Trần Minh Quân

 


Giá trị dinh dưỡng và trị liệu của thịt và mỡ Đà điểu Emu

                                                     Trần Minh Quân

               

 

 

         Lục địa Úc châu cho đến nay vẫn còn tương đối xa lạ với những sinh vật và cây cỏ không tìm thấy tại các nơi khác trên thế giới như kanguru, koala, platypus..Trong số các sinh vật có thể dùng làm thực phẩm, với những tên lạ lùng như Balmain bug (một loài tôm  giống như tôm hùm), Barramundi (cá nước ngọt).. nhưng nổi tiếng nhất có lẽ là kanguru, cá sấu và một loài chim lạ: đà điểu emu. Emu hiện nổi tiếng không chỉ vì thịt khá ngon nhưng còn vì mỡ có một số dược tính đáng chú ý..


      Emu có một vị trí trang trọng trong Huyền thoại của thổ dân Úc: Thổ dân Yuwaalaraay tại vùng NSW tin rằng Mặt trời được tạo ra bằng cách ném một quả trứng emu lên không. Người Kurdaitcha tại Trung Úc đi dép làm bằng lông emu để dấu vết chân của mình. Trong ngôn ngữ của nhiều nhóm thổ dân Úc hình ảnh của một emu khổng lồ còn in vết trêm môt chùm sao của giải ngân hà..

      Emu, tuy không chính thức, nhưng đang được xem là một loại chim biểu tượng cho nước Úc (như chim kiwi, biểu tượng của Tân tây lan). Hình ảnh của Emu được vẽ bên cạnh một chú kanguru đỏ trên tấm khiên Quốc gia (Coat of arms) của Úc và cả trong đồng tiền 50 xu. Nhiều tem thơ của Úc cũng dùng hình ảnh của emu. Tại Úc có đến trên 600 nơi, như núi, hồ, sông suối và thành phố được đặt tên là Emu. Trong những thế kỷ 19 và 20, rất nhiều công ty và sản phẩm gia dụng tại Úc đã dùng Emu làm thương hiệu: Công ty Swan Brewery hiện đang sản xuất nhiều loại bia tên Emu..

Vài đặc tính sinh học:


      Emu, tên khoa học Dromaius novaehollandiae thuộc họ chim Casuariidae là một loài chim không bay được (ratite), lớn nhất trong các loài chim có nguốn gốc tại Úc.

     Danh từ ratite dùng để gọi chung một nhóm chim to, không bay được, đa số đã bị tuyệt chủng, hiện chỉ vài loài còn tồn tại như Đà điểu Phi châu=Ostrich, có thể cao đến 3m, nặng trên 160 kg, chạy nhanh hơn cả ngựa; đà điểu emu; chim cassowary ở Úc; chim rhea Nam Mỹ lớn đến 1.5m, nặng 20-25 kg; và chim kiwi đặc biệt của Tân tây Lan, chỉ to bằng gà.
                          

       

      Tại Úc, trước khi các di dân từ Âu châu đến định cư, có đến 3 loài emu, nhưng 2 loài emu nhỏ Dromaius baudinianus và D. ater đã bị tuyệt diệt, hiện chỉ còn D. novaehallandiae. Con số chim thay đổi theo thập niên, tùy theo lượng nước mưa trong vùng, được ước lượng hiện nay từ 600 đến 700 ngàn con (khoảng 100-200 ngàn trong vùng Tây Úc)

      Emu là một loài chim to lớn, có thể cao từ 1.5 đến 2m, độ cao đến vai có thể đến từ 1m - 1.3m. và nặng trung bình 18-48kg. Emu có đôi cánh rất nhỏ, cổ vươn dài và đôi chân cao. Emu có khả năng chạy nhanh đến 48 km/giờ do ở những bắp thịt hông rất mạnh. Chân chỉ có 3 móng xếp thành hình 3 cạnh, thích hợp với việc di chuyển, chạy như chân của chim cút (Đà điểu Ostrich chỉ có 2 móng).
                   

                

    Cổ emu dài, vươn cao, màu xanh lam nhạt và chỉ có lông lốm đốm. Lông thân màu xám-nâu hay nâu, đầu và gốc màu đen.

    Emu kêu khá to, tiếng kêu có thể vang xa đến 2km. Tiếng phát ra từ một túi hơi nơi cổ, vách mỏng dài đến 30cm.

    Emu thuộc loài chim kiếm ăn ban ngày, chúng ăn đủ loại thực phẩm từ cây cỏ tùy theo mùa, đến côn trùng kể cào cào cào, dế và các sâu nhỏ như kiến, mối.. Để giúp tiêu hóa các thức ăn từ cây cỏ, mề emu cần có sỏi và đá nhỏ (các viên sỏi tìm được trong mề có thể nặng đến 45g).

