|
Giá
trị dinh dưỡng và trị liệu
của thịt và mỡ Đà điểu Emu
Lục địa Úc
châu cho đến nay vẫn
còn tương đối xa lạ
với những sinh vật
và cây cỏ không tìm
thấy tại các nơi
khác trên thế giới
như kanguru, koala,
platypus..Trong số
các sinh vật có thể
dùng làm thực phẩm,
với những tên lạ
lùng như Balmain bug
(một loài tôm giống
như tôm hùm),
Barramundi (cá nước
ngọt).. nhưng nổi
tiếng nhất có lẽ là
kanguru, cá sấu và
một loài chim lạ: đà
điểu emu. Emu hiện
nổi tiếng không chỉ
vì thịt khá ngon
nhưng còn vì mỡ có
một số dược tính
đáng chú ý..
Emu có một vị trí
trang trọng trong Huyền
thoại của thổ dân Úc:
Thổ dân Yuwaalaraay tại
vùng NSW tin rằng Mặt
trời được tạo ra bằng
cách ném một quả trứng
emu lên không. Người
Kurdaitcha tại Trung Úc
đi dép làm bằng lông emu
để dấu vết chân của mình.
Trong ngôn ngữ của nhiều
nhóm thổ dân Úc hình ảnh
của một emu khổng lồ còn
in vết trêm môt chùm sao
của giải ngân hà..
Emu, tuy không
chính thức, nhưng đang
được xem là một loại
chim biểu tượng cho nước
Úc (như chim kiwi, biểu
tượng của Tân tây lan).
Hình ảnh của Emu được vẽ
bên cạnh một chú kanguru
đỏ trên tấm khiên Quốc
gia (Coat of arms) của
Úc và cả trong đồng tiền
50 xu. Nhiều tem thơ của
Úc cũng dùng hình ảnh
của emu. Tại Úc có đến
trên 600 nơi, như núi,
hồ, sông suối và thành
phố được đặt tên là Emu.
Trong những thế kỷ 19 và
20, rất nhiều công ty và
sản phẩm gia dụng tại Úc
đã dùng Emu làm thương
hiệu: Công ty Swan
Brewery hiện đang sản
xuất nhiều loại bia tên
Emu..
Vài đặc tính sinh học:
Emu, tên khoa học Dromaius
novaehollandiae thuộc
họ chim Casuariidae là
một loài chim không bay
được (ratite), lớn nhất
trong các loài chim có
nguốn gốc tại Úc.
Danh từ ratite dùng
để gọi chung một nhóm
chim to, không bay được,
đa số đã bị tuyệt chủng,
hiện chỉ vài loài còn
tồn tại như Đà điểu Phi
châu=Ostrich, có thể cao
đến 3m, nặng trên 160
kg, chạy nhanh hơn cả
ngựa; đà điểu emu; chim
cassowary ở Úc; chim
rhea Nam Mỹ lớn đến
1.5m, nặng 20-25 kg; và
chim kiwi đặc biệt của
Tân tây Lan, chỉ to bằng
gà.
Tại Úc, trước khi
các di dân từ Âu châu
đến định cư, có đến 3
loài emu, nhưng 2 loài
emu nhỏ Dromaius
baudinianus và D. ater
đã bị tuyệt diệt, hiện
chỉ còn D.
novaehallandiae. Con số
chim thay đổi theo thập
niên, tùy theo lượng
nước mưa trong vùng,
được ước lượng hiện nay
từ 600 đến 700 ngàn con
(khoảng 100-200 ngàn
trong vùng Tây Úc)
Emu là một loài
chim to lớn, có thể cao
từ 1.5 đến 2m, độ cao
đến vai có thể đến từ 1m
- 1.3m. và nặng trung
bình 18-48kg. Emu có đôi
cánh rất nhỏ, cổ vươn
dài và đôi chân cao. Emu
có khả năng chạy nhanh
đến 48 km/giờ do ở những
bắp thịt hông rất mạnh.
