysaccharides ly trích từ sá
sùng đã được nghiên cứu tại ĐH Hải Dương Học
Quảng Đông ghi nhận các polysac charides thô
này có khả năng giúp chống lại sự giảm trọng
lượng của các tuyến thymus và của lá lách
gây ra bởi cyclophosphamide, đồng thời bảo
vệ được chuột chống lại tình trạng
leucocytopenia, cải thiện được các hoạt động
thực bào. (Journal of Guangdong Ocean
University Số 04-2007).
Khả năng tự chữa lành vết thương
của Sipinculus nudus đã được nghiên cứu tại
Viện Mô Học và Phôi Thai Học, ĐH Palermo (Ý)
ghi nhận một số tiến trình hoạt động của các
tế bào hạt (granulocytes) loại I và loại II
để tạo ra sự khép kín vết thương. Giai đoạn
đầu tiến diễn ra sau 24 giờ liên hệ đến hoạt
động của loại I và sau 70 giờ là của tế bào
loại 2. Các nghiên cứu này giúp tìm hiểu
thêm về các hoạt động của tế bào cơ thể khi
bị thương và khả năng dùng các cytokines
trích từ sá sùng để giúp làm vết thương mau
lành (ISJ Số 2-2005)
Vài công dụng của sá sùng:
Các loài sá sùng, nhất là những
loài thuộc chi Sipunculus được dùng tại
Âu Mỹ làm mồi câu để câu hay dụ cá và
tại một số nơi ở Á Châu để làm thực phẩm.
Trong thiên nhiên, sá sùng là nguồn thực
phẩm cho nhiều loài cá khác nhau.
Sá
sùng được bán trên thị trường ‘mồi câu’ dưới
các tên titas, tatas, bibi. Các quốc gia Âu
châu nhập nhiều sá sùng từ Trung Hoa và Việt
Nam.
– Sá sùng dùng làm thực phẩm và làm
thuốc:
Trung Hoa: Người Trung
Hoa vùng ven biển có nhiều món ăn tứ sá
sùng. Sá sùng có những tên điạ phương
như Tu-sun Thổ duẫn= Earth bamboo worm;
vùng Quảng Đông, Quảng Tây và Hải Nam
gọi sá sùng là ‘Bắc Hải Sa trùng’ (Beihai
shachung): Tại Hạ Môn (Phúc Kiến) có món
ăn thổ duẩn đống = Sá sùng nấu đông (Sipunculan
worm jelly): sá sùng đun lửa nhỏ theo
kiểu ‘um’ như um lươn và sau đó để tự
đông dưới dạng jelly.
Sá sùng nấu đông (Sipunculan worm jelly)
Việt Nam: Tại Việt Nam,
sá sùng là một món ăn được xếp vào loại
‘đặc sản’, với nhiều đặc tính bổ dưỡng
và trị bệnh. Sá sùng được tiêu thụ dưới
dạng tươi tại nơi địa phương đánh bắt và
có thể được chế biến thành nhiều dạng
khác như phơi khô, làm mắm..
Dược học cổ truyền Việt Nam cho rằng
sá sùng có vị mặn, tính mát với các tác dụng:
– ‘Bổ Dương’ như bổ thận, tráng
dương, ích tinh.
– ‘ Thanh Nhiệt’: tư Âm, giáng Hỏa.
– Thanh Phế, kiện Tỳ..
Sá sùng được dùng làm thuốc bổ, chữa
các chứng yếu sinh lý, liệt dương. Sá sùng
khô nấu cháo giúp tăng sữa cho các bà mẹ cho
con bú; trị suyễn.
Một phương thuốc, đúng hơn là
một món ăn, đặc biệt được phổ biến là
‘Sá sùng hấp lá Dâm dương hoắc’ gồm sá
sùng tươi (200gram), lá Dâm Dương Hoắc
(50 gram), Hẹ (50g), Mè (20g). Lá dâm
dương hoắc được xếp dưới đáy nồi, đổ
nước cho ngập rồi để xửng hấp lên trên.
Sá sùng, mè và hẹ được trộn đều xếp lên
xửng. Hấp trong 15 phút… Phương thuốc
được xem là có tác dụng bổ thận, dưỡng
tinh, nuôi huyết, tráng dương dùng trị
liệt dương, yếu sinh lý.
.png)
Về phương diện ẩm thực, sá sùng tại
vùng biển Quảng Ninh (nơi đảo Vân Đồn, Móng
Cáy) được dân ‘ăn nhậu’ cho là ngon nhất. Sá
sùng mới đào bắt về được rửa sạch bằng nước
muối, rồi dùng đầu đũa lộn từ trong ra ngoài
để lấy bỏ sạch ruột và chà xát kỹ cho hết
cát rồi mới chế biến thành các dạng tươi hay
khô. Theo những ‘chuyên viên’ mua bán sá
sùng thì: "Sá sùng tươi phải được chế biến
đúng cách thì thịt mới dòn ngọt và không
tanh, còn sá sùng rang khô làm sao phải
phồng lên như chiếc đũa thơm, vàng như màu
cánh gián, ăn thấy ngọt, ngậy và bùi, không
bị sạn cát..".
Cũng theo giới sành ăn thì sá sùng
khô cũng chia thành nhiều hạng: ngon nhất là
loại mình dầy, thân đều màu trắng ngà, sạch
có mùi thơm đặc biệt; loại có màu xanh nhạt,
có đốm hay chấm, nhỏ vụn là loại đã bị mốc
để lâu; riêng loại thân mỏng màu trắng trong,
không mùi là loại sá sùng Trung Hoa dùng làm
mồi câu, được tẩy trắng để đưa ra thị trường
(?).
Cũng tại vùng biển Bắc Việt Nam, sá
sùng được dùng để nấu nướng thay cho bột
ngọt (MSG) (‘một con sá sùng bằng một
thùng..mì chính = tên gọi của MSG tại miền
Bắc). Một trong những ‘bí quyết’ của một số
nhà hàng Phở và Bún tại miền Bắc VN khi nấu
nước dùng (nước lèo) là dùng thêm một lượng
nhỏ sá sùng khô (khoảng 0.5kg cho một nồi
30-40l), rang chín thêm vào với các nguyên
liệu khác như xương ống, hoa hồi, gừng nướng..
Riêng tại Hoa Kỳ, ở Austin (Texas), có tiệm
Phở Sài Gòn trên đường Lamar, trong Khu
Austin Chinatown Center, được ghi nhận theo
MyWifeWise.com là trong nước phở có sá sùng?
Sá sùng có thể dùng tươi,
thường chỉ ngay tại địa phương vì chúng
không thể sống quá 2 ngày, bằng cách xào
với tỏi, lá lốt. Sá sùng tươi, nướng
trên bếp than được giới ‘nhậu’ cho là
ngọt hơn mực. Sá sùng ‘xào chua ngọt’ là
một món ‘đặc biệt’ tại các nhà hàng vùng
Nha Trang, Cam Ranh.
Sá
sùng ‘xào chua ngọt’
Trần Minh Quân
|
|
|