    Emu "cặp đôi" trong những tháng hè (tại Úc, mùa hè là các tháng 12 và tháng 1), và đi chung với nhau trong khoảng 5 tháng. Mùa giao phối là các tháng 5 và 6. Trong mùa này, chim đực có những thay đổi về kích thích tố, lượng testosterone và luteinizing hormone gia tăng, khối lượng dịch hoàn tăng gấp đôi. Con đực bớt ăn và lo xây tổ làm bằng vỏ cây, cỏ và cành cùng lá cây. Đôi chim giao phối mỗi ngày hay cách ngày. Chim mái đẻ trứng, mỗi 2 hay 3 ngày một trứng, đẻ trung bình 11 trứng (có thể đẻ đến 20 trứng) trong một lứa. Trứng to, vỏ dày, màu xanh lục xậm, lớn trung bình 134mm x 89mm, nặng 700-900 gram.
 

                             

                                                  Trứng đà điểu

     Emu đực lo việc ấp trứng, bắt đầu ngay khi con mái bắt đầu đẻ không chờ đến khi hết lứa và con đực bắt đầu ngưng việc ăn uống, tiêu-tiểu, chỉ đứng dậy khi đảo trứng, mỗi ngày chừng 10 lần. Sau 8 tuần ấp, chim đực sẽ mất đi 1/3 trọng lượng cơ thể và chỉ sống được nhờ các chất béo tồn trữ và sương buổi sáng hứng từ tổ.
 

                                

Chim mái không "chung tình", tuy cặp đôi từ đầu, nhưng ngay khi chim đực bắt đầu ấp, chim mái đã 'cặp' ngay với con đực khác, do đó những chim con trong một lứa đẻ-ấp có thể "cùng mẹ nhưng khác cha". Emu mái có thể đẻ mỗi năm 3 lứa.
 

                                 

    Thời gian ấp kéo dài khoảng 56 ngày và chim đực sẽ ngưng ấp vài ngày trước khi chim nở. Chim con rất năng động và rời ổ vài ngày sau khi nở: cao chừng 12cm, nặng chừng 0.5kg, lông màu nâu có những sọc màu kem dọc theo thân. Chim 'cha' ở lại để chăn chim con trong 7 tháng, bảo vệ và dạy chim con cách kiếm ăn; chim con lớn rất nhanh và đạt mức tăng trưởng chỉ sau 5-6 tháng, chúng có thể ở lại với bầy thêm 6 tháng rồi sẽ tách riêng. Trong thiên nhiên, emu có thể sống được từ 10 đến 20 tuổi, và chim bắt về nuôi, sống lâu hơn..
                                 

                     

                           

                               
 

Giá trị dinh dưỡng của thịt Emu và so sánh với vài loại thịt khác.

100 gram thịt Emu chứa:


   Loại thịt                       Emu           Bò           Gà tây

- Chất đạm (g)                  28.4          25.0            27.4

- Chất béo (g)                   4.7            16.4             13.2
 
- Cholesterol (mg)             87            81               102

- Calories (kcal)                164           255             235
                               
- Sodium (mg)                   65             70              107  

- Potassium (mg)               375           312             270

- Sắt (mg)                           5.0            2.4              1.9

- Đồng (mg)                      0.24           0.09            0.09

- Magnesium (mg)            28.7           21.0             24.0

- Manganese (mg)            0.030          0.016          0.020

- Phosphorus (mg)             269            160             196

- Selenium (mcg)                  44             19           37

- Kẽm (mg)                           4.6            5.4          2.9

- Folic acid (mcg)                    9              9             7

- Vitamin B12 (mcg)               8.5            2.0         0.33

- Vitamin B6 (mg)                 0.83           0.27        0.39

- Thiamin (mg)                        0.32           0.06          0.05

- Niacin (mg)                            8.9            4.7         4.8

- Riboflavin (mg)                     0.55           0.26          0.17

      (Các số liệu về thịt Emu do University of Wisconsin-Madison, June,2000 Alternative Meat Study, funded by USDA;  Số liệu về thịt bò và gà tây trích từ  USDA Nutrient Database for Standard Reference)

      Khi xét về phương diện dinh dưỡng, thịt emu được xếp vào loại thịt đỏ,  do màu của thịt và độ pH tương tự như thịt bò, có hương vị đặc biệt, chứa nhiều chất đạm. Thịt được xem là nạc chỉ chứa khoảng 3 % mỡ béo, nhiều sắt và vitamin B12, đồng thời ít cholesterol và cung cấp lượng calories khá thấp, do đó được Hiệp hội Tim Hoa Kỳ xếp vào loại thực phẩm tốt cho sức khỏe tim-mạch có thể dùng thay cho thịt bò.