Chân chỉ có 3 móng xếp
thành hình 3 cạnh, thích
hợp với việc di chuyển,
chạy như chân của chim
cút (Đà điểu Ostrich chỉ
có 2 móng).
Cổ
emu dài, vươn cao, màu
xanh lam nhạt và chỉ có
lông lốm đốm. Lông thân
màu xám-nâu hay nâu, đầu
và gốc màu đen.
Emu kêu khá to,
tiếng kêu có thể vang xa
đến 2km. Tiếng phát ra
từ một túi hơi nơi cổ,
vách mỏng dài đến 30cm.
Emu thuộc loài chim
kiếm ăn ban ngày, chúng
ăn đủ loại thực phẩm từ
cây cỏ tùy theo mùa, đến
côn trùng kể cào cào cào,
dế và các sâu nhỏ như
kiến, mối.. Để giúp tiêu
hóa các thức ăn từ cây
cỏ, mề emu cần có sỏi và
đá nhỏ (các viên sỏi tìm
được trong mề có thể
nặng đến 45g).
Emu "cặp đôi" trong
những tháng hè (tại
Úc, mùa hè là các
tháng 12 và tháng
1), và đi chung với
nhau trong khoảng 5
tháng. Mùa giao phối
là các tháng 5 và 6.
Trong mùa này, chim
đực có những thay
đổi về kích thích tố,
lượng testosterone
và luteinizing
hormone gia tăng,
khối lượng dịch hoàn
tăng gấp đôi. Con
đực bớt ăn và lo xây
tổ làm bằng vỏ cây,
cỏ và cành cùng lá
cây. Đôi chim giao
phối mỗi ngày hay
cách ngày. Chim mái
đẻ trứng, mỗi 2 hay
3 ngày một trứng, đẻ
trung bình 11 trứng
(có thể đẻ đến 20
trứng) trong một lứa.
Trứng to, vỏ dày,
màu xanh lục xậm,
lớn trung bình 134mm
x 89mm, nặng 700-900
gram.

Emu đực lo việc ấp
trứng, bắt đầu ngay
khi con mái bắt đầu
đẻ không chờ đến khi
hết lứa và con đực
bắt đầu ngưng việc
ăn uống, tiêu-tiểu,
chỉ đứng dậy khi đảo
trứng, mỗi ngày
chừng 10 lần. Sau 8
tuần ấp, chim đực sẽ
mất đi 1/3 trọng
lượng cơ thể và chỉ
sống được nhờ các
chất béo tồn trữ và
sương buổi sáng hứng
từ tổ.
Chim
mái không "chung
tình", tuy cặp đôi
từ đầu, nhưng ngay
khi chim đực bắt đầu
ấp, chim mái đã 'cặp'
ngay với con đực
khác, do đó những
chim con trong một
lứa đẻ-ấp có thể "cùng
mẹ nhưng khác cha".
Emu mái có thể đẻ
mỗi năm 3 lứa.

Thời gian ấp kéo dài
khoảng 56 ngày và chim
đực sẽ ngưng ấp vài ngày
trước khi chim nở. Chim
con rất năng động và rời
ổ vài ngày sau khi nở:
cao chừng 12cm, nặng
chừng 0.5kg, lông màu
nâu có những sọc màu kem
dọc theo thân. Chim
'cha' ở lại để chăn chim
con trong 7 tháng, bảo
vệ và dạy chim con cách
kiếm ăn; chim con lớn
rất nhanh và đạt mức
tăng trưởng chỉ sau 5-6
tháng, chúng có thể ở
lại với bầy thêm 6 tháng
rồi sẽ tách riêng. Trong
thiên nhiên, emu có thể
sống được từ 10 đến 20
tuổi, và chim bắt về
nuôi, sống lâu hơn..
Giá
trị dinh dưỡng của thịt
Emu và so sánh với vài
loại thịt khác.
100 gram thịt Emu chứa:
Loại thịt
Emu Bò
Gà tây
- Chất đạm
(g)
28.4
25.0 27.4
- Chất béo
(g)
4.7
16.4 13.2
- Cholesterol
(mg)
87
81 102
- Calories
(kcal)
164
255 235
- Sodium
(mg)
65
70 107
- Potassium
(mg)
375
312 270
- Sắt
(mg)
5.0
2.4 1.9
- Đồng
(mg)
0.24
0.09 0.09
- Magnesium
(mg)
28.7
21.0 24.0
- Manganese
(mg)
0.030
0.016 0.020
- Phosphorus
(mg)
269
160 196
- Selenium
(mcg)
44
19 37
- Kẽm
(mg)
4.6
5.4 2.9
- Folic acid
(mcg)
9
9 7
- Vitamin B12
(mcg)
8.5
2.0 0.33
- Vitamin B6
(mg)
0.83
0.27 0.39
- Thiamin
(mg)
0.32
0.06 0.05
- Niacin
(mg)
8.9
4.7 4.8
- Riboflavin
(mg)
0.55
0.26 0.17
(Các số liệu về
thịt Emu do University
of Wisconsin-Madison,
June,2000 Alternative
Meat Study, funded by
USDA; Số liệu về thịt
bò và gà tây trích từ
USDA Nutrient Database
for Standard Reference)
Khi xét về phương
diện dinh dưỡng, thịt
emu được xếp vào loại
thịt đỏ, do màu của
thịt và độ pH tương tự
như thịt bò, có hương vị
đặc biệt, chứa nhiều
chất đạm. Thịt được xem
là nạc chỉ chứa khoảng 3
% mỡ béo, nhiều sắt và
vitamin B12, đồng thời
ít cholesterol và cung
cấp lượng calories khá
thấp, do đó được Hiệp
hội Tim Hoa Kỳ xếp vào
loại thực phẩm tốt cho
sức khỏe tim-mạch có thể
dùng thay cho thịt bò.
Ngoài ra, emu khi
được nuôi tại các
trại hoang dã ăn các
thực phẩm không chứa
các chất kháng sinh
và kích thích tố (như
gà nuôi trong chuồng).

Thành
phần chất béo trong thịt
emu:
100 gram thịt chứa:
- Chất béo bão hòa
0.06g
- Chât béo chưa bão hòa
mono 0.7g
- Chất béo chưa bão hòa
poly 0.4g
Thịt emu đã
một thực phẩm từ lâu đời
của thổ dân bản địa và
những di dân từ Âu châu
đến Úc. Emu bắt đầu được
nuôi tại các nông trại
Úc từ 1987 trong mục
đích thương mãi và giết
thịt từ 1990. Tại Úc,
công nghiệp nuôi emu dựa
trên chim sinh sản từ
các chim nuôi sẵn; luật
Liên bang Úc đòi hỏi
phải bảo vệ chim hoang.
Tại Bắc Mỹ, emu được
nuôi rất quy mô nhất là
tại Hoa Kỳ (khoảng trên
1 triệu con được nuôi
tại Hoa Kỳ), và tại
Trung Hoa, Peru). Theo
USDA, Emu hiện được nuôi
tại 43 Tiểu bang, trong
khoảng 10 ngàn trại tư
nhân, riêng Texas có
trên 3000 trại. Emu sinh
sản mạnh, được nuôi
trong các trại rất rộng
có rào cao 6-8 feet,
nuôi thả để tránh bị các
bệnh về chân và đường
ruột; cho ăn ngũ cốc,
hạt và cỏ; bị giết thịt
sau 50-70 tuần. (Cũng
theo USDA, tại Hoa Kỳ
cũng có các trại nuôi Đà
điểu Phi châu=Ostrich,
con số chim lên đến 100
ngàn con và đà điểu
rhea, khoảng 15 ngàn
con) Các phần thịt được
ưa chuộng nhất là thịt
đùi và thịt bắp, thịt
băm vụn và xúc xích.