      Ngoài ra, emu khi được nuôi tại các trại hoang dã ăn các thực phẩm không chứa các chất kháng sinh và kích thích tố (như gà nuôi trong chuồng).

                           

                                                    Thịt đà điểu

Thành phần chất béo trong thịt emu:

100 gram thịt chứa:


- Chất béo bão hòa                           0.06g

- Chât béo chưa bão hòa mono         0.7g

- Chất béo chưa bão hòa poly           0.4g

     Thịt emu đã một thực phẩm từ lâu đời của thổ dân bản địa và những di dân từ Âu châu đến Úc. Emu bắt đầu được nuôi tại các nông trại Úc từ 1987 trong mục đích thương mãi và giết thịt từ 1990. Tại Úc, công nghiệp nuôi emu dựa trên chim sinh sản từ các chim nuôi sẵn; luật Liên bang Úc đòi hỏi phải bảo vệ chim hoang. Tại Bắc Mỹ, emu được nuôi rất quy mô nhất là tại Hoa Kỳ (khoảng trên 1 triệu con được nuôi tại Hoa Kỳ), và tại Trung Hoa, Peru). Theo USDA, Emu hiện được nuôi tại 43 Tiểu bang, trong khoảng 10 ngàn trại tư nhân, riêng Texas có trên 3000 trại. Emu sinh sản mạnh, được nuôi trong các trại rất rộng có rào cao 6-8 feet, nuôi thả để tránh bị các bệnh về chân và đường ruột; cho ăn ngũ cốc, hạt và cỏ; bị giết thịt sau 50-70 tuần. (Cũng theo USDA, tại Hoa Kỳ cũng có các trại nuôi Đà điểu Phi châu=Ostrich, con số chim lên đến 100 ngàn con và đà điểu rhea, khoảng 15 ngàn con) Các phần thịt được ưa chuộng nhất là thịt đùi và thịt bắp, thịt băm vụn và xúc xích. Thịt emu tương đối mềm nên rất thích hợp khi nướng, chiên và đảo theo kiểu lúc lắc, vả thịt có phần nạc nên đừng nấu nướng quá chín, nhiệt độ tốt nhất là 145 độ F (medium rare) hay 160 độ (medium), nên chiên-nấu thịt nghiền vụn ở 160 độ F.

     Trứng emu: Trứng emu hiện được xem là một món ăn 'lạ', nên thử qua cho biết. Trứng khá to nặng trung bình 450 đến 800 gram (1.5 lbs), to gấp trứng gà từ 10-12 lần, vỏ ngoài màu xanh lá cây Trứng khá giàu chất dinh dưỡng, chứa khoảng 68% acid béo chưa bảo hòa và 8 trong 10 acid amin căn bản, trong đó có nhiều lysine là một acid amin cần để cơ thể tạo bắp thịt, giúp hấp thu calcium, và tổng hợp các kích thích tố, enzym và kháng thể.. Trong trứng emu khoảng 55% là tròng trắng và 44 % tròng đỏ (so với trứng gà, 65% tròng trắng và 35% tròng đỏ)

                    

                                      Trứng đà điểu

Dược tính và vài cách sử dụng Dầu emu:

     Thổ dân Úc đã dùng dầu emu làm thuốc trị bệnh từ hàng chục thế kỷ trước. Dầu được trích bằng cách hứng từ những mảnh da emu treo trên cây cao hay đơn giản hơn là quấn một mảnh da, hay đắp da vào vết thương, phơi dưới nắng để sức nóng mặt trời làm tan mỡ và dầu sẽ ngấm vào vết thương. Tại Úc, dầu emu còn được gọi là kalaya oi.

     Dầu emu được dùng, thoa bên ngoài, để trị các bệnh sưng đau bắp thịt, các chứng đau khớp xương, và một số bệnh ngoài da khác như phỏng, chàm (eczema) và cả vẩy nến (psoriasis) cùng thấp khớp. Dầu còn được quảng cáo là giúp mau lành da, xóa vết thẹo, chữa được da nứt gây chín mé, bồi dưỡng móng tay, trị vết nhăn nơi da mặt, nuôi tóc, bảo vệ da chống tác hại của tia nắng.. giúp bớt khó chịu khi bị trĩ, giảm bớt ngứa..

     Dầu cũng được dùng để nấu nướng, và dùng uống (dạng viên nang) để giúp cải thiện nồng độ cholesterol trong máu, làm nguồn cung cấp các acid béo loại omega 3 và 6, làm thành phần trong các sản phẩm giúp giảm cân, trong thuốc trị ho và cảm lạnh. Dầu emu (7 %) dùng chung với glycolic acid (10 %) trong một sản phẩm giúp hạ cholesterol, triglycerides và LDL, ngừa dị ứng..(Sản phẩm được cầu chứng năm 1995 do Công ty Elf Resources Inc tại New Rochelle, New York)

     Tổ hợp sản xuất và tinh chế dầu emu: Emu Producers Internatio nal Cooperative (EPIC) sản xuất mỗi ngày đến 5000 pounds dầu emu để dùng trong công nghiệp mỹ phẩm, trong thành phần của kem thoa mắt, chất tạo ẩm và các mỹ phẩm về tóc..

     Hiện nay chưa có những nghiên cứu hóa học sâu rộng về dầu emu tuy nhiên theo International Emu Oil Standards thì dầu emu chứa các acid béo như myristic, palmitic, palmitoleic, stearic, oleic, elaidic, linoleic, linolenic và eicosenic trong đó thành phần chính là oleic. Dầu chứa khoảng 70% acid béo chưa bão hoà, trong đó acid linoleic (Omega-6) chiếm 20% và acid linoleic (Omega-3) chiếm 1-2%.

Nghiên cứu dược học:


     Các thử nghiệm trên thú vật: Hoạt tính chống sưng của 5 thành phẩm làm từ dầu emu đã được thử nghiệm trên chuột Winstar. Dầu được trích từ emu sống tại những môi trường sống khác nhau. Chuột thử nghiệm bị gây sưng xương khớp bằng một hỗn hợp M. tuberculosis pha trong squalane. Dấu hiệu sưng viêm được đo nơi chân sau của chuột trong những ngày 10 và 14. Chuột được thoa hỗn hợp dầu emu số lượng 2 ml/kg vào những ngày từ 10 đến 13. Kết quả ghi nhận 3 loại dầu làm giảm rõ rệt đường kính khối sưng nơi chân chuột, và hoạt tính chống sưng của 2 loại dầu có thể so sánh với tác dụng của Ibuprofen cho uống với liều 40mg/kg (Inflammopharmacology Số 5-1997)
 

                         

                               Produits d'huile d'autruche

     Một thử nghiệm tương tự, theo dõi các số liệu trong 24 tháng liên tục cũng xác định các hoạt tính chống sưng (Inflammo pharmacology Số 6-1998)

                                     

                                                    Dầu đà điểu

     Trong một nghiên cứu khác về hoạt tính của thuốc thoa emu so sánh giữa thuốc lotion 100% dầu emu với furasin, polysporin, thuốc mỡ hydrocortisone 1%, đối chứng với không dùng thuốc mỡ, trên sự hư hại da nơi chuột sau khi giải phẫu. Sáu ngày sau khi mổ, độ co lại của vết mổ và sự di chuyển của các mô tế bào hạt được đánh giá. Kết quả ghi nhận thuốc thoa 100% dầu emu giúp sự co vết mổ và các chuyển vận tế bào giúp lành vết thương tăng lên gấp 2 lần (Plastic Reconstruction Surgery Số 102-1998).

     Thoa dầu emu giúp giảm độ sưng và phù nơi tai chuột bị gây sưng bằng dầu croton, khi so sánh với chuột đối chứng (Lipids Số 38-2003).

                                 

     Một thử nghiệm thực hiện tại Trung tâm Y khoa ĐH Boston cho thấy dầu emu tinh khiết có thể giúp làm trẻ hóa da và tạo đảo nghịch rụng tóc. Chuột thoa dầu emu, so sánh với thoa dầu bắp, có số lượng tế bào da mới tăng thêm 30% mà số lượng nang tóc trong trạng thái 'miên trạng' cũng gia tăng.

                           

     Thử nghiệm lâm sàng: Dầu emu được định giá để dùng làm thuốc bôi trơn và xóa thẹo nơi các vết phỏng. 10 nam bệnh nhân, tuổi từ 24-62, được thử và theo dõi trong 6 tháng. Bệnh nhân có thể thoa dầu emu, đối chứng với thuốc vờ (placebo). Kết quả ghi nhận vết thương thoa bằng dầu emu lành nhanh và tốt hơn. Kết quả được trình bày trong buổi họp thường niên tại Chicago của American Burn Association, ngày 18-21 tháng 3 1998.

                                   

                       Crème Gel Bio à l'Huile d'Autruche Pommade Rhumatismes.


 

                                            Trần Minh Quân

Tài liệu sử dụng:


The Review of Natural Product 5th Ed (Facts & Comparisons)

Natural Medicines Comprehensive Database (Pharmacist's Letter)

Các tài liệu của American Emu Association.


 

 

 

Trở Về Trang Chính