Thịt emu tương đối mềm
nên rất thích hợp khi
nướng, chiên và đảo theo
kiểu lúc lắc, vả thịt có
phần nạc nên đừng nấu
nướng quá chín, nhiệt độ
tốt nhất là 145 độ F
(medium rare) hay 160 độ
(medium), nên chiên-nấu
thịt nghiền vụn ở 160 độ
F.
Trứng emu: Trứng
emu hiện được xem là một
món ăn 'lạ', nên thử qua
cho biết. Trứng khá to
nặng trung bình 450 đến
800 gram (1.5 lbs), to
gấp trứng gà từ 10-12
lần, vỏ ngoài màu xanh
lá cây Trứng khá giàu
chất dinh dưỡng, chứa
khoảng 68% acid béo chưa
bảo hòa và 8 trong 10
acid amin căn bản, trong
đó có nhiều lysine là
một acid amin cần để cơ
thể tạo bắp thịt, giúp
hấp thu calcium, và tổng
hợp các kích thích tố,
enzym và kháng thể..
Trong trứng emu khoảng
55% là tròng trắng và 44
% tròng đỏ (so với trứng
gà, 65% tròng trắng và
35% tròng đỏ)

Dược
tính và vài cách sử dụng
Dầu emu:
Thổ dân Úc đã dùng
dầu emu làm thuốc trị
bệnh từ hàng chục thế kỷ
trước. Dầu được trích
bằng cách hứng từ những
mảnh da emu treo trên
cây cao hay đơn giản hơn
là quấn một mảnh da, hay
đắp da vào vết thương,
phơi dưới nắng để sức
nóng mặt trời làm tan mỡ
và dầu sẽ ngấm vào vết
thương. Tại Úc, dầu emu
còn được gọi là kalaya
oi.
Dầu emu được dùng,
thoa bên ngoài, để trị
các bệnh sưng đau bắp
thịt, các chứng đau khớp
xương, và một số bệnh
ngoài da khác như phỏng,
chàm (eczema) và cả vẩy
nến (psoriasis) cùng
thấp khớp. Dầu còn được
quảng cáo là giúp mau
lành da, xóa vết thẹo,
chữa được da nứt gây
chín mé, bồi dưỡng móng
tay, trị vết nhăn nơi da
mặt, nuôi tóc, bảo vệ da
chống tác hại của tia
nắng.. giúp bớt khó chịu
khi bị trĩ, giảm bớt
ngứa..
Dầu cũng được dùng
để nấu nướng, và dùng
uống (dạng viên nang) để
giúp cải thiện nồng độ
cholesterol trong máu,
làm nguồn cung cấp các
acid béo loại omega 3 và
6, làm thành phần trong
các sản phẩm giúp giảm
cân, trong thuốc trị ho
và cảm lạnh. Dầu emu (7
%) dùng chung với
glycolic acid (10 %)
trong một sản phẩm giúp
hạ cholesterol,
triglycerides và LDL,
ngừa dị ứng..(Sản phẩm
được cầu chứng năm 1995
do Công ty Elf Resources
Inc tại New Rochelle,
New York)
Tổ hợp sản xuất và
tinh chế dầu emu: Emu
Producers Internatio nal
Cooperative (EPIC) sản
xuất mỗi ngày đến 5000
pounds dầu emu để dùng
trong công nghiệp mỹ
phẩm, trong thành phần
của kem thoa mắt, chất
tạo ẩm và các mỹ phẩm về
tóc..
Hiện nay chưa có
những nghiên cứu hóa học
sâu rộng về dầu emu tuy
nhiên theo International
Emu Oil Standards thì
dầu emu chứa các acid
béo như myristic,
palmitic, palmitoleic,
stearic, oleic, elaidic,
linoleic, linolenic và
eicosenic trong đó thành
phần chính là oleic. Dầu
chứa khoảng 70% acid béo
chưa bão hoà, trong đó
acid linoleic (Omega-6)
chiếm 20% và acid
linoleic (Omega-3) chiếm
1-2%.
Nghiên cứu dược học:
Các thử nghiệm
trên thú vật: Hoạt
tính chống sưng của 5
thành phẩm làm từ dầu
emu đã được thử nghiệm
trên chuột Winstar. Dầu
được trích từ emu sống
tại những môi trường
sống khác nhau. Chuột
thử nghiệm bị gây sưng
xương khớp bằng một hỗn
hợp M. tuberculosis pha
trong squalane. Dấu hiệu
sưng viêm được đo nơi
chân sau của chuột trong
những ngày 10 và 14.
Chuột được thoa hỗn hợp
dầu emu số lượng 2 ml/kg
vào những ngày từ 10 đến
13. Kết quả ghi nhận 3
loại dầu làm giảm rõ rệt
đường kính khối sưng nơi
chân chuột, và hoạt tính
chống sưng của 2 loại
dầu có thể so sánh với
tác dụng của Ibuprofen
cho uống với liều
40mg/kg (Inflammopharmacology
Số 5-1997)

Produits
d'huile d'autruche
Một thử nghiệm tương
tự, theo dõi các số
liệu trong 24 tháng
liên tục cũng xác
định các hoạt tính
chống sưng (Inflammo
pharmacology Số
6-1998)
Trong một nghiên cứu
khác về hoạt tính
của thuốc thoa emu
so sánh giữa thuốc
lotion 100% dầu emu
với furasin,
polysporin, thuốc mỡ
hydrocortisone 1%,
đối chứng với không
dùng thuốc mỡ, trên
sự hư hại da nơi
chuột sau khi giải
phẫu. Sáu ngày sau
khi mổ, độ co lại
của vết mổ và sự di
chuyển của các mô tế
bào hạt được đánh
giá. Kết quả ghi
nhận thuốc thoa 100%
dầu emu giúp sự co
vết mổ và các chuyển
vận tế bào giúp lành
vết thương tăng lên
gấp 2 lần (Plastic
Reconstruction
Surgery Số
102-1998).
Thoa
dầu emu giúp giảm độ
sưng và phù nơi tai
chuột bị gây sưng bằng
dầu croton, khi so sánh
với chuột đối chứng
(Lipids Số 38-2003).

Một thử nghiệm thực
hiện tại Trung tâm Y
khoa ĐH Boston cho
thấy dầu emu tinh
khiết có thể giúp
làm trẻ hóa da và
tạo đảo nghịch rụng
tóc. Chuột thoa dầu
emu, so sánh với
thoa dầu bắp, có số
lượng tế bào da mới
tăng thêm 30% mà số
lượng nang tóc trong
trạng thái 'miên
trạng' cũng gia tăng.

Thử nghiệm lâm sàng:
Dầu emu được định
giá để dùng làm
thuốc bôi trơn và
xóa thẹo nơi các vết
phỏng. 10 nam bệnh
nhân, tuổi từ 24-62,
được thử và theo dõi
trong 6 tháng. Bệnh
nhân có thể thoa dầu
emu, đối chứng với
thuốc vờ (placebo).
Kết quả ghi nhận vết
thương thoa bằng dầu
emu lành nhanh và
tốt hơn. Kết quả
được trình bày trong
buổi họp thường niên
tại Chicago của
American Burn
Association, ngày
18-21 tháng 3 1998.

Crème
Gel Bio à l'Huile
d'Autruche Pommade
Rhumatismes.
Trần Minh Quân
Tài liệu sử dụng:
The Review of Natural
Product 5th Ed (Facts &
Comparisons)
Natural Medicines
Comprehensive Database
(Pharmacist's Letter)
Các tài liệu của
American Emu
Association.
|
|